Tình hình kinh tế - xã hội tháng 01 năm 2026 thành phố Hải Phòng
TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI THÁNG 01 NĂM 2026
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ
1. Hoạt động tài chính, ngân hàng
1.1 Tài chính
Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn lũy kế đến ngày 22/01/2026 ước đạt 12.899 tỷ đồng, bằng 6,6% dự toán Trung ương và Hội đồng nhân dân thành phố giao, trong đó: thu từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 4.987 tỷ đồng, bằng 5,9% dự toán Trung ương và Hội đồng nhân dân thành phố giao; thu nội địa đạt 7.901 tỷ đồng, bằng 7,7% dự toán Trung ương và Hội đồng nhân dân thành phố giao; trong đó thu tiền sử dụng đất đạt 500 tỷ đồng, bằng 1,4% dự toán Trung ương và Hội đồng nhân dân thành phố giao.
Tổng chi ngân sách địa phương thực hiện đến ngày 22/01/2026 ước đạt 2.235 tỷ đồng, bằng 2,5% dự toán trung ương giao và bằng 2,5% dự toán Hội đồng nhân dân thành phố giao, trong đó: chi đầu tư phát triển đạt 2.178 tỷ đồng, bằng 5,6% so với kế hoạch vốn Thủ tướng Chính phủ giao và bằng 5,6% so với kế hoạch vốn Hội đồng nhân dân thành phố giao (38.806 tỷ đồng); chi thường xuyên ước đạt 56,9 tỷ đồng, bằng 0,13% dự toán Trung ương và Hội đồng nhân dân thành phố giao.
1.2 Ngân hàng
* Công tác huy động vốn
Tổng nguồn vốn huy động trên địa bàn ước thực hiện đến 31/01/2026 đạt 652.521 tỷ đồng, bằng 100,51% so với cuối năm 2025.
Theo loại tiền: Huy động bằng VND ước đạt 612.332 tỷ đồng, bằng 100,53% so với cuối năm 2025, chiếm tỷ trọng 93,84%; ngoại tệ (quy đổi VND) ước đạt 35.597 tỷ đồng, bằng 100,23% so với cuối năm 2025, chiếm tỷ trọng 5,46%.
Theo hình thức huy động: Huy động tiền gửi tiết kiệm ước đạt 400.931 tỷ đồng, bằng 100,73% so với cuối năm 2025, chiếm tỷ trọng 61,44%; tiền gửi thanh toán ước đạt 246.997 tỷ đồng, bằng 100,16% so với cuối năm 2025, chiếm tỷ trọng 37,86%; phát hành giấy tờ có giá ước đạt 4.593 tỷ đồng, bằng 100,51%, chiếm tỷ trọng 0,70%.
* Công tác tín dụng
Tổng dư nợ cho vay đến 31/01/2026 ước đạt 511.335 tỷ đồng, tăng 0,73% so với cuối năm 2025.
Cơ cấu dư nợ theo loại tiền: Cho vay bằng VND ước đạt 495.021 tỷ đồng, bằng 100,33% so với cuối năm 2025, chiếm tỷ trọng 96,81%. Cho vay ngoại tệ (quy đổi VND) ước đạt 16.314 tỷ đồng, bằng 114,80% so với cuối năm 2025, chiếm tỷ trọng 3,19%.
Cơ cấu dư nợ phân theo thời hạn vay: Cho vay ngắn hạn ước đạt 287.756 tỷ đồng, bằng 100,40% so với cuối năm 2025, chiếm tỷ trọng 55,83%; cho vay trung, dài hạn ước đạt 223.579 tỷ đồng, bằng 101,16% so với cuối năm 2025, chiếm tỷ trọng 43,72%.
2. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
Tháng 01 năm 2026 là tháng chuẩn bị cho Tết Nguyên đán Bính Ngọ, cung cầu hàng hóa các mặt hàng lương thực, thực phẩm thiết yếu phục vụ Tết trên địa bàn thành phố có sự tăng trưởng, sức mua của người dân tăng so với trước. Một số nhóm hàng lương thực, thực phẩm chủ yếu tăng giá như: lương thực tăng 0,29%; thịt gia súc tươi sống tăng 2,83%; thịt chế biến tăng 1,22%; dầu, mỡ ăn tăng 1,4%; bánh mứt kẹo tăng 0,86%,... là những nguyên nhân chủ yếu làm cho chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng 0,20% so với tháng trước và tăng 1,97% so với cùng kỳ năm trước.
So với tháng trước, CPI thành phố Hải Phòng tháng 01/2026 tăng 0,20%, trong đó: Khu vực thành thị tăng 0,40%, chủ yếu do nhóm hàng thuê nhà tăng vì một số khu nhà trọ gần khu công nghiệp tăng giá do hết hợp đồng năm cũ; khu vực nông thôn giảm 0,02%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng có 06 nhóm hàng có xu hướng tăng giá, với mức tăng nhẹ; 05 nhóm hàng có xu hướng giảm nhẹ.
So với cùng kỳ năm trước, CPI tháng 01/2026 tăng 1,97%, trong đó: Khu vực thành thị tăng 2,18%, khu vực nông thôn tăng 1,78%; trong 11 nhóm hàng chính, hầu hết các nhóm hàng đều có xu hướng tăng, có 07 nhóm tăng giá và 04 nhóm có chỉ số giá giảm. Trong các nhóm tăng giá, chỉ số giá nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng cao nhất là 8,02%, tăng chủ yếu ở nhóm vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 18,7%, chi phí đầu vào và nguồn cung hạn chế do chịu tác động bởi nhiều yếu tố như: cung cầu thị trường, chi phí sản xuất, vận chuyển, cũng như các biến động của thị trường; nhà ở thuê tăng 11,33%, chủ yếu do nhu cầu thuê trọ thực tế tăng 19,68%; điện sinh hoạt tăng 4,39%, dịch vụ sửa chữa nhà tăng 2,78%, nước sinh hoạt tăng 1,43%...
Trong các nhóm hàng giảm giá, chỉ số nhóm Giao thông giảm nhiều nhất với mức giảm 3,48%, giảm chủ yếu ở mặt hàng xăng các loại giảm 9,81%; dầu diesel giảm 10,70%...
* Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ:
- Do ảnh hưởng của giá vàng thế giới tăng nên giá Vàng trong nước biến động tăng theo. Chỉ số giá Vàng tháng này là 104,85%, tăng 4,85% so với tháng trước, so với cùng kỳ năm trước tăng 78,13%. Giá vàng bình quân tháng 01 năm 2026 là 15.649,7 ngàn đồng/chỉ, tăng 723,4 ngàn đồng/chỉ so với tháng trước. Hiện nay giá Vàng vẫn ở mức cao và vẫn có xu hướng tăng, hiện có giá từ 15.350-15.450 ngàn đồng/chỉ (vàng nhẫn).
- Ngược xu hướng với giá Vàng, chỉ số giá Đô la Mỹ tháng là 99,91%, giảm 0,09% so với tháng trước; so với cùng kỳ năm trước tăng 3,16%. Giá bình quân của Đô la Mỹ loại tờ (50 - 100 USD) tháng 01 năm 2026 là 2.638.292 đồng/100 USD và giảm 2.365,3 đồng/100 USD so với tháng trước. Hiện nay giá đô la Mỹ phổ biến ở mức 26.368-26.380 đồng/USD.
3. Đầu tư
Thực hiện Nghị quyết số 76/NQ-HĐND, thành phố Hải Phòng đã triển khai quyết liệt kế hoạch đầu tư công năm 2026 với giá trị thực hiện tháng 01 ước đạt 1.430,75 tỷ đồng, tăng 15,19% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả này phản ánh sự chủ động trong công tác phân bổ vốn và sự phối hợp đồng bộ của các chủ đầu tư từ khâu hoàn thiện thủ tục đến đẩy nhanh tiến độ thi công. Việc bám sát kế hoạch ngay từ những ngày đầu năm không chỉ tạo đà giải ngân cho các dự án trọng điểm mà còn khẳng định quyết tâm của thành phố trong việc phát huy vai trò dẫn dắt của đầu tư công nhằm tạo động lực mạnh mẽ cho tăng trưởng kinh tế.
Xét về cơ cấu nguồn vốn thực hiện trong tháng đầu năm, dòng vốn tập trung chủ yếu ở cấp thành phố với 1.223,8 tỷ đồng (chiếm gần 80% tổng lượng vốn thực hiện). Trong đó, nguồn thu từ quỹ sử dụng đất đóng vai trò chủ chốt khi đóng góp 794,2 tỷ đồng. Bên cạnh đó, các nguồn lực từ Trung ương hỗ trợ theo mục tiêu (47,2 tỷ đồng) và vốn ODA (4,3 tỷ đồng) cũng đang được điều phối để hỗ trợ các dự án trọng điểm. Ở cấp xã, giá trị thực hiện ước đạt 340,7 tỷ đồng, ghi nhận sự bứt phá mạnh mẽ so với cùng kỳ, thể hiện sự lan tỏa trong đầu tư công đến tận cơ sở.
Sự chuyển dịch trong cơ cấu đầu tư năm nay thể hiện rõ nét qua việc tập trung nguồn lực cho các dự án hạ tầng giao thông đặc biệt lớn. Điển hình là Dự án đường Vành đai 2 (đoạn Tân Vũ - Hưng Đạo - Bùi Viện) với quy mô 08 làn xe và tổng mức đầu tư 8.593 tỷ đồng, ước thực hiện trong tháng 1 đạt 206 tỷ đồng. Song song đó, các dự án kết nối liên vùng cũng đang được đẩy mạnh như: Tuyến đường bộ cao tốc Ninh Bình - Hải Phòng (CT08) đoạn qua Hải Phòng và cầu Văn Úc 2; Dự án cầu Nguyễn Trãi kết hợp chỉnh trang đô thị phụ cận; và tuyến đường tỉnh 394B kết nối với Hải Dương.
Đặc biệt, thành phố đang tập trung triển khai công tác bồi thường và giải phóng mặt bằng cho các dự án đường sắt trọng điểm, tiêu biểu là tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng đoạn qua các huyện Kiến Thụy, An Lão và An Dương. Đồng thời, dự án đường bao phía Đông Nam, quận Hải An với hệ thống đê ven sông Lạch Tray dài 6,6 km cũng đang được tăng tốc thi công, đạt giá trị 36 tỷ đồng ngày trong tháng đầu năm.
Để hiện thực hóa mục tiêu giải ngân đạt 91,7% vào cuối năm, thành phố đã áp dụng kịch bản điều hành chi tiết đến từng tháng và từng dự án. Đây là bước đột phá trong chỉ đạo khi kết quả giải ngân được gắn trực tiếp với tiêu chí đánh giá, xếp loại cán bộ cuối năm. Với yêu cầu lập hồ sơ thanh toán chỉ trong 3 ngày kể từ khi có khối lượng hoàn thành, Hải Phòng đang tạo ra một guồng quay làm việc hiệu quả, đảm bảo dòng vốn đầu tư công trở thành động lực dẫn dắt tăng trưởng kinh tế xã hội.
* Tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngoài
Bên cạnh những chuyển biến tích cực từ nguồn lực đầu tư công, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tiếp tục là động lực quan trọng, khẳng định sức hấp dẫn của môi trường đầu tư Hải Phòng ngay trong tháng đầu năm 2026. Tính đến ngày 22/01/2026, thành phố đã thu hút được 95,7 triệu USD vốn FDI, đạt 2,52% kế hoạch năm và bằng 39,17% so với cùng kỳ 2025. Kết quả này cho thấy niềm tin của các nhà đầu tư quốc tế, đồng thời phản ánh hiệu quả của các chính sách cải cách hành chính và phát triển hạ tầng khu công nghiệp của thành phố.
Cơ cấu dòng vốn thu hút trong tháng 1/2026 ghi nhận sự đa dạng ở nhiều hình thức:
- Dự án cấp mới: Ghi nhận 10 dự án với tổng vốn đăng ký đạt 88,5 triệu USD, chiếm tỷ trọng 90,25% tổng vốn thu hút.
- Điều chỉnh tăng vốn: Có 05 lượt dự án điều chỉnh tăng vốn với tổng vốn đầu tư tăng thêm là 7,2 triệu USD.
Song song với việc thu hút mới, công tác quản lý dự án sau cấp phép được thực hiện chặt chẽ. Trong tháng 01/2026, thành phố đã thực hiện chấm dứt và thu hồi 01 dự án với tổng vốn đầu tư 0,3 triệu USD. Tính đến thời điểm hiện tại, trên địa bàn thành phố Hải Phòng còn 1.002 dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 30,95 tỷ USD.
4. Sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản
Sản xuất nông nghiệp trong tháng 01 năm 2026 trên địa bàn thành phố diễn ra trong điều kiện thời tiết thuận lợi cho việc thu hoạch cây trồng vụ Đông 2025-2026, đồng thời tạo điều kiện cho công tác làm đất, gieo mạ, cấy lúa vụ Xuân 2026. Trong tháng không ghi nhận các loại dịch bệnh nguy hiểm phát sinh trên cây trồng, vật nuôi. Các địa phương và ngành chức năng chủ động bám sát tình hình sản xuất, tăng cường chỉ đạo, hướng dẫn nông dân ổn định sản xuất, chủ động chuẩn bị nguồn lương thực, thực phẩm phục vụ nhu cầu tiêu dùng của thị trường trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ.
4.1. Nông nghiệp
* Trồng trọt
- Vụ Đông năm 2025 - 2026
Diện tích gieo trồng cơ bản ổn định so với cùng vụ năm trước. Hiện nay, nông dân đang tập trung thu hoạch cây trồng vụ Đông, giải phóng đất để gieo cấy lúa vụ Chiêm Xuân năm 2026 trước Tết Nguyên đán. Các sở, ngành và địa phương đã kịp thời chỉ đạo, hướng dẫn nông dân thực hiện các biện pháp phòng chống rét cho cây trồng, bố trí cơ cấu trà, cơ cấu giống hợp lý; tổ chức gieo mạ đúng khung lịch thời vụ; đồng thời đẩy mạnh áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, tăng cường cơ giới hóa trong sản xuất và chủ động nguồn nước tưới phục vụ vụ Xuân.
Tổng diện tích gieo trồng cây hằng năm vụ Đông năm 2026 trên địa bàn thành phố đạt 29.076 ha, bằng 100,01% so với vụ Đông năm trước (tăng 3 ha). Diện tích một số cây trồng chủ yếu trong kỳ như sau:
Cây ngô có diện tích gieo trồng đạt 1.903 ha, bằng 102,59% so với cùng kỳ năm trước (tăng 48 ha). Diện tích ngô vụ Đông có xu hướng tăng nhẹ do việc đưa vào sản xuất nhiều giống ngô mới có năng suất và khả năng thích nghi cao.
Cây khoai lang có diện tích gieo trồng đạt 616 ha, bằng 94,33% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân giảm diện tích chủ yếu do vụ Đông năm trước chịu tác động bất lợi của thời tiết, làm giảm hiệu quả sản xuất và sản lượng thu hoạch.
Nhóm cây rau các loại có diện tích gieo trồng đạt 23.065 ha, bằng 100,83% so với cùng kỳ năm trước (tăng 189 ha).
- Vụ Xuân năm 2025
Vụ Xuân năm 2026, toàn thành phố phấn đấu gieo cấy khoảng 1.500 ha lúa, tập trung chủ yếu tại các địa phương như phường Vĩnh Hải, Tiên Minh, Vĩnh Bảo, Vĩnh Am, An Khánh, Phú Thái… Đây là vụ sản xuất có vai trò đặc biệt quan trọng, quyết định năng suất và sản lượng thóc của cả năm. Do đó, các địa phương đang tập trung chuẩn bị đầy đủ các điều kiện cho vụ sản xuất mới, trong đó trọng tâm là nâng cao hiệu quả công tác phòng trừ sinh vật gây hại và đảm bảo gieo cấy đúng khung thời vụ.
Công tác chuẩn bị cho sản xuất lúa Xuân 2026 được triển khai đồng bộ. Hiện nay, các địa phương đang tổ chức cày ải, làm đất và thực hiện thủy lợi nội đồng. Công tác thủy lợi được các huyện chỉ đạo thực hiện đồng loạt, chú trọng đào đắp, nạo vét, khơi thông dòng chảy trên các tuyến kênh mương. Yêu cầu đặt ra là toàn bộ diện tích không trồng cây vụ Đông phải được cày ải kỹ nhằm vệ sinh đồng ruộng, cải tạo kết cấu đất, tăng độ tơi xốp và thông thoáng, đồng thời hạn chế nguồn sâu bệnh tồn dư từ vụ trước.
* Chăn nuôi
Trong tháng, tình hình chăn nuôi gia súc, gia cầm trên địa bàn thành phố cơ bản ổn định. Thời điểm giáp Tết Nguyên đán, giá thịt hơi các loại có xu hướng tăng nhẹ. Nguyên nhân chủ yếu do nhu cầu tiêu dùng dịp lễ, Tết tăng cao, trong khi nguồn cung bị ảnh hưởng cục bộ bởi dịch bệnh và thời tiết bất lợi tại một số địa phương.
Chăn nuôi gia súc, gia cầm duy trì ổn định về quy mô và tổng đàn; tuy nhiên, tổng đàn trâu và bò tiếp tục có xu hướng giảm so với cùng kỳ năm trước. Đàn trâu hiện ước đạt 8,99 nghìn con, giảm 5,63%; đàn bò ước đạt 18,00 nghìn con, giảm 3,33% so với cùng kỳ năm trước. Ngược lại, tổng đàn lợn và gia cầm có xu hướng tăng nhẹ; tổng đàn lợn ước đạt 512,10 nghìn con, tăng 0,78% so với cùng kỳ, đáp ứng tốt nhu cầu tiêu dùng trong dịp Tết.
Tình hình dịch bệnh: Hiện tại, trên địa bàn thành phố không ghi nhận dịch bệnh xảy ra trên đàn vật nuôi. Tuy nhiên, nguy cơ xâm nhập dịch bệnh từ các địa phương khác vẫn ở mức cao. Do đó, các cấp, các ngành tiếp tục tăng cường công tác phòng, chống dịch bệnh; kiểm soát chặt chẽ hoạt động vận chuyển, giết mổ gia súc, gia cầm; đảm bảo nguồn cung thực phẩm an toàn, chất lượng phục vụ nhu cầu tiêu dùng dịp Tết Nguyên đán.
4.2. Lâm nghiệp
Trong tháng, các cơ sở, đơn vị sản xuất lâm nghiệp chủ yếu tập trung khai thác diện tích rừng trồng đã đến tuổi thu hoạch, đồng thời tiến hành phát dọn thực bì, chuẩn bị đất cho trồng rừng vụ Xuân theo kế hoạch. Ngành chức năng tăng cường chỉ đạo các đơn vị trực thuộc đẩy mạnh công tác tuần tra, kiểm soát, bám sát địa bàn; phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương nhằm kịp thời phát hiện, ngăn chặn các hành vi xâm hại rừng.
