Thông cáo báo chí tình hình Kinh tế - Xã hội tháng 6, 6 tháng đầu năm 2026 thành phố Hải Phòng
TÌNH HÌNH KINH TẾ -XÃ HỘI THÁNG 6, 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2026
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Kinh tế - xã hội Việt Nam 6 tháng đầu năm 2026 diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức do tác động của bất ổn địa chính trị, xu hướng gia tăng bảo hộ thương mại, biến động giá năng lượng và những thay đổi trong chính sách kinh tế của các nền kinh tế lớn. Vượt qua những khó khăn, thách thức, kinh tế trong nước vẫn duy trì đà tăng trưởng tích cực, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm; hoạt động sản xuất, đầu tư, thương mại và dịch vụ tiếp tục phục hồi và phát triển, tạo nền tảng thuận lợi cho tăng trưởng kinh tế trong nước. Kinh tế - xã hội thành phố Hải Phòng 6 tháng đầu năm 2026 tiếp tục đạt nhiều kết quả tích cực: Tổng sản phẩm trên địa bàn thành phố (GRDP) 6 tháng đầu năm tăng 11,33%; công nghiệp tiếp tục giữ vai trò động lực tăng trưởng với chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 14,79%; thương mại, dịch vụ và du lịch tiếp tục phát triển; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tăng 15,16%; hoạt động vận tải và logistics duy trì đà tăng trưởng. Thu ngân sách nhà nước đạt kết quả tích cực, tạo nguồn lực cho đầu tư phát triển và an sinh xã hội.
Bên cạnh những kết quả đạt được, kinh tế thành phố vẫn còn một số khó khăn, thách thức. Nhu cầu thị trường phục hồi chưa đồng đều, chi phí đầu vào của doanh nghiệp còn ở mức cao; một số dự án công nghiệp mới chưa đạt sản lượng theo kế hoạch; tình trạng thiếu lao động, khó khăn về thị trường, và nguồn vốn làm chậm tiến độ một số công trình, dự án xây dựng. Cùng với đó, điều kiện thời tiết không thuận lợi có thể ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp, trong khi áp lực hoàn thành mục tiêu tăng trưởng kinh tế cả năm vẫn còn rất lớn.
Kết quả đạt được trong 6 tháng đầu năm 2026 như sau:
1. Tốc độ tăng tổng sản phẩm trên địa bàn thành phố
Tổng sản phẩm trên địa bàn thành phố (GRDP) 6 tháng đầu năm 2026 theo giá so sánh 2020 ước tăng 11,33% so với cùng kỳ năm trước, đứng thứ nhất trong 07 thành phố trực thuộc trung ương, đứng thứ 3 cả nước và thứ 2 vùng Đồng bằng sông Hồng. Cụ thể, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,23%, đóng góp 0,14 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng GRDP; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 13,46%, đóng góp 7,06 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 10,24%, đóng góp 3,58 điểm phần trăm; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 8,69%, đóng góp 0,55 điểm phần trăm vào mức tăng chung.
2. Sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản
Trong quý II và 6 tháng đầu năm 2026, sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn thành phố Hải Phòng duy trì ổn định. Giá vật tư đầu vào vẫn ở mức cao, thị trường tiêu thụ nông sản còn nhiều cạnh tranh và tình trạng thiếu lao động nông thôn tiếp tục ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất. Tuy nhiên, dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi cơ bản được kiểm soát; sản xuất ở hầu hết các lĩnh vực tiếp tục phát triển và ghi nhận mức tăng so với cùng kỳ năm trước.
a. Nông nghiệp
* Trồng trọt
Tổng diện tích lúa đã cấy đạt 76.940 ha, giảm 3,89% (giảm 3.117 ha) so với cùng kỳ năm trước; năng suất ước đạt 68,47 tạ/ha, sản lượng ước đạt 550.352 tấn. Diện tích gieo trồng vụ Đông Xuân của một số cây hàng năm có biến động theo nhu cầu thị trường và hiệu quả sản xuất. Diện tích ngô tăng 3,88%; đỗ đậu các loại tăng 25,91%; trong khi rau xanh giảm 1,54%, lạc giảm 1,50%, khoai lang giảm 12,37% và đậu tương giảm 30,68% so với cùng kỳ năm trước.