Sản lượng gỗ khai thác trong tháng ước đạt 280 m³, bằng 24,98% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân giảm chủ yếu do năm trước tăng cường khai thác diện tích rừng bị thiệt hại bởi bão số 3; bên cạnh đó, công tác quản lý, bảo vệ rừng được siết chặt hơn và các cơ quan chức năng đang triển khai đo đạc, kiểm kê lại diện tích rừng. Trong tháng, trên địa bàn thành phố không xảy ra vụ cháy rừng hay chặt phá rừng trái phép.
4.3. Thủy sản
Sản lượng thủy sản khai thác: Hoạt động khai thác thủy sản trong tháng trên địa bàn thành phố cơ bản ổn định. Sản lượng khai thác ước đạt 9.141 tấn, tăng 195 tấn (tăng 2,18%) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, sản lượng cá ước đạt 5.425 tấn, tăng 112 tấn (tăng 2,11%); sản lượng tôm ước đạt 690 tấn, tăng 30 tấn (tăng 4,62%); sản lượng thủy sản khác ước đạt 3.026 tấn, tăng 53 tấn (tăng 1,78%).
Hoạt động khai thác trên biển của tàu cá Hải Phòng chủ yếu diễn ra tại khu vực Vịnh Bắc Bộ, vùng biển phía Nam, Bắc và Tây Bắc đảo Bạch Long Vĩ. Đối tượng khai thác chính gồm mực, cá nổi nhỏ (nục, bạc má…) và một số loài cá đáy (cá bơn, cá hồng…). Đội tàu, đặc biệt là các tàu nghề lưới rê, lưới chụp, duy trì hoạt động thường xuyên và đạt sản lượng khai thác tăng khá.
Sản lượng thủy sản nuôi trồng: Sản lượng thủy sản nuôi trồng trong tháng ước đạt 20,97 nghìn tấn, bằng 104,91% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, sản lượng cá đạt khoảng 20,17 nghìn tấn, tăng 4,97% so với cùng kỳ năm trước.
Hoạt động nuôi trồng thủy sản trong tháng nhìn chung ổn định và có xu hướng phát triển. Các địa phương tích cực áp dụng các mô hình nuôi mới, sử dụng giống có giá trị kinh tế cao, chất lượng tốt. Người nuôi chủ động thực hiện các biện pháp phòng chống rét; tăng cường chăm sóc đàn thủy sản nuôi thương phẩm; tập trung thu hoạch sớm các đối tượng đạt kích cỡ thương phẩm nhưng khó áp dụng biện pháp chống rét, đặc biệt là các loài chịu rét kém như cá rô phi, ba ba. Đồng thời, các đối tượng nuôi qua đông đạt kích cỡ thương phẩm như cá nước ngọt truyền thống, cá trắm đen, cá vược, tôm thẻ chân trắng… được thu hoạch phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026.
Các trại sản xuất giống thủy sản nước ngọt tiếp tục lưu giữ, chăm sóc đàn cá bố mẹ qua đông; tu sửa hệ thống bể trại và chuẩn bị cho vụ sản xuất giống năm 2026. Khu vực sản xuất và dịch vụ giống thủy sản lợ mặn chủ động cung ứng con giống, đáp ứng nhu cầu thả nuôi của người dân.
5. Sản xuất công nghiệp
Ngành công nghiệp Hải Phòng ghi nhận khởi đầu thuận lợi khi chỉ số IIP tháng 01/2026 tăng 36,23% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, các ngành như điện tử và sản xuất kim loại đúc sẵn dẫn đầu đà tăng trưởng với mức tăng từ 48% đến trên 54%. Dù chịu ảnh hưởng bởi yếu tố thời điểm (tháng 1/2025 trùng kỳ nghỉ Tết), song kết quả này đã phản ánh đà phục hồi của thị trường, cũng như hiệu quả từ những chính sách tháo gỡ khó khăn, điều hành sát sao của chính quyền thành phố.
So với tháng trước, tình hình sản xuất công nghiệp có mức tăng trưởng nhẹ, tập trung chủ yếu ở các ngành có tỷ trọng lớn, đóng vai trò quan trọng của toàn ngành như: sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 7,32%; sản xuất thiết bị điện tăng 8,41%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 6,3%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 10,88%;…
So với tháng cùng kỳ năm trước, chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 01 năm 2026 ước tăng 36,23% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành khai khoáng giảm 10,94%, tác động làm giảm 0,03 điểm phần trăm vào mức tăng chung toàn ngành; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 38,78%, đóng góp 35,92 điểm phần trăm; ngành sản xuất, phân phối điện tăng 3,69%, đóng góp 0,25 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải tăng 9,31%, đóng góp 0,09 điểm phần trăm vào mức tăng chung toàn ngành.
Nguyên nhân chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 01/2026 tăng cao so với cùng kỳ năm trước chủ yếu do thời điểm sản xuất cùng kỳ năm 2025 trùng với kỳ nghỉ Tết Nguyên đán, số ngày làm việc giảm, làm cho mức nền so sánh thấp. Bên cạnh đó, hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn thành phố trong tháng đầu năm 2026 nhìn chung duy trì ổn định, một số doanh nghiệp công nghiệp chủ lực tăng công suất sản xuất. Tuy nhiên, đây chỉ mức tăng trưởng mang tính kỹ thuật do yếu tố so sánh, chưa phản ánh đầy đủ xu hướng tăng trưởng dài hạn của toàn ngành công nghiệp.
Trong giai đoạn 5 năm 2022-2026, chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 01/2026 đạt 136,23%, là mức tăng cao trong chu kỳ so với các năm 2022, 2023, 2025 (năm 2022 đạt 114,02%, năm 2023 đạt 98,96% và năm 2025 đạt 99,88%), trong đó nguyên nhân chủ yếu do nền so sánh thấp của cùng kỳ năm 2025 trùng với kỳ nghỉ Tết Nguyên đán. Xét theo ngành, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 01 năm 2026 đạt 138,78%, cao hơn mức của hầu hết các năm trong chu kỳ và tiếp tục giữ vai trò động lực chính của tăng trưởng công nghiệp. Ngành cung cấp nước duy trì mức tăng ổn định trong chu kỳ, trong khi ngành khai khoáng có mức tăng thấp và biến động, phù hợp với xu hướng cơ cấu lại ngành công nghiệp theo hướng giảm khai thác tài nguyên. Đối với ngành sản xuất và phân phối điện, do phụ thuộc vào yếu tố thời tiết của từng năm mà sản lượng của các nhà máy nhiệt điện trên địa bàn bị ảnh hưởng.