Sản xuất cây lâu năm tiếp tục duy trì ổn định. Tổng diện tích cây lâu năm ước đạt 30.290 ha, giảm 0,1% so với cùng kỳ năm trước; trong đó diện tích cây ăn quả đạt 27.892 ha, giảm 0,1%. Một số loại cây ăn quả như chuối, thanh long, na và ổi tiếp tục mở rộng diện tích, trong khi diện tích cây vải giảm do chuyển đổi cơ cấu cây trồng và mục đích sử dụng đất.
Sản lượng cây lâu năm nhìn chung ổn định, nhiều loại cây ăn quả chủ lực tiếp tục tăng so với cùng kỳ năm trước, như chuối tăng 3,3%, ổi tăng 3,6%, xoài tăng 3,1%, mít tăng 1,7%, na tăng 0,8% và bưởi tăng 0,3%.
b. Chăn nuôi
Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, ngành chăn nuôi tiếp tục chịu tác động của giá vật tư đầu vào cao, thị trường tiêu thụ còn biến động và áp lực cạnh tranh ngày càng lớn. Tổng sản lượng thịt gia súc, gia cầm xuất chuồng ước đạt 674,25 nghìn tấn, tăng 2,80% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, sản lượng thịt lợn đạt 54,72 nghìn tấn, tăng 2,15%; gia cầm đạt 75,24 nghìn tấn, tăng 3,87%; sản lượng trứng gia cầm đạt 321,20 triệu quả, tăng 0,12%.
c. Lâm nghiệp
Hoạt động lâm nghiệp trên địa bàn thành phố 6 tháng đầu năm 2026 cơ bản ổn định. Công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng tiếp tục được duy trì; phong trào trồng cây phân tán và trồng rừng phòng hộ ven biển, ven sông được triển khai tại các địa phương.
Diện tích rừng trồng mới tập trung lũy kế ước đạt 110 ha, tương đương cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp phân tán trồng mới đạt 1.145 nghìn cây, tăng 6,6%. Sản lượng gỗ khai thác đạt 7.220 m³, cơ bản ổn định so với cùng kỳ năm trước.
Trong 6 tháng đầu năm, không xảy ra tình trạng phá rừng, khai thác rừng trái phép. Tuy nhiên, xảy ra 01 vụ cháy rừng tại phường Trần Liễu với diện tích khoanh vùng 3,744 ha, không gây thiệt hại về người.
d. Thủy sản
Trong 6 tháng đầu năm 2026, sản xuất thủy sản trên địa bàn thành phố tiếp tục duy trì tăng trưởng khá. Điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi, giá bán nhiều sản phẩm thủy sản ổn định và hiệu quả sản xuất được cải thiện đã tạo điều kiện thuận lợi cho cả nuôi trồng và khai thác thủy sản.
Sản lượng nuôi trồng thủy sản ước đạt 101,5 nghìn tấn, tăng 5,8% so với cùng kỳ năm trước; trong đó sản lượng cá đạt 95,6 nghìn tấn, tăng 5,9%; sản lượng tôm đạt 3,8 nghìn tấn, tăng 4,8%.
Sản lượng khai thác thủy sản ước đạt 60,3 nghìn tấn, tăng 2,7% so với cùng kỳ năm trước; trong đó sản lượng cá đạt 37,5 nghìn tấn, tăng 2,66%; sản lượng tôm đạt 4,7 nghìn tấn, tăng 3,96%.
3. Sản xuất công nghiệp
Sáu tháng đầu năm 2026, sản xuất công nghiệp thành phố Hải Phòng tiếp tục tăng trưởng. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 14,79% so với cùng kỳ năm trước, là năm thứ năm liên tiếp tăng hai con số và chỉ thấp hơn mức tăng của năm 2024 (14,87%). Với kết quả này, Hải Phòng xếp thứ 11/34 tỉnh, thành phố và đứng đầu nhóm các địa phương có quy mô công nghiệp lớn về tốc độ tăng chỉ số sản xuất công nghiệp.
Trong mức tăng 14,79% của chỉ số sản xuất công nghiệp 6 tháng đầu năm 2026, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 15,25%, đóng góp 14,15 điểm phần trăm vào mức tăng chung và tiếp tục là khu vực quyết định tăng trưởng của toàn ngành. Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 9,66%, đóng góp 0,66 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,34%, đóng góp 0,03 điểm phần trăm. Ngược lại, ngành khai khoáng giảm 15,01%, làm giảm 0,05 điểm phần trăm mức tăng chung.
* Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu 6 tháng năm 2026 duy trì mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm trước, tập trung ở nhóm sản phẩm điện tử, công nghệ cao và phương tiện giao thông. Trong đó, bảng điều khiển trò chơi video dự kiến đạt 5.092,5 nghìn cái, gấp 7,3 lần cùng kỳ năm trước; loa đạt 5,4 triệu sản phẩm, gấp 15,34 lần; bộ sản phẩm tổ hợp kim loại đạt 71,2 triệu sản phẩm, tăng 154,3%;…
Ở chiều ngược lại, một số sản phẩm ghi nhận mức sản xuất giảm so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu thuộc nhóm hàng tiêu dùng và một số sản phẩm cơ khí, điện tử. Cụ thể, thuốc lá có đầu lọc sản xuất đạt 37,5 triệu bao, giảm 7,4%; bột giặt và các chế phẩm dùng để tẩy rửa sản xuất đạt 17.831 tấn, giảm 18,63%; thuốc kháng sinh giảm 18,97%; máy tính xách tay sản xuất đạt 895,9 nghìn chiếc, giảm 17,18%; tủ lạnh giảm 18,73%; xe địa hình giảm 25,56%;...
* Số lao động làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/6/2026 dự kiến tăng 1,74% so cùng thời điểm tháng 5/2026 và tăng 3,9% so cùng thời điểm năm trước. Trong đó: lao động khu vực doanh nghiệp nhà nước tăng 9,95%; lao động doanh nghiệp ngoài nhà nước giảm 31,92%; lao động doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 11,96%.
4. Thương mại, dịch vụ
Trong 6 tháng đầu năm 2026, hoạt động thương mại và dịch vụ trên địa bàn thành phố duy trì mức tăng khá. Thị trường hàng hóa ổn định, nguồn cung đáp ứng nhu cầu tiêu dùng; các hoạt động du lịch, lưu trú, ăn uống, vận tải và kho bãi diễn ra sôi động. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 15,91% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng hàng hóa thông qua cảng tăng 11,42%; tổng lượt khách do các cơ sở lưu trú và lữ hành phục vụ đạt 7,28 triệu lượt, tăng 15,04%.
* Tổng mức lưu chuyển hàng hóa và doanh thu dịch vụ
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tháng 6 năm 2026 ước đạt 35.324,5 tỷ đồng, tăng 2,56% so với tháng trước và tăng 15,91% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 6 tháng đầu năm đạt 207.840,4 tỷ đồng, tăng 15,16%.
Theo ngành hoạt động, doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 172.708,8 tỷ đồng, tăng 15,19%; doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống đạt 21.256,0 tỷ đồng, tăng 16,76%; doanh thu du lịch lữ hành đạt 269,3 tỷ đồng, tăng 16,06%; doanh thu các ngành dịch vụ khác đạt 13.606,3 tỷ đồng, tăng 12,36%.
* Số lượt khách do các cơ sở lưu trú và lữ hành thành phố phục vụ
Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, tổng lượt khách do các cơ sở lưu trú và lữ hành phục vụ ước đạt 7.276,7 nghìn lượt, tăng 15,04% so với cùng kỳ năm trước; trong đó khách quốc tế ước đạt 601,0 nghìn lượt, tăng 9,79%.
* Giao thông vận tải,
Hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải trên địa bàn thành phố 6 tháng đầu năm 2026 đạt mức tăng khá nhờ nhu cầu vận chuyển hàng hóa và hành khách tăng cùng với sự phát triển của hoạt động sản xuất, thương mại và xuất nhập khẩu. Doanh thu toàn ngành ước đạt 100.116,7 tỷ đồng, tăng 18,11% so với cùng kỳ năm trước.
Doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 48.262,8 tỷ đồng, tăng 18,06%; khối lượng hàng hóa vận chuyển đạt 257,5 triệu tấn, tăng 16,88%; khối lượng hàng hóa luân chuyển đạt 99.175,7 triệu tấn.km, tăng 18,04%.
Doanh thu vận tải hành khách ước đạt 4.528,5 tỷ đồng, tăng 17,36% so với cùng kỳ năm trước; số lượt hành khách vận chuyển đạt 80,7 triệu lượt, tăng 17,9%; số lượt hành khách luân chuyển đạt 3.468,2 triệu lượt hành khách.km, tăng 17,26%.
5. Hoạt động tài chính, ngân hàng
Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn thành phố Sáu tháng ước đạt 113.552,14 tỷ đồng (vượt kịch bản 6 tháng, đạt 53,6% kịch bản năm), bằng 58,3% dự toán Trung ương giao cả năm, bằng 112,4% so với cùng kỳ năm trước.