* Sản phẩm công nghiệp chủ yếu tháng 01 năm 2026
Một số sản phẩm chủ yếu dự kiến tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Bảng điều khiển trò chơi video sản xuất đạt 1.095,36 nghìn cái, tăng 1.863%; xe ô tô (dòng phổ thông) sản xuất đạt 23.743 chiếc, tăng 45,22% so với cùng kỳ; xe máy điện sản xuất đạt 54.000 chiếc, tăng 277,97%; thức ăn cho gia súc sản xuất đạt 299,05 nghìn tấn, tăng 32,54%; thức ăn cho gia cầm sản xuất đạt 13,95 nghìn tấn, tăng 30,50%; bia đóng chai sản xuất đạt 174,22 nghìn lít, tăng 132,3%; máy tính xách tay sản xuất đạt 340,79 nghìn cái, tăng 312,70%; kính sản xuất đạt 52 tấn, tăng 16,32%…
Một số sản phẩm chủ yếu dự kiến giảm so với cùng kỳ: tổ máy phát điện sản xuất đạt 44 bộ, giảm 44,30%; máy thu hình (tivi) sản xuất đạt 21 cái, giảm 99,97%; bia đóng lon sản xuất đạt 2.069 nghìn lít, giảm 18,01%;...
* Lao động làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp
Tại thời điểm 01/01/2026 số lao động đang làm việc các doanh nghiệp công nghiệp tăng 0,35 % so cùng thời điểm tháng 12/2025 và tăng 3,88% so cùng thời điểm năm trước.
Phân theo loại hình kinh tế, lao động khu vực doanh nghiệp nhà nước tăng 0,58%; lao động doanh nghiệp ngoài nhà nước giảm 25,72%; lao động doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 10,87%.
Phân theo ngành kinh tế, lao động ngành khai khoáng giảm 0,49% so cùng thời điểm năm trước; lao động ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,01%; lao động ngành sản xuất và phân phối điện giảm 0.63%; lao động ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,58% so cùng kỳ năm trước.
Một số ngành công nghiệp cấp II có chỉ số sử dụng lao động tăng so với cùng kỳ gồm: sản xuất phương tiện vận tải khác (đóng tàu) tăng 25,08%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 16,46%; sản xuất thiết bị điện tăng 6,12%; sản xuất xe có động cơ tăng 4,59%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế tăng 5,13%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 3,82%...
6. Thương mại, dịch vụ
Bước vào tháng cận Tết Nguyên đán Bính Ngọ, nhu cầu mua sắm của người dân có xu hướng tăng. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 01 ước đạt 35.499,99 tỷ đồng, tăng 7,82% so với tháng trước và tăng 14,82% so với cùng kỳ năm trước. Mức tăng này chủ yếu đến từ hoạt động bán lẻ hàng hóa, do đây là thời điểm kinh doanh sôi động phục vụ nhu cầu tiêu dùng dịp Tết; nhiều siêu thị, trung tâm thương mại và cửa hàng triển khai các chương trình khuyến mãi, kích cầu tiêu dùng. Nhờ sự chủ động trong cung ứng và điều phối của các hệ thống phân phối, nguồn hàng trên địa bàn luôn duy trì trạng thái ổn định, đáp ứng nhu cầu mua sắm tăng cao của người dân.
6.1. Tổng mức lưu chuyển hàng hóa và doanh thu dịch vụ
6.1.1. Hoạt động bán lẻ
Doanh thu tháng 01/2026 ước đạt 29.897,3 tỷ đồng, tăng 10,62% so với tháng trước, tăng 14,86% so với cùng kỳ. Trong đó, các nhóm ngành ước có mức tăng trưởng cao như: lương thực, thực phẩm tăng 10,58% so với tháng trước, tăng 14,51% so với cùng kỳ; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 11,99% so với tháng trước, tăng 14,17% so với cùng kỳ; xăng, dầu các loại tăng 5,02% so với tháng trước, tăng 13,53% so với cùng kỳ…
Tháng 01 năm 2026 là tháng cận Tết Nguyên đán Bính Ngọ nên hoạt động bán lẻ hàng hóa diễn ra sôi động hơn so với tháng trước. Không khí mua sắm, đặc biệt đối với các mặt hàng thời trang, gia dụng, điện máy và hóa mỹ phẩm trở nên nhộn nhịp. Nhóm hàng may mặc thu hút nhiều khách hàng do điều kiện thời tiết năm nay tương đối thuận lợi, cùng với xu hướng gia tăng nhu cầu mặc đẹp trong dịp lễ hội cuối năm và năm mới. Thị trường hoa, cây cảnh phục vụ Tết cũng bắt đầu sôi động.
Đến nay, các doanh nghiệp và hệ thống siêu thị trên địa bàn cơ bản hoàn tất công tác chuẩn bị nguồn hàng phục vụ Tết; kế hoạch về cơ cấu và số lượng hàng hóa đã được thống nhất với các nhà cung cấp lớn. Công tác dự trữ hàng hóa, logistics được triển khai đồng bộ, gắn với các biện pháp bảo đảm ổn định giá cả. Bên cạnh đó, nhiều chương trình khuyến mãi, giảm giá sâu phục vụ dịp Tết đã được triển khai, đây là các chương trình khuyến mãi lớn nhất trong năm, bao gồm hầu hết các nhóm hàng từ thực phẩm khô, thực phẩm tươi sống đến hàng gia dụng, thời trang. Các siêu thị tập trung vào các mặt hàng thiết yếu, hàng phục vụ Tết và giỏ quà Tết với mức chiết khấu cao, cùng nhiều hình thức khuyến mãi đa dạng.
6.1.2. Hoạt động dịch vụ
Doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống tháng 01 năm 2026 ước đạt 3.381,47 tỷ đồng, giảm 6,17% so với tháng trước và tăng 13,74% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu ăn uống ước đạt 3.150,19 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 93,16%, giảm 6,39% so với tháng trước và tăng 13,78% so với cùng kỳ. Thông thường, trước Tết Nguyên đán nhu cầu ăn uống, vui chơi giải trí của người dân có xu hướng tăng. Tuy nhiên, hiện nay thành phố đang triển khai các biện pháp bảo đảm an toàn giao thông, tăng cường kiểm tra và xử lý vi phạm về nồng độ cồn; do đó, doanh thu của một số cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống trên địa bàn giảm nhẹ so với tháng trước.