Tổng chi ngân sách địa phương sáu tháng ước đạt 35.292 tỷ đồng, đạt 38,9% dự toán trung ương giao và 38,9% dự toán HĐND thành phố giao.
Tổng nguồn vốn huy động trên địa bàn ước tính đến ngày 30/6/2026 đạt 679.576 tỷ đồng, tăng 4,68% so với cuối năm 2025, tăng 10,15% so với cùng kỳ năm 2025.
Tổng dư nợ cho vay đến ngày 30/6/2026 ước đạt 545.743 tỷ đồng, tăng 7,51% so với cuối năm 2025, tăng 19,02% so với cùng kỳ năm 2025.
6. Đầu tư
Trong quý II và 6 tháng đầu năm 2026, hoạt động đầu tư trên địa bàn thành phố tiếp tục tăng trưởng. Tổng vốn đầu tư thực hiện quý II ước đạt 87.431,7 tỷ đồng, tăng 12,18% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm, vốn đầu tư thực hiện đạt 158.516,0 tỷ đồng, tăng 13,97%; trong đó khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và khu vực ngoài nhà nước tiếp tục là hai khu vực đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung.
Vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý lũy kế 6 tháng ước đạt 13.350,2 tỷ đồng, tăng 14,57% so với cùng kỳ và bằng 36,5% kế hoạch năm.
Khu vực vốn ngoài nhà nước tiếp tục duy trì mức tăng khá, lũy kế 6 tháng ước đạt 68.438,4 tỷ đồng, tăng 10,52%. Trong đó, vốn của tổ chức, doanh nghiệp ngoài nhà nước đạt 44.747,0 tỷ đồng, tăng 11,73%; vốn đầu tư của dân cư đạt 23.691,4 tỷ đồng, tăng 8,31%.
Khu vực vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục dẫn đầu về tốc độ tăng trưởng trong ba khu vực nguồn vốn. Lũy kế 6 tháng ước đạt 71.769,8 tỷ đồng, tăng 22,21%. Đây là khu vực đóng góp lớn nhất vào tăng trưởng vốn đầu tư của thành phố. Hoạt động đầu tư tiếp tục tập trung vào các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, điện tử và công nghệ cao. Một số doanh nghiệp lớn như LG Display, LG Innotek, LG Electronics và VinFast tiếp tục đầu tư mở rộng nhà xưởng, bổ sung máy móc, thiết bị nhằm nâng cao năng lực sản xuất.
* Tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngoài
Tính đến ngày 25/6/2026, tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thu hút trên địa bàn thành phố ước đạt 3.135,88 triệu USD, bằng 176,7% so với cùng kỳ năm 2025 (tăng 76,7%).
Đến ngày 25/6/2026, toàn thành phố có 1.853 dự án FDI còn hiệu lực đến từ 42 quốc gia và vùng lãnh thổ, với tổng vốn đăng ký khoảng 54 tỷ USD. Trong đó, vốn đăng ký còn hiệu lực trong các khu công nghiệp, khu kinh tế đạt khoảng 45,9 tỷ USD; ngoài khu công nghiệp, khu kinh tế đạt khoảng 8,1 tỷ USD.
7. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
Sáu tháng đầu năm 2026, mặt bằng giá trên địa bàn thành phố Hải Phòng nhìn chung ổn định. Giá các nhóm hàng hóa và dịch vụ tăng, giảm đan xen dưới tác động của cung - cầu trong nước và diễn biến giá cả trên thị trường thế giới. Nguồn cung lương thực, thực phẩm dồi dào cùng kết quả sản xuất vụ chiêm thuận lợi góp phần làm giảm giá một số mặt hàng thiết yếu. Bên cạnh đó, giá sắt thép và một số vật liệu xây dựng giảm so với cùng kỳ do giá nguyên liệu đầu vào trên thị trường thế giới hạ nhiệt và nhu cầu tiêu thụ phục hồi chậm.
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 6 năm 2026 giảm 0,12% so với tháng trước, tăng 4,82% so với cùng kỳ năm trước và tăng 3,75% so với tháng 12 năm 2025. So với tháng trước, CPI khu vực thành thị giảm 0,11%, khu vực nông thôn giảm 0,13%; trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 5 nhóm giảm giá và 6 nhóm tăng giá. So với cùng kỳ năm trước, cả 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ đều ghi nhận mức tăng giá, trong đó một số nhóm có mức tăng cao như nhà ở và vật liệu xây dựng, giao thông, đồ uống và thuốc lá.