Doanh thu dịch vụ lữ hành tháng 01 năm 2026 ước đạt 26,65 tỷ đồng, giảm 13,17% so với tháng trước và tăng 10,84% so với cùng kỳ.
Doanh thu dịch vụ khác tháng 01 năm 2026 ước đạt 2.194,52 tỷ đồng, giảm 2,97% so với tháng trước và tăng 16,08% so với cùng kỳ năm trước.
6.2. Số lượt khách đến thành phố
Tổng lượt khách tháng 01 đến thành phố ước đạt 850 nghìn lượt, tăng 11,11% so với cùng kỳ, trong đó khách quốc tế ước đạt 82,4 nghìn lượt, tăng 8,49% so với tháng trước và tăng 0,02% so với cùng kỳ năm trước.
Số lượng khách ghi nhận trong tháng 01/2026 cho thấy hoạt động du lịch Hải Phòng có khởi đầu tích cực, với sự kết hợp hài hòa giữa các điểm đến tự nhiên – văn hóa và chuỗi hoạt động lễ hội, sự kiện, góp phần thu hút du khách ngay từ những tháng đầu năm.
6.3. Hoạt động vận tải
Hoạt động vận tải trong tháng 01 năm 2026 đạt mức tăng trưởng tích cực cả về vận chuyển hành khách và vận tải hàng hóa do nhu cầu đi lại của người dân và lưu thông hàng hóa tăng. Ước tính tổng doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và dịch vụ bưu chính, chuyển phát tháng 01 năm 2026 đạt 16.376,02 tỷ đồng, tăng 15,5% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu các lĩnh vực trong hoạt động vận tải đều có mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm trước.
6.3.1. Vận tải hàng hoá
Doanh thu ước tính đạt 7.758,5 tỷ đồng, tương ứng tăng 13,92% so cùng kỳ năm trước; khối lượng hàng hóa vận chuyển trong tháng ước đạt 42,6 triệu tấn, tăng 14,3% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước tính 16.368,3 triệu tấn.km, tăng 15,08% so cùng kỳ năm trước. Hoạt động vận tải hàng hóa tiếp tục có đà tăng trưởng khả quan so với cùng kỳ năm trước khi nguồn hàng và nhu cầu vận chuyển hàng hóa tăng. Ngoài ra, sự sôi động của hoạt động thương mại, giao thương hàng hóa cuối năm gia tăng tác động làm hoạt động vận tải hàng hóa tăng trưởng tốt. Khối lượng hàng hoá vận chuyển và luân chuyển tháng 01 tăng so với cùng kỳ bởi nguồn hàng và nhu cầu vận chuyển hàng hóa, nguyên vật liệu để phục vụ Tết Nguyên đán tăng do đó các doanh nghiệp vận tải nhận được nhiều đơn hàng hơn.
6.3.2. Vận tải hành khách
Trong tháng 01 năm 2026, doanh thu ước tính đạt 707,4 tỷ đồng, tăng 17,68% so với cùng kỳ năm trước; số lượt hành khách vận chuyển ước đạt 12,8 triệu lượt hành khách, tăng 20,67% so cùng kỳ năm trước; số lượt hành khách luân chuyển ước đạt 546,4 triệu lượt hành khách.km, tương ứng tăng 18,5% so với cùng kỳ năm trước.
6.3.3.Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải
Doanh thu hoạt động hỗ trợ vận tải (cảng, bốc xếp, đại lý vận tải,…) tháng 01 năm 2026 ước tính đạt 7.855,9 tỷ đồng, tăng 16,91% so với cùng kỳ năm trước. Dịch vụ bốc xếp, lưu kho, logistics tăng cao so cùng kỳ do hoạt động sản xuất kinh doanh trong tháng tiếp tục duy trì sự ổn định và phát triển, sản lượng hàng hóa có sự tăng trưởng tốt đã tạo ra nhu cầu lưu thông hàng hóa. Hoạt động của 4 cảng container số 3, 4, 5, 6 tại khu bến cảng Lạch Huyện giúp nâng tổng công suất xếp dỡ, mở rộng quy mô khai thác, thúc đẩy tăng trưởng mạnh mẽ lĩnh vực dịch vụ logistics, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh cho hàng hóa xuất nhập khẩu của Việt Nam trên thị trường quốc tế.
6.3.4. Vận tải hàng không
Tháng 01 năm 2026, tổng doanh thu của Sân bay Cát Bi ước đạt 22,7 tỷ đồng, tăng 2,67% so với cùng tháng năm trước.
Số lần máy bay hạ, cất cánh tháng 01 năm 2026 ước đạt 1200 chuyến, giảm 13,48% so với cùng tháng năm trước.
Tổng số hành khách tháng 01 năm 2026 ước đạt 206 ngàn lượt người, tăng 3,14% so với cùng tháng năm trước.
Tổng số hàng hóa tháng 01 năm 2026 ước đạt 810 tấn.
6.4. Hàng hoá thông qua cảng
Sản lượng hàng hóa thông qua cảng dự kiến tháng 01 năm 2026 ước đạt 14,112 triệu TTQ, tăng 9,97% so với cùng kỳ năm 2025. Cụ thể:
- Khối cảng thuộc kinh tế Nhà nước ước tháng 01 năm 2026 đạt 4,95 triệu TTQ, tăng 17,57% so với cùng kỳ năm trước.
- Các cảng thuộc khu vực kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 9,16 triệu TTQ, tăng 6,26% so với cùng kỳ năm 2025.
* Doanh thu cảng biển tháng 01 năm 2026 ước đạt 724,33 tỷ đồng, tăng 32,43% so với cùng kỳ năm 2025.
II. VĂN HÓA - XÃ HỘI
Đời sống dân cư và công tác an sinh xã hội trên địa bàn thành phố trong tháng 01/2026 tiếp tục được chính quyền các cấp quan tâm. Các chính sách an sinh xã hội được triển khai kịp thời, hiệu quả, đảm bảo đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân.