Bình quân 6 tháng đầu năm 2026, CPI tăng 3,95% so với cùng kỳ năm trước. Mức tăng chủ yếu do giá nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng; giá năng lượng và một số nhóm hàng tiêu dùng, dịch vụ tăng so với cùng kỳ. Bên cạnh đó, nhu cầu sử dụng điện, nước tăng trong mùa nắng nóng cũng tác động đến chỉ số giá tiêu dùng. Ở chiều ngược lại, nguồn cung lương thực, thực phẩm dồi dào cùng giá một số vật liệu xây dựng giảm đã góp phần hạn chế mức tăng của CPI trong 6 tháng đầu năm.
* Chỉ số giá vàng
Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, giá vàng biến động mạnh, tăng cao trong các tháng đầu năm và có xu hướng điều chỉnh giảm trong tháng 6, tuy nhiên vẫn duy trì ở mức cao so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá vàng bình quân 6 tháng đầu năm 2026 tăng 57,66% so với cùng kỳ năm 2025.
* Chỉ số giá đô la Mỹ
Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, chỉ số giá đô la Mỹ tăng 1,85% so với cùng kỳ năm trước.
8. Một số vấn đề xã hội
Trong 6 tháng đầu năm 2026, các lĩnh vực văn hóa - xã hội trên địa bàn thành phố Hải Phòng tiếp tục phát triển ổn định và đạt nhiều kết quả tích cực. Thị trường lao động duy trì xu hướng phục hồi, công tác an sinh xã hội, chăm lo người có công và các đối tượng yếu thế được thực hiện đầy đủ, kịp thời. Giáo dục, y tế tiếp tục được quan tâm đầu tư, chất lượng dịch vụ từng bước được nâng cao; công tác phòng, chống dịch bệnh được triển khai hiệu quả. Hoạt động văn hóa, thể thao diễn ra sôi nổi, góp phần nâng cao đời sống tinh thần của Nhân dân.
a. Tình hình lao động việc làm
Lao động từ 15 tuổi trở lên có việc làm của thành phố ước đạt 1.985.010 người, chiếm 98,35% lực lượng lao động, trong đó, khu vực thành thị 1.027.019 người chiếm 51,74%, khu vực nông thôn 957.991 người, chiếm 48,26%. Lao động có việc làm vẫn tập trung ở lĩnh vực công nghiệp như: logistics và sản xuất thông minh, các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.
Trong 6 tháng năm 2026, ước đã tổ chức 60 phiên giao dịch việc làm với 741 lượt doanh nghiệp tham gia; nhu cầu tuyển dụng khoảng 208.630 lượt lao động; tổng số lao động tham gia đạt khoảng 103.000 lượt người, đáp ứng khoảng 49,37% nhu cầu tuyển dụng về số lượng của doanh nghiệp.
b. Công tác an sinh xã hội
Trong 6 tháng đầu năm 2026, các chế độ, chính sách đối với người có công với cách mạng được thực hiện kịp thời, đúng quy định. Thành phố đã công nhận và quản lý 12.240 trường hợp người có công và thân nhân; tiếp nhận, thẩm định, giải quyết chế độ, chính sách cho 4.454 trường hợp; quản lý đối tượng đối với 3.951 trường hợp và ban hành quyết định trợ cấp ưu đãi một lần cho 1.045 trường hợp người có công.
Công tác bảo trợ xã hội tiếp tục được thực hiện đầy đủ, bảo đảm chế độ, chính sách đối với các đối tượng bảo trợ xã hội, người cao tuổi, người khuyết tật và các đối tượng yếu thế.
c. Công tác giáo dục, y tế, văn hóa thể thao
* Công tác giáo dục
Trong 6 tháng đầu năm 2026, quy mô giáo dục trên địa bàn thành phố tiếp tục được duy trì và phát triển, đáp ứng nhu cầu học tập của người dân. Toàn thành phố có 1.092.471 người học; trong đó khu vực công lập có 1.003.921 người, chiếm 91,89%; khu vực tư thục có 88.550 người, chiếm 8,11%. Hằng năm, hệ thống giáo dục nghề nghiệp tuyển sinh bình quân khoảng 96.300 học sinh, sinh viên và học viên.
Chất lượng giáo dục tiếp tục được khẳng . Tại Kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia, Hải Phòng đạt 208 giải, thuộc nhóm bốn địa phương có số lượng giải cao nhất cả nước. Tại Cuộc thi nghiên cứu khoa học, kỹ thuật cấp quốc gia, học sinh thành phố đạt 1 giải Nhất và 4 giải Ba.
* Công tác y tế
Trong 6 tháng đầu năm 2026, công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân tiếp tục được quan tâm. Thành phố tiếp tục triển khai chính sách hỗ trợ khám sức khỏe định kỳ, khám sàng lọc miễn phí cho người dân. Tính đến ngày 20/6/2026, đã tổ chức khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí cho 2.190.345 người, đạt 52% dân số.
* Công tác văn hóa, thể thao
Trong 6 tháng đầu năm 2026, hoạt động văn hóa, thể thao trên địa bàn thành phố diễn ra sôi nổi. Thành phố tổ chức thành công nhiều chương trình nghệ thuật lớn như: “Hải Phòng - Chào năm mới 2026”, “Hải Phòng chào Xuân Bính Ngọ 2026”, “New Year Concert 2026”, Lễ hội Hoa Phượng Đỏ - Hải Phòng 2026 và các chương trình phục vụ nhiệm vụ chính trị. Công tác thể dục thể thao trên địa bàn thành phố tiếp tục được triển khai đồng bộ, đạt nhiều kết quả tích cực trên cả phong trào quần chúng và thể thao thành tích cao.
Phong trào thể dục, thể thao quần chúng và thể thao thành tích cao tiếp tục được duy trì. Thành phố tổ chức thành công 25 môn thi đấu thuộc Đại hội Thể dục thể thao thành phố Hải Phòng lần thứ X (giai đoạn 2025-2026) và đăng cai một số giải thể thao quốc gia. Trung tâm Huấn luyện và Thi đấu Thể thao Hải Phòng cử vận động viên tham gia 66 giải quốc gia và quốc tế, giành 604 huy chương, gồm 142 Huy chương Vàng, 162 Huy chương Bạc và 300 Huy chương Đồng.
d. Tình hình tai nạn giao thông
Trong 6 tháng đầu năm 2026, trên địa bàn thành phố đã xảy ra 426 vụ tai nạn giao thông, làm chết 208 người và bị thương 277 người. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông giảm 30 vụ (tương ứng -6,58%); số người chết giảm 24 người (tương ứng -10,34%) và số người bị thương giảm 33 người (tương ứng -10,65%).
e. Thiệt hại do thiên tai và phòng chống cháy nổ
Trong 6 tháng đầu năm 2026, trên địa bàn thành phố đã xảy ra 29 vụ cháy nổ, giảm 114 vụ so với cùng kỳ năm trước; làm 03 người bị thương, giảm 2 người so với cùng kỳ năm trước. Thiệt hại về tài sản ước tính khoảng 570,9 triệu đồng, giảm 728,95 triệu đồng so với cùng kỳ năm trước.
Tác giả: THỐNG KÊ THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
-
Họp báo công bố số liệu tình hình Kinh tế - Xã hội thành phố Hải Phòng 6 tháng đầu năm 2026
06/07/2026 -
Infographic tình hình kinh tế - xã hội năm tháng 02, 2 tháng đầu năm 2026 thành phố Hải Phòng
02/03/2026 -
Hải Phòng trong nhóm 5 tỉnh, thành phố có quy mô kinh tế lớn nhất cả nước
10/01/2025 -
Dấu ấn tăng trưởng tạo đà bứt phá năm 2025
10/01/2025 -
Thành phố Hải Phòng: Dấu ấn đậm nét trong phát triển kinh tế -xã hội năm 2024
10/01/2025
-
Thông cáo báo chí tình hình Kinh tế - Xã hội tháng 6, 6 tháng đầu năm 2026 thành phố Hải Phòng
-
Infographic tình hình kinh tế - xã hội tháng tháng 6, 6 tháng năm 2026 thành phố Hải Phòng
-
Họp báo công bố số liệu tình hình Kinh tế - Xã hội thành phố Hải Phòng 6 tháng đầu năm 2026
-
Infographic tình hình kinh tế - xã hội tháng tháng 5, 5 tháng năm 2026 thành phố Hải Phòng
-
Thông báo về công khai số liệu quyết toán ngân sách năm 2025