1. Tình hình lao động việc làm
Tháng 01 năm 2026, ước tổ chức 08 phiên giao dịch việc làm thu hút 85 lượt doanh nghiệp tham gia tuyển dụng với nhu cầu tuyển dụng khoảng 28.240 lượt lao động; cung lao động tại sàn đạt trên 17.800 lượt lao động (đáp ứng được 63,03% nhu cầu tuyển dụng). Đăng ký bảo hiểm thất nghiệp cho khoảng 1.650 người (tăng 16,64% so với cùng kỳ năm 2025), đã giải quyết chế độ bảo hiểm thất nghiệp với kinh phí là 48,6 tỷ đồng. Qua giải quyết chế độ thất nghiệp đã tư vấn, giới thiệu việc làm cho 1.650 người (tăng 16,64% so với cùng kỳ năm 2025). Ước cấp mới khoảng 350 giấy phép lao động, cấp lại 10 giấy phép lao động, gia hạn gần 30 giấy phép lao động, miễn cấp 05 giấy phép lao động cho người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam.
Tính đến thời điểm báo cáo, trên địa bàn thành phố xảy ra 02 vụ tai nạn lao động chết người làm 02 người chết (tăng 01 vụ và 01 người chết so với cùng kỳ năm 2025).
2. Công tác an sinh xã hội
2.1. Công tác người có công
Tháng 01 năm 2026, ban hành các văn bản thực hiện chính sách, công nhận và quản lý đối tượng người có công và thân nhân, với 283 trường hợp, cụ thể: Tiếp nhận, thẩm định, ban hành đối với 148 trường hợp hưởng chế độ chính sách; tiếp nhận, thẩm định để thực hiện chính sách, phục vụ công tác quản lý đối với 135 trường hợp.
Tập trung triển khai chăm lo Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026 đối với người có công với cách mạng và thân nhân; triển khai quà tặng theo Nghị quyết số 418/NQ-CP ngày 28/12/2025 của Chính phủ về việc tặng quà của Đảng, Nhà nước nhân dịp chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026 đối với 92.005 người có công và thân nhân, với số tiền 36.802 triệu đồng.
2.2. Công tác bảo trợ xã hội
Từ ngày 15/12/2025 đến 14/01/2026, Đoàn liên ngành tổ chức đi kiểm tra, rà soát, tập trung người lang thang trên địa bàn thành phố, kết quả: 07 đợt tập trung đưa được 15 người lang thang vào Trung tâm Công tác xã hội và Bảo trợ trẻ em Hoa Phượng.
Số liệu đối tượng tại các cơ sở nuôi dưỡng bảo trợ xã hội: Tại thời điểm ngày 12/01/2026, tổng số đối tượng bảo trợ xã hội đang nuôi dưỡng tập trung tại các cơ sở trợ giúp xã hội là 1.736 người, cụ thể tại các đơn vị như sau:
- Trung tâm Điều dưỡng Người tâm thần Hải Phòng: 444 người.
- Trung tâm Công tác xã hội và Bảo trợ trẻ em Hoa Phượng: 113 người gồm: 29 người lang thang và 84 trẻ em (trong đó 26 trẻ nhiễm HIV; 58 trẻ không có nguồn nuôi dưỡng).
- Làng Trẻ em SOS Hải Phòng: 118 người (trong đó 99 trẻ sống tại Làng và 19 trẻ đang học ĐH, CĐ và nghề).
- Trung tâm Nuôi dưỡng Bảo trợ xã hội Hải Phòng: 85 người (trong đó có 71 đối tượng bảo trợ và 14 người tự nguyện).
- Trung tâm Nuôi dưỡng Bảo trợ xã hội Hải Dương: 515 người (trong đó 26 người cao tuổi, 05 người lang thang, 04 trẻ em không có nguồn nuôi dưỡng, 118 người khuyết tật đặc biệt nặng, 352 trẻ em khuyết tật học văn hóa, 10 người khuyết tật học nghề).
- Trung tâm Điều dưỡng Người tâm thần Hải Dương: 461 người.
3. Công tác giáo dục, y tế, văn hóa thể thao
3.1. Công tác giáo dục
Hải Phòng tiếp tục khẳng định vị thế trong kỳ thi học sinh giỏi quốc gia năm học 2025-2026, Hải Phòng xuất sắc giành 208 giải, 9 giải Nhất, 68 giải Nhì, 71 giải Ba và 60 giải Khuyến khích, xếp thứ tư toàn quốc về tổng số giải. Đặc biệt, Hải Phòng có 03 học sinh đạt thủ khoa toàn quốc ở các môn thi (Địa lý, tiếng Anh và tiếng Nga). Kết quả trên thể hiện sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của các cấp quản lý giáo dục, sự tâm huyết, trách nhiệm của đội ngũ giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi và tinh thần nỗ lực, cố gắng của các em học sinh, tiếp tục khẳng định vị thế giáo dục mũi nhọn của thành phố Hải Phòng trong hệ thống giáo dục quốc dân.
Trong tháng 01/2026, ngành Giáo dục và Đào tạo thành phố tiếp tục triển khai nhiệm vụ năm học 2025-2026 theo kế hoạch;. Công tác chỉ đạo tập trung vào việc duy trì ổn định hoạt động dạy và học sau học kỳ I, chuẩn bị các điều kiện cho học sinh nghỉ Tết Nguyên đán an toàn, lành mạnh; đồng thời tăng cường kỷ cương, nề nếp trường học.
Các cơ sở giáo dục tiếp tục tổ chức dạy học theo kế hoạch giáo dục nhà trường, bảo đảm tiến độ chương trình học kỳ II năm học 2025–2026, đảm bảo nền nếp, kỷ cương, chất lượng dạy và học.
3.2. Công tác y tế
Trong tháng 01/2026, thành phố ban hành các văn bản chỉ đạo tiếp tục đẩy mạnh các biện pháp phòng, chống dịch, bệnh bại liệt trên địa bàn; duy trì hoạt động giám sát bệnh truyền nhiễm tại các cơ sở điều trị và cộng đồng; thực hiện giám sát ca bệnh truyền nhiễm và huyết thanh tại các bệnh viện tuyến thành phố; thực hiện giám sát hỗ trợ tuyến khu vực trong công tác giám sát, phát hiện các bệnh truyền nhiễm để từng bước nâng cao số lượng và chất lượng các kênh giám sát tại các tuyến.
Tổ chức các lớp tập huấn cho cán bộ y tế tuyến Trung tâm y tế về công tác phòng chống dịch chung, bệnh Dại và Sốt xuất huyết Dengue, tổ chức lớp tập huấn chuyên sâu “Ứng dụng công nghệ thông tin trong phòng chống dịch sốt xuất huyết Dengue 2025” cho cán bộ nòng cốt. Thường xuyên cập nhật các thông tin về các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, mới nổi được ghi nhận gần đây, có nguy cơ xâm nhập vào nước ta để chủ động áp dụng các biện pháp giám sát, phối hợp với các đơn vị y tế khác xử lý ổ dịch không để bùng phát tại cộng đồng.
Trong tháng toàn thành phố ghi nhận 23 ca nhiễm HIV mới; Số người nhiễm HIV đang còn sống đến 16/01/2026 là 9.090 trường hợp; Số người nhiễm HIV tử vong lũy tích là 7.344 trường hợp. Hiện tại điều trị ARV cho 7.428 người; số hiện đang điều trị PreP cho 1.205 người.
3.3. Công tác văn hóa, thể thao
* Văn hoá
Trong tháng 01/2026, trên địa bàn thành phố diễn ra nhiều hoạt động văn hóa nghệ thuật phục vụ nhân dân nhân dịp đầu năm mới 2026 và chuẩn bị đón Tết Nguyên đán Bính Ngọ; Chương trình nghệ thuật chào mừng thành công Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV và Kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam; 80 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam được tổ chức tại Quảng trường Nhà hát Lớn và Trung tâm Văn hóa xứ Đông vào tối 24/1/2026 thu hút đông đảo người dân, với các tiết mục nghệ thuật ca múa nhạc, biểu diễn truyền thống và hiện đại; Chương trình Hòa nhạc MSB Concert biểu diễn tại Nhà hát Hoa Phượng vào 17/1/2026, với sự kết hợp giữa Dàn nhạc Giao hưởng Hà Nội và Nhà hát Nghệ thuật Đương đại Hải Phòng, tạo nên không khí văn hóa sôi động đầu năm. Các chương trình triển lãm – trưng bày nghệ thuật, ảnh, sách và thư pháp Tết được tổ chức tại Trung tâm Văn hóa, Thư viện thành phố và Bảo tàng Hải Phòng, giới thiệu các giá trị văn hóa – lịch sử đặc trưng của địa phương, các hoạt động này nhằm tạo không khí văn hóa – tinh thần đậm đà bản sắc dân tộc, phục vụ nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của nhân dân thành phố và du khách trong dịp Tết.
Tổ chức trưng bày ảnh tư liệu, sách báo chủ đề Tết và văn hóa truyền thống, đồng thời tổ chức chương trình viết và cho chữ thư pháp ngày xuân thu hút sự quan tâm của nhiều gia đình, đặc biệt là giới trẻ. Những hoạt động này góp phần nâng cao đời sống tinh thần, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và khuyến khích phong trào văn hóa quần chúng phát triển rộng khắp.
Các hoạt động truyền thông, tuyên truyền về các di tích lịch sử – văn hóa, lễ hội truyền thống và nhân vật văn hóa tiêu biểu được tăng cường trên các phương tiện truyền thông để thu hút nhân dân và du khách tìm hiểu, góp phần gìn giữ giá trị văn hóa Hải Phòng.
* Thể thao
Tiếp tục triển khai hiệu quả Cuộc vận động toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại giai đoạn 2021 - 2030. Tăng cường quản lý các hoạt động thể dục thể thao, khuyến khích nhân dân thành phố tham gia các hoạt động thể dục thể thao, rèn luyện sức khỏe.
Xây dựng Kế hoạch, ban hành điều lệ và tổ chức thi đấu các bộ môn Đá cầu, Bóng bàn, Cờ vua, Đua thuyền trong chương trình Đại hội Thể dục thể thao thành phố Hải Phòng lần thứ X năm 2025 - 2026. Cử vận động viên tham gia thi đấu giải bán Marathon Quốc tế đạt 01 Huy chương Bạc; tiếp tục cử vận động viên các bộ môn Thể dục dụng cụ, Bắn súng, Cử tạ tham gia tập huấn tại đội tuyển quốc gia, đội tuyển trẻ quốc gia theo Quyết định triệu tập của Cục Thể dục thể thao.
4. Tình hình tai nạn giao thông, phòng chống cháy nổ
4.1. Tình hình tai nạn giao thông
Từ ngày 15/12/2025 đến ngày 14/01/2026, trên địa bàn thành phố xảy ra 79 vụ tai nạn giao thông, làm 39 người chết và 45 người bị thương. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông giảm 07 vụ (tương ứng -8,14%), số người chết giảm 02 người (tương ứng -4,88%) và số người bị thương giảm 19 người (tương ứng -29,69%). Các vụ tai nạn chủ yếu từ va chạm cá nhân, do người dân chưa chấp hành đúng luật, không tuân thủ các biện pháp đảm bảo an toàn giao thông.
4.2. Công tác phòng chống cháy, nổ
Từ ngày 15/12/2025 đến ngày 14/01/2026, trên địa bàn thành phố Hải Phòng đã xảy ra 05 vụ cháy nổ, làm 03 người bị thương, thiệt hại về tài sản ước tính khoảng 90 triệu đồng.Để đảm bảo công tác an sinh xã hội, ổn định đời sống nhân dân, trong thời gian tới thành phố cần chú trọng trong công tác kiểm tra phòng cháy chữa cháy, nâng cao ý thức người dân và doanh nghiệp, xử lý nghiêm vi phạm để hạn chế rủi ro trong công tác phòng chống cháy nổ./.
Tác giả: THỐNG KÊ THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
-
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 02, 2 tháng năm 2026 thành phố Hải Phòng
05/03/2026 -
Infographic tình hình kinh tế - xã hội tháng quý I năm 2026 thành phố Hải Phòng
04/04/2026 -
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 3, quý I năm 2026 thành phố Hải Phòng
07/04/2026 -
Thông cáo báo chí Tình hình kinh tế - xã hội năm 2025 thành phố Hải Phòng
06/01/2026 -
Infographic tình hình kinh tế - xã hội năm 2025 thành phố Hải Phòng
06/01/2026 -
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 11, 11 tháng năm 2025 thành phố Hải Phòng
22/12/2025 -
Lịch phổ biến thông tin thống kê năm 2026
15/12/2025 -
Infographic tình hình Kinh tế - Xã hội tháng 11 và 11 tháng năm 2025 thành phố Hải Phòng
03/12/2025
-
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 3, quý I năm 2026 thành phố Hải Phòng
-
Infographic tình hình kinh tế - xã hội tháng quý I năm 2026 thành phố Hải Phòng
-
Hội nghị cán bộ, công chức và người lao động năm 2026
-
Bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 -2031
-
Các văn bản của Đảng, nhà nước về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực



