Tình hình kinh tế - xã hội tháng 3, quý I năm 2026 thành phố Hải Phòng

Thứ ba - 07/04/2026 14:29

 

TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI THÁNG 3, QUÝ I NĂM 2026
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

 

1. Về tăng trưởng kinh tế
Tổng sản phẩm trên địa bàn thành phố (GRDP) quý I năm 2026 tiếp tục duy trì đà tăng trưởng hai con số, trước tác động tiêu cực của tình hình chiến sự trên thế giới leo thang, làm gia tăng rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng và gây áp lực tăng giá xăng dầu, năng lượng. GRDP (theo giá so sánh 2020) quý I/2026 ước tính tăng 11,21% so với cùng kỳ năm trước (đứng thứ nhất trong 06 thành phố trực thuộc trung ương, thứ 2 vùng Đồng bằng sông Hồng và thứ 3 cả nước). 
Cụ thể: Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 12,79% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 6,75 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung; khu vực dịch vụ tăng 10,46%, đóng góp 3,65 điểm phần trăm; khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,27%, đóng góp 0,19 điểm phần trăm; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 9,69%, đóng góp 0,62 điểm phần trăm.
2. Hoạt động tài chính, ngân hàng
2.1 Tài chính
Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn thành phố Quý I ước đạt 56.363,28 tỷ đồng (vượt kịch bản quý I, đạt 28,9% kịch bản năm), bằng 28,9% dự toán Trung ương giao cả năm, bằng 97,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Thu nội địa ước đạt 29.351,47 tỷ đồng (vượt kịch bản quý I, đạt 28,5% kịch bản năm), đạt 28,5% dự toán Trung ương giao cả năm, bằng 78,5% so với cùng kỳ; Thu xuất nhập khẩu ước đạt 20.851,62 tỷ đồng (vượt kịch bản quý I, đạt 24,8% kịch bản năm), bằng 24,8% dự toán Trung ương giao cả năm, bằng 107,3% so với cùng kỳ. 
Tổng chi ngân sách địa phương Qúy I ước đạt 18.362 tỷ đồng, đạt 20,2% dự toán trung ương giao và 20,2% dự toán HĐND thành phố giao, trong đó: Chi đầu tư phát triển ước đạt 8.313 tỷ đồng, đạt 21,4% so với kế hoạch vốn Thủ tướng Chính phủ giao và kế hoạch vốn Hội đồng nhân dân thành phố giao; Chi thường xuyên ước đạt 10.023 tỷ đồng, đạt 22,3% dự toán trung ương và HĐND thành phố giao.         
2.2 Ngân hàng
* Công tác huy động vốn
Tổng nguồn vốn huy động trên địa bàn ước tính đến ngày 31/3/2026 đạt 662.018 tỷ đồng, tăng 1,98% so với cuối năm 2025. 
* Công tác tín dụng
Tổng dư nợ cho vay đến ngày 31/3/2026 ước đạt 523.533 tỷ đồng, tăng 3,13% so với cuối năm 2025. 
3. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 3/2026 ước đạt 101,89%, tăng 1,89% so với tháng trước; tăng 4,31% so với cùng kỳ và tăng 2,63% so với tháng 12/2025. Bình quân quý I tăng 2,85%, là mức cao nhất so với các năm gần đây (quý I/2025: 0,93%; quý I/2024: 0,36%; quý I/2023: 1,46%; quý I/2022: 1,41%).
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 3 năm 2026 ước tăng 1,87% so với tháng trước; các khu vực tăng tương đối đồng đều, trong đó thành thị tăng 1,94%, nông thôn tăng 1,84%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng, tất cả các nhóm đều tăng, trong đó nhóm giao thông tăng cao nhất do tác động của giá xăng dầu.
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 3/2026 so với cùng kỳ năm trước tăng 4,31%, trong đó khu vực thành thị tăng 4,57%, nông thôn tăng 4,08%; cả 11 nhóm hàng đều tăng. Nhóm giao thông tăng cao nhất 10,24%, do giá xăng tăng 22,64%, dầu diesel tăng 59,42%, kéo theo giá vận tải tăng mạnh (đường sắt 21,65%, hàng không 68,38%, đường bộ 2,23%, đường thủy 4,87%).
Chỉ số giá tiêu dùng bình quân quý I năm 2026 tăng 2,85% so với cùng kỳ năm 2025; trong 11 nhóm hàng tiêu dùng chính, có 09 nhóm tăng giá, 02 nhóm giảm giá.
* Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ:
-  Do ảnh hưởng của giá vàng thế giới vẫn xu hướng biến động tăng nên giá vàng trong nước biến động tăng theo. Chỉ số giá vàng tháng này là 101,02%, tăng 1,02% so với tháng trước, giá vàng bình quân tháng 3 là 17.668,0 ngàn đồng/chỉ, tăng 178 ngàn đồng/chỉ. Hiện nay giá vàng vẫn ở mức cao, mức giá phổ biến hiện từ 15.850-16.250 ngàn đồng/chỉ (vàng nhẫn). Bình quân quý I, chỉ số giá vàng tăng 83,87% so với cùng kỳ năm trước.

- Cùng với giá vàng, chỉ số giá đô la Mỹ tháng này là 100,63%, tăng 0,63% so với tháng trước; giá bình quân của đô la Mỹ loại tờ (100 USD) tháng 3 là 2.631.718 đồng/100 USD, tăng 16.384 đồng/100 USD. Hiện nay giá đô la Mỹ phổ biến từ 2.635,5-2.635,8 ngàn đồng/100 USD. Chỉ số giá đô la Mỹ quý I năm 2026 tăng 2,56% so với cùng kỳ năm trước.
4. Đầu tư
Tổng vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn quý I/2026 ước đạt 69.434,9 tỷ đồng, tăng 13,55% so với cùng kỳ năm 2025. Về cơ cấu, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) dẫn đầu với 45,72% tổng vốn; vốn ngoài Nhà nước chiếm 44,37%; vốn Nhà nước chiếm 9,92%, thể hiện xu thế xã hội hóa nguồn lực đầu tư ngày càng sâu rộng.
Vốn đầu tư thực hiện từ ngân sách Nhà nước trên địa bàn quý I năm 2026 ước đạt 5.263,7 tỷ đồng, tăng 7,45% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn do địa phương quản lý đạt 4.825,8 tỷ đồng, tăng 7,64%; vốn do Trung ương quản lý đạt 437,9 tỷ đồng, tăng 5,40%. Kết quả này cho thấy nỗ lực tích cực của thành phố trong việc thúc đẩy giải ngân ngay từ những tháng đầu năm.
Vốn đầu tư khu vực ngoài Nhà nước quý I năm 2026 ước đạt 30.805,1 tỷ đồng, tăng 10,31% so với cùng kỳ năm trước, chiếm 44,37% tổng vốn đầu tư trên địa bàn. Đây tiếp tục là khu vực giữ vai trò trụ cột trong cơ cấu vốn đầu tư, với tăng trưởng chủ yếu được dẫn dắt bởi khu vực doanh nghiệp tư nhân trong nước.
Vốn FDI quý I năm 2026 ước đạt 31.743,3 tỷ đồng, tăng 24,29% so với cùng kỳ, đây là nguồn vốn có tốc độ tăng trưởng cao nhất và chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu (45,72%). Cơ cấu vốn FDI chuyển dịch tích cực, tăng tỷ trọng vốn chủ sở hữu: vốn tự có đạt 24.476,4 tỷ đồng (tăng 27,99%), chiếm 77,1% tổng FDI; vốn vay đạt 7.266,9 tỷ đồng (tăng 13,25%), chiếm 22,9% cho thấy nhà đầu tư nước ngoài tập trung tăng vốn chủ sở hữu vào thị trường, không phụ thuộc nhiều vào đòn bẩy tài chính.
* Tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngoài
Trong quý I/2026, thành phố Hải Phòng tiếp tục đẩy mạnh công tác xúc tiến và thu hút đầu tư nước ngoài, xác định đây là một trong những nguồn lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh của địa phương. Tính đến ngày 16/3/2026, tổng thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đạt 388,3 triệu USD, bằng 75,25% so với cùng kỳ năm 2025 (3 tháng/2025: 516 triệu USD), đạt 10,21% kế hoạch thu hút năm 2026 (kế hoạch: 3.800 - 4.300 triệu USD).
Về phân khu, thu hút FDI trong khu công nghiệp và khu kinh tế đạt 340,9 triệu USD, chiếm 87,78% tổng vốn thu hút toàn địa bàn, song bằng 72,2% so với cùng kỳ (3 tháng/2025: 472,01 triệu USD). Thu hút ngoài khu công nghiệp, khu kinh tế đạt 47,4 triệu USD (chiếm 12,22%), tăng 7,75% so với cùng kỳ (3 tháng/2025: 43,99 triệu USD).
5. Hoạt động của doanh nghiệp
5.1. Tình hình đăng ký doanh nghiệp
Dự tính quý I/2026, toàn thành phố có 2.147 doanh nghiệp thành lập mới (tăng 10,79% so với cùng kỳ), với tổng số vốn đăng ký ước đạt 14.505 tỷ đồng (tăng 18,7% so với cùng kỳ); số chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh thành lập mới trong quý là 1.158 cơ sở (tăng 5,27% so với cùng kỳ); số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh là 2.136 cơ sở (tăng 9,11% so với cùng kỳ); 527 doanh nghiệp giải thể (giảm 0,38% so với cùng kỳ) và 568 đơn vị phụ thuộc chấm dứt hoạt động (tăng 102,2% so với cùng kỳ). 
5.2. Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp
Theo kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý I/2026 cho thấy: Có 63,82% số doanh nghiệp cho rằng tổng thể chung về tình hình sản xuất kinh doanh quý I/2026 so với quý IV/2025 của doanh nghiệp đã giữ được ổn định và tốt lên (18,86% DN đánh giá tốt lên và 44,96% DN đánh giá giữ ổn định); có 36,18% số doanh nghiệp cho rằng khó khăn hơn. Trong đó, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài lạc quan nhất với 69,35% DN cho rằng tốt lên và giữ ổn định (23,62% tốt lên; 45,73% giữ ổn định); khu vực doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp ngoài nhà nước lần lượt là 61,53% (15,38% tốt lên; 46,15% giữ ổn định) và 57,71% (13,71% tốt lên và 44% giữ ổn định). 
Dự báo tình hình sản xuất kinh doanh trong quý II/2026 so với quý I/2026 được 73,90% số doanh nghiệp đánh giá sản xuất giữ ổn định và tốt hơn (35,40% DN đánh giá tốt lên và 38,50% DN đánh giá giữ ổn định); có 26,10% số doanh nghiệp cho rằng khó khăn hơn. Xét theo hình thức sở hữu doanh nghiệp, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đánh giá lạc quan nhất với 78,90% (37,69% tốt lên; 41,21% giữ ổn định); các khu vực khác cũng khá lạc quan như khu vực Doanh nghiệp nhà nước 69,23% số DN đánh giá giữ ổn định và tốt lên (38,46% tốt lên; 30,77% giữ ổn định); khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước có 68,57% số DN đánh giá giữ ổn định và tốt lên (32,57% tốt lên; 36% đánh giá giữ ổn định). 
6. Sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản
6.1. Nông nghiệp
* Trồng trọt
- Sản xuất vụ Đông
Vụ Đông năm 2026, toàn thành phố gieo trồng được 29.079 ha, tăng 0,02% (tăng 6 ha) so với vụ Đông năm trước. Diện tích gieo trồng tăng nhẹ so với cùng kỳ chủ yếu do điều kiện thời tiết thuận lợi trong suốt quá trình sản xuất, từ khâu làm đất, gieo trồng đến sinh trưởng, phát triển và thu hoạch; đồng thời giá bán các loại rau tương đối cao và ổn định, tạo động lực cho người sản xuất mở rộng diện tích. Bên cạnh đó, xu hướng các hộ nông dân thuê đất với quy mô lớn để hình thành vùng chuyên canh rau màu, gắn sản xuất với liên kết tiêu thụ cùng doanh nghiệp tiếp tục được duy trì và phát triển.
Diện tích gieo trồng của nhiều loại cây trồng tăng khá so với vụ Đông năm trước. Trong đó, cây ngô tăng 48 ha, cải các loại tăng 301 ha, bắp cải tăng 141 ha, tỏi lấy củ tăng 108 ha, hành hoa tăng 215 ha,… Ở chiều ngược lại, một số cây trồng có diện tích giảm như: cà rốt giảm 137 ha, hành củ giảm 107 ha, bí xanh giảm 108 ha, dưa chuột giảm 79 ha, cà chua giảm 52 ha,… Xét theo nhóm cây trồng, nhóm cây rau, đậu, hoa có diện tích gieo trồng lớn nhất với 23.396 ha, chiếm 80,45% tổng diện tích gieo trồng; tiếp đến là nhóm cây chất bột có củ đạt 2.105 ha, chiếm 7,24%; nhóm cây lương thực có hạt đạt 1.903 ha, chiếm 6,54%; các nhóm cây trồng khác chiếm tỷ trọng nhỏ.
- Sản xuất vụ Xuân
Sản xuất vụ chiêm xuân năm 2026 diễn ra trong điều kiện tương đối thuận lợi. Thời tiết chủ yếu nắng ấm, nền nhiệt ổn định, ít xảy ra rét đậm, rét hại kéo dài, tạo điều kiện thuận lợi cho các địa phương chủ động triển khai sản xuất ngay từ đầu vụ. Công tác chuẩn bị đất, cơ cấu giống, cung ứng phân bón và các loại vật tư nông nghiệp được thực hiện đồng bộ, kịp thời; nguồn cung vật tư cơ bản đáp ứng yêu cầu sản xuất, góp phần bảo đảm tiến độ gieo trồng theo kế hoạch đề ra.
Nhờ các điều kiện thuận lợi nêu trên, hầu hết diện tích lúa và rau màu vụ xuân được gieo trồng trong khung thời vụ thích hợp, hạn chế rủi ro do thời tiết bất lợi, tạo tiền đề thuận lợi cho cây trồng sinh trưởng và phát triển trong các giai đoạn tiếp theo. Đến nay, toàn thành phố đã hoàn thành gieo trồng vụ chiêm xuân; tổng diện tích gieo trồng ước đạt xấp xỉ 118.000 ha, giảm nhẹ so với cùng kỳ năm 2025; trong đó, diện tích lúa chiêm xuân ước đạt 78.500 ha, diện tích rau các loại vụ xuân ước đạt trên 33.633 ha.
* Chăn nuôi
Trong quý I năm 2026, hoạt động chăn nuôi nhìn chung duy trì ổn định nhờ công tác kiểm soát dịch bệnh được triển khai hiệu quả; giá các sản phẩm chăn nuôi, đặc biệt là giá lợn hơi, duy trì ở mức cao, bảo đảm người chăn nuôi có lãi và tiếp tục tái đàn. Tuy nhiên, căng thẳng chính trị tại khu vực Trung Đông liên quan đến Iran, Israel và Hoa Kỳ đã đẩy chi phí năng lượng và vận tải toàn cầu tăng mạnh, kéo theo giá nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất thức ăn chăn nuôi tăng cao. Từ đầu tháng 3 năm 2026, giá thức ăn chăn nuôi trong nước tăng, tạo áp lực và là thách thức đối với ngành chăn nuôi trong thời gian tới.
Chăn nuôi trâu, bò tiếp tục gặp nhiều khó khăn do hiệu quả kinh tế thấp, giá tiêu thụ thiếu ổn định trong khi chi phí đầu vào (thức ăn, con giống, công chăm sóc) tăng cao; xu hướng chuyển đổi sang các loại vật nuôi khác khiến quy mô đàn tiếp tục thu hẹp. Chăn nuôi lợn quy mô lớn tiếp tục xu hướng phục hồi và tái đàn sau Tết Nguyên đán; sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng quý I ước đạt 28,48 nghìn tấn, bằng 104,4% so với cùng kỳ. 
Đối với chăn nuôi gia cầm, lĩnh vực này tiếp tục duy trì đà tăng trưởng ổn định nhờ lợi thế chu kỳ nuôi ngắn, khả năng quay vòng vốn nhanh và giá tiêu thụ tương đối ổn định. Nhu cầu thị trường đối với thịt và trứng gia cầm trước và sau Tết duy trì ở mức khá, tạo điều kiện cho các cơ sở chăn nuôi ổn định sản xuất. Tính đến hết quý I năm 2026, sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng ước đạt 37,54 nghìn tấn, bằng 103,7% so với cùng kỳ; trong đó, thịt gà ước đạt 30,74 nghìn tấn, bằng 105,2%.
6.2. Lâm nghiệp
Trồng rừng và chăm sóc, nuôi dưỡng rừng: Quý I năm 2026, toàn thành phố ước trồng mới 70,6 ha rừng (chủ yếu là diện tích trồng lại sau khai thác), tăng 1,0% so với cùng kỳ năm 2025; trong đó, phần lớn là rừng trồng cây bạch đàn thuộc rừng sản xuất của khu vực hộ cá thể. Số lượng cây trồng phân tán đạt khoảng 750 nghìn cây, tăng 4,2% so với cùng kỳ năm trước.
Khai thác, thu nhặt gỗ và lâm sản: Ước tính quý I năm 2026, sản lượng khai thác gỗ từ rừng trồng và cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 2.910 m³, tăng 1,4% so với cùng kỳ năm 2025. Các sản phẩm lâm sản khác như tre, nhựa thông, măng tươi, mộc nhĩ… biến động không lớn so với cùng kỳ và chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp toàn thành phố.
6.3. Thủy sản
* Nuôi trồng thủy sản
Diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản quý I năm 2026 ước đạt 23.665 ha; tổng sản lượng thủy sản khai thác và nuôi trồng ước đạt 91.586,5 tấn, tăng 4,6% so với quý I năm 2025. Trong đó, sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 61.140 tấn, tăng 6,1%; sản lượng thủy sản khai thác biển ước đạt 28.883 tấn, tăng 1,9%. Hình thức nuôi thủy sản lồng bè tiếp tục được duy trì và phát triển cả về quy mô và chủng loại; toàn thành phố có 9.443 lồng nuôi, tăng 1,6% so với cùng kỳ.
Trong quý I năm 2026, giá bán các sản phẩm thủy sản có xu hướng tăng so với cùng kỳ năm trước, hiệu quả kinh tế đạt khá; người nuôi mạnh dạn đầu tư mở rộng quy mô sản xuất. Công tác vệ sinh, phòng trừ dịch bệnh được chú trọng thực hiện thường xuyên nên không phát sinh dịch bệnh; chất lượng và chủng loại giống thủy sản ngày càng đa dạng, phù hợp với điều kiện mặt nước nuôi trồng của thành phố.
* Khai thác thủy sản
Sản lượng khai thác thủy sản tháng 3 năm 2026 ước đạt 7.480,096 tấn, bằng 91,22% so với cùng kỳ năm 2025; lũy kế 3 tháng ước đạt 30.446,2 tấn, đạt 22,26% kế hoạch năm 2026. Theo dự báo, không khí lạnh tại khu vực Bắc Bộ trong tháng 3 suy giảm; các loài cá có xu hướng di cư theo chiều thẳng đứng, từ vùng nước sâu vào gần bờ. Với ngư trường khai thác chủ yếu tại Vịnh Bắc Bộ, khu vực phía Nam, Bắc và Đông đảo Bạch Long Vĩ, các đối tượng khai thác chính như cá nổi nhỏ (nục, bạc má…), mực nang, mực ống và một số loài cá đáy (cá bơn, cá hồng…) xuất hiện với mật độ cao. Do đó, đội tàu cá tập trung hoạt động tại khu vực biển đảo Bạch Long Vĩ với các nhóm nghề như lưới rê tầng đáy, chụp, lồng bẫy, lưới kéo, góp phần nâng cao sản lượng khai thác. Từ tháng 3, ngư dân bắt đầu ra khơi nhiều hơn, làm cho sản lượng khai thác thủy sản toàn thành phố tăng dần.
7. Sản xuất công nghiệp
So với tháng 02 năm 2026, chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 3 tăng mạnh, ước tăng 36,23%. Nguyên nhân chủ yếu do tháng 02 trùng với kỳ nghỉ Tết Nguyên đán, số ngày làm việc ít; bước sang tháng 3, các doanh nghiệp đã quay trở lại hoạt động bình thường, đồng thời đẩy nhanh tiến độ sản xuất nhằm bù đắp sản lượng và hoàn thành các đơn hàng.
So với cùng kỳ năm trước, chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 3 tiếp tục duy trì mức tăng trưởng khá, ước tăng 16,44%. Động lực tăng trưởng chủ yếu đến từ một số doanh nghiệp quy mô lớn trong các ngành sản xuất sản phẩm điện tử, đóng tàu và sản xuất phương tiện vận tải, với mức tăng cao, đóng vai trò dẫn dắt và bù đắp cho các ngành tăng trưởng chậm hơn, qua đó góp phần duy trì nhịp độ tăng trưởng chung của toàn ngành công nghiệp trên địa bàn thành phố.
Sản xuất toàn ngành công nghiệp Quý I/2026 tăng 14,88% so với cùng kỳ, trong đó, ngành khai khoáng giảm 35,83%, tác động làm giảm 0,11 điểm phần trăm vào mức tăng chung toàn ngành; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 15,98%, đóng góp 14,74 điểm phần trăm; ngành sản xuất, phân phối điện tăng 3,1%, đóng góp 0,21 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải tăng 3,91%, đóng góp 0,04 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung toàn ngành.
Một số sản phẩm chủ yếu dự kiến tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Bảng điều khiển trò chơi video sản xuất đạt 2.685,4 nghìn cái, tăng 14,8 lần; máy tính xách tay sản xuất đạt 404,5 nghìn cái, tăng 49,33%; bộ sản phẩm tổ hợp kim loại sản xuất đạt 29 triệu sản phẩm, tăng 2,5 lần; bộ đồ ăn bộ đồ đựng nhà bếp bằng nhựa sản xuất đạt 20,4 nghìn tấn, tăng 46,98%; bia đóng chai sản xuất đạt 811 nghìn lít, tăng 2,7 lần,…
Một số sản phẩm chủ yếu dự kiến giảm so với cùng kỳ: thuốc lá có đầu lọc sản xuất đạt 14,9 triệu bao, giảm 38,63%; bột giặt và các chế phẩm dùng để tẩy rửa sản xuất đạt 8.554 tấn, giảm 28,64%; thuốc kháng sinh giảm 13,16%; đá xây dựng sản xuất đạt 246,9 nghìn m3, giảm 41,97%;...
* Lao động làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp 
Tại thời điểm 01/3/2026 số lao động đang làm việc các doanh nghiệp công nghiệp tăng 0,9% so cùng thời điểm tháng 02/2026 và tăng 3,02% so cùng thời điểm năm trước.
Phân theo loại hình kinh tế, lao động khu vực doanh nghiệp nhà nước giảm 1,76%; lao động doanh nghiệp ngoài nhà nước giảm 29,16%; lao động doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 10,82% so với cùng kỳ.
Phân theo ngành kinh tế, lao động ngành khai khoáng tăng 0,73%; lao động ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 3,12%; lao động ngành sản xuất và phân phối điện tăng 0,33%; lao động ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 0,43% so cùng kỳ năm trước.
8. Thương mại, dịch vụ
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tháng 3 năm 2026 ước đạt 33.471,65 tỷ đồng, tăng 3,01% so với tháng trước, tăng 16,06% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ đạt 103.268,97 tỷ đồng, tăng 14,77% so với cùng kỳ năm trước. Động lực tăng trưởng chủ yếu đến từ nhu cầu tiêu dùng tăng cao dịp Tết Nguyên đán và các hoạt động lễ hội, du lịch đầu năm.
8.1.1 Hoạt động bán lẻ
* Tháng 3 năm 2026
Doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 28.693,8 tỷ đồng, tăng 1,57% so với tháng trước và tăng 15,12% so với cùng kỳ năm trước.
Một số nhóm ngành chủ yếu: Lương thực, thực phẩm ước đạt 7.600,8 tỷ đồng, tăng 0,02% so với tháng trước và tăng 16,56% so với cùng kỳ; Đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình ước đạt 6.700,3 tỷ đồng, tăng 0,07% so với tháng trước và tăng 13,89% so với cùng kỳ; Xăng dầu ước đạt 5.195,0 tỷ đồng, tăng 5,47% so với tháng trước và tăng 21,63% so với cùng kỳ. 
* Quý I năm 2026
Doanh thu bán lẻ ước đạt 86.709,7 tỷ đồng, tăng 15,12% so với cùng kỳ năm trước, tăng ở hầu hết các nhóm hàng. Trong đó: Lương thực, thực phẩm tăng 14,02%; may mặc tăng 15,25%; xăng dầu tăng 16,32%; đồ dùng gia đình tăng 14,52%; đá quý, kim loại quý tăng 23,03%;… 
Hoạt động bán lẻ duy trì đà tăng trưởng tích cực, gắn với nhu cầu tiêu dùng, du lịch và vui chơi giải trí tăng cao trong dịp đầu năm. Yếu tố mùa vụ (Tết Nguyên đán) tiếp tục là động lực quan trọng thúc đẩy tiêu dùng, đặc biệt ở các nhóm hàng thiết yếu như lương thực, thực phẩm, may mặc. Nhu cầu mua sắm, biếu tặng và tiêu dùng dịch vụ tăng cao trong dịp lễ đã góp phần nâng tổng mức bán lẻ trong 3 tháng đầu năm. 
8.1.2. Hoạt động dịch vụ
* Tháng 3 năm 2026
- Doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống tháng 3 năm 2026 ước đạt 3.491,06 tỷ đồng, chiếm 10,1% trong tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng, tăng 12,2% so với tháng trước, tăng 15,18% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu hoạt động lưu trú tăng 13,41% so với tháng trước và tăng 15,69% so với cùng kỳ; doanh thu hoạt động dịch vụ ăn uống tăng 12,09% so với tháng trước và tăng 15,14% so với cùng kỳ.
- Doanh thu du lịch lữ hành tháng 3 năm 2026 ước đạt 40,74 tỷ đồng, tăng 41,2% so với tháng trước, và tăng 9,19% so với cùng kỳ năm trước. 
- Doanh thu dịch vụ khác tháng 3 năm 2026 ước đạt 2.246,00 tỷ đồng, tăng 8,19% so với tháng trước và tăng 13,13% so với cùng kỳ năm trước. 
* Quý I năm 2026
Tính chung quý I, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 9.987,69 tỷ đồng, tăng 13,96%, hoạt động du lịch lữ hành đạt 96,16 tỷ đồng, tăng 12,0% và hoạt động dịch vụ khác ước đạt 6.476,46 tỷ đồng, tăng 11,45% so với cùng kỳ năm 2025.
8.2. Số lượt khách do các cơ sở lưu trú và lữ hành phục vụ
Số lượt khách do các cơ sở lưu trú và lữ hành của thành phố phục vụ tháng 3 năm 2026 ước đạt 966,38 nghìn lượt, tăng 13,22% so với cùng kỳ năm trước, trong đó lượt khách quốc tế do các cơ sở lưu trú và lữ hành phục vụ tháng 3 ước đạt 99,12 nghìn lượt, tăng 7,11% so với cùng kỳ năm trước.
Tính chung quý I năm 2026, tổng số lượt khách do cơ sở lưu trú và lữ hành phục vụ ước đạt 2,65 triệu lượt, tăng 13,50% so với cùng kỳ. Trong đó, lượt khách quốc tế do các cơ sở lưu trú và lữ hành phục vụ ước đạt 271,06 nghìn lượt, tăng 8,63% so với cùng kỳ năm trước. 
8.3. Hoạt động vận tải
Ước tính tổng doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và dịch vụ bưu chính, chuyển phát tháng 03 năm 2026 đạt 16.488,85 tỷ đồng, tăng 16,63% so với cùng kỳ năm trước. 
Ước tính quý I năm 2026 doanh thu hoạt động vận tải đạt 48.635,9 tỷ đồng, tăng 15,74% so với cùng kỳ năm trước. 
8.3.1. Vận tải hàng hoá
- Tháng 3 năm 2026
Doanh thu ước tính đạt 7.875,2 tỷ đồng, tương ứng tăng 14,64% so cùng kỳ năm trước; khối lượng hàng hóa vận chuyển trong tháng ước đạt 41,4 triệu tấn, tăng 12,54% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước tính 16.815,1 triệu tấn.km, tăng 20,32% so cùng kỳ năm trước. 
- Quý I năm 2026
Doanh thu ước đạt 23.060,1 tỷ đồng, tăng 13,82%; khối lượng hàng hóa vận chuyển đạt 124,58 triệu tấn, tăng 13,32%; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 48.876,3 triệu tấn.km, tăng 17,15% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả này phản ánh hoạt động sản xuất, kinh doanh trên địa bàn thành phố tiếp tục duy trì ổn định, kéo theo nhu cầu vận chuyển hàng hóa tăng lên.
8.3.2. Vận tải hành khách
- Tháng 3 năm 2026
Doanh thu ước tính đạt 810,7 tỷ đồng, tăng 26,4% so với cùng kỳ năm trước; số lượt hành khách vận chuyển ước đạt 14,5 triệu lượt hành khách, tăng 29,8% so cùng kỳ năm trước; số lượt hành khách luân chuyển ước đạt 629,6 triệu lượt hành khách.km, tương ứng tăng 26,3% so với cùng kỳ năm trước.
- Quý I năm 2026
Cùng với sự ổn định của sản xuất và thương mại, nhu cầu đi lại của người dân trên địa bàn cũng gia tăng trong những tháng đầu năm. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp vận tải xe khách, taxi hiện vẫn đang theo dõi biến động của giá xăng, dầu trong thời gian tới để có quyết định điều chỉnh giá vé từng giai đoạn phù hợp với thực tế.
Doanh thu vận tải hành khách ước đạt 2.325,97 tỷ đồng, tăng 23,04%; số lượt hành khách vận chuyển đạt 41,85 triệu lượt hành khách, tăng 25,74%; số lượt hành khách luân chuyển đạt 1.814,1 triệu lượt hành khách.km, tăng 24,32% so với cùng kỳ năm trước. 
8.3.3. Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải
- Tháng 3 năm 2026
Doanh thu hoạt động hỗ trợ vận tải (cảng, bốc xếp, đại lý vận tải,…) tháng 03 năm 2026 ước tính đạt 7.758,8 tỷ đồng, tăng 17,94% so với cùng kỳ năm trước. 
- Quý I năm 2026
Doanh thu hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 23.097,5 tỷ đồng, tăng 17,01% so cùng kỳ năm trước.
Bên cạnh vận tải hàng hóa và hành khách, các dịch vụ kho bãi, logistics và hỗ trợ vận tải ngày càng giữ vai trò quan trọng trong chuỗi lưu thông hàng hóa. Sự phát triển của các khu công nghiệp cùng hoạt động thương mại và xuất nhập khẩu đã kéo theo nhu cầu lớn về lưu trữ, trung chuyển và phân phối hàng hóa. 
8.3.4. Vận tải hàng không
Tháng 3 năm 2026, tổng doanh thu của Sân bay Cát Bi ước đạt 29,7 tỷ đồng, tăng 18,21% so với cùng tháng năm trước. Ước quý I năm 2026, tổng doanh thu của Ga Hải Phòng đạt 87,44 tỷ đồng, tăng 20,91% so với cùng kỳ năm trước.
8.4. Hàng hoá thông qua cảng
Sản lượng hàng hóa thông qua cảng dự kiến tháng 3 năm 2026 ước đạt 15,76 triệu TTQ, tăng 12,5% so với cùng kỳ năm 2025. Hàng hóa thông qua cảng biển trên địa bàn thành phố quý I năm 2026 ước đạt 42,8 triệu TTQ, tăng 11,1% so với cùng kỳ.
9. Một số tình hình văn hóa – xã hội
9.1.  Tình hình lao động việc làm
Công tác lao động, việc làm và an toàn lao động trên địa bàn thành phố tiếp tục được triển khai hiệu quả, đáp ứng nhu cầu của người lao động và doanh nghiệp.
Trong tháng 3/2026, thành phố tổ chức 13 phiên giao dịch việc làm, với 120 lượt doanh nghiệp tham gia tuyển dụng, nhu cầu tuyển dụng khoảng 29.480 lượt lao động; tổng số lao động tham gia tại sàn đạt khoảng 30.100 lượt người.
Tính chung quý 1/2026, thành phố tổ chức 23 phiên giao dịch việc làm với 220 lượt doanh nghiệp tham gia, nhu cầu tuyển dụng khoảng 56.480 lượt lao động; tổng số người tham gia đạt trên 63.620 lượt, cơ bản đáp ứng nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp. Số người đăng ký hưởng bảo hiểm thất nghiệp khoảng 5.407 người; đã giải quyết hưởng bảo hiểm thất nghiệp cho 5.969 người với tổng số tiền chi trả khoảng 183,1 tỷ đồng. Thông qua giải quyết chế độ bảo hiểm thất nghiệp, đã tư vấn, giới thiệu việc làm cho 5.407 lao động. Ước thực hiện cấp mới 1.085 giấy phép lao động, cấp lại 30 giấy phép lao động, gia hạn 150 giấy phép lao động; xác nhận 15 trường hợp lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam không thuộc diện cấp giấy phép lao động.
Quý I/2026, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của thành phố ước đạt 2.007.048 người, tăng 98.429 người (tương ứng +5,16%) so với cùng kỳ năm 2025 (khu vực thành thị là 816.869 người, chiếm 40,7%; khu vực nông thôn là 1.190.179 người, chiếm 59,3% trong tổng lực lượng lao động. Nam là 1.021.588 người, chiếm 50,9%; nữ là 985.460 người, chiếm 49,1%). 
Lao động từ 15 tuổi trở lên có việc làm của thành phố ước đạt 1.964.900 người, chiếm 97,9% lực lượng lao động, trong đó, khu vực thành thị 803.644 người chiếm 40,9%, khu vực nông thôn 1.161.256 người, chiếm 59,1%. Lao động có việc làm vẫn tập trung ở lĩnh vực công nghiệp như: điện tử, ô tô, lắp ráp máy móc, dệt, chế biến chế tạo.
Tính đến thời điểm báo cáo, trên địa bàn thành phố xảy ra 02 vụ tai nạn lao động làm chết 02 người, bằng cùng kỳ năm 2025.
9.2. Công tác bảo trợ xã hội
Từ ngày 14/02/2026 đến 13/3/2026, Đoàn liên ngành tập trung người lang thang tổ chức kiểm tra, rà soát, tập trung người lang thang trên địa bàn thành phố, Qua 03 đợt thực hiện, đã đưa 07 người vào Trung tâm Công tác xã hội và Bảo trợ trẻ em Hoa Phượng và 11 người vào Trung tâm Nuôi dưỡng Bảo trợ xã hội Hải Dương. 
Tính đến ngày 13/3/2026, tổng số đối tượng bảo trợ xã hội đang được nuôi dưỡng tập trung tại các cơ sở trợ giúp xã hội là 1.731 người.
9.3. Công tác giáo dục
Toàn thành phố hiện có mạng lưới cơ sở giáo dục rộng khắp, với đầy đủ các cấp học: 596 trường mầm non (465 công lập, 131 tư thục) và 425 cơ sở độc lập; 437 trường tiểu học; 426 trường trung học cơ sở; 129 trường trung học phổ thông và phổ thông nhiều cấp. Bên cạnh đó có 17 trung tâm giáo dục thường xuyên, 13 trường trung cấp, 22 trường cao đẳng và 08 trường đại học. Mạng lưới trường lớp được phân bố hợp lý, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận giáo dục..
Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học tiếp tục được đầu tư theo hướng hiện đại; công tác quy hoạch, củng cố mạng lưới trường lớp được triển khai hiệu quả. Tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia đạt khoảng 78,2%. Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên và nhân viên cơ bản đáp ứng yêu cầu với 72.055 người; tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn ở các cấp học đạt mức cao.
Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ tiếp tục được chú trọng; các nhiệm vụ chuyên môn được triển khai hiệu quả. Chất lượng giáo dục ở các cấp học được duy trì ổn định và từng bước nâng cao.
9.4. Công tác y tế
Công tác khám bệnh, chữa bệnh trên địa bàn thành phố tiếp tục được duy trì ổn định, bảo đảm chất lượng và hiệu quả. Ngành Y tế đã triển khai đồng bộ các nhiệm vụ chuyên môn, đạt một số kết quả nổi bật.
Trong tháng, thành phố ghi nhận 13 ca nhiễm HIV mới; tổng số người nhiễm HIV còn sống là 6.519 trường hợp, số tử vong lũy tích 5.499 trường hợp. Hiện có 5.447 người đang điều trị ARV và 1.153 người được điều trị dự phòng trước phơi nhiễm (PrEP). Công tác điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone tiếp tục được duy trì ổn định với 13 cơ sở điều trị, 3.019 bệnh nhân đang điều trị và 945 bệnh nhân được cấp phát thuốc nhiều ngày tại các cơ sở.
9.5. Công tác văn hóa, thể thao
Tổ chức thành công các chương trình nghệ thuật tiêu biểu như: “Hải Phòng - Chào năm mới 2026”; Chương trình nghệ thuật “Sáng mãi vầng dương - Rạng ngời khát vọng” chào mừng thành công Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng; “Hải Phòng chào Xuân Bính Ngọ - 2026” và các hoạt động văn hóa, biểu diễn nghệ thuật phục vụ Nhân dân dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026; Chương trình khai trương Nhà hát Hoa Phượng và Chương trình nghệ thuật “New Year Concert 2026”; phối hợp tổ chức Chương trình hòa nhạc MSB Concert “Hòa nhịp di sản - Bản giao hưởng mùa xuân”.
Tổ chức thành công Lễ hội mùa Xuân Côn Sơn - Kiếp Bạc năm 2026 (từ ngày 26/02/2026 đến hết ngày 11/3/2026) với nhiều hoạt động đa dạng, ý nghĩa. Trong thời gian diễn ra lễ hội, Khu di sản văn hóa thế giới Côn Sơn - Kiếp Bạc đã đón 155.630 lượt khách tham quan, chiêm bái (tăng 28% so với cùng kỳ năm 2025).
Tổ chức thành công 04 chương trình, hoạt động thể dục thể thao chào mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ năm 2026; tổ chức thành công Giải Bán Marathon “Côn Sơn, Kiếp Bạc - Hành trình Di sản thế giới” năm 2026 và Giải Vật dân tộc các câu lạc bộ thành phố.
Đăng cai tổ chức thành công Giải Vô địch các câu lạc bộ Karate quốc gia khu vực miền Bắc lần thứ VI năm 2026 và Giải vô địch Cờ vua quốc gia năm 2026 
9.6.  Tình hình tai nạn giao thông
Theo báo cáo của Phòng cảnh sát giao thông, Công an thành phố Hải Phòng (từ ngày 15/02/2026 đến ngày 14/3/2026) trên địa bàn thành phố xảy ra 53 vụ tai nạn giao thông, làm 28 người chết, 33 người bị thương. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông giảm 15 vụ (tương ứng -22,06%), số người chết giảm 07 người (tương ứng -20%) và số người bị thương giảm 09 người (tương ứng -21,43%). 
Trong 3 tháng đầu năm 2026, trên địa bàn thành phố đã xảy ra  206 vụ tai nạn giao thông, làm chết 101 người và bị thương 130 người. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông giảm 05 vụ (tương ứng -2,37%); số người chết giảm 09 người (tương ứng -8,18%) và số người bị thương giảm 07 người (tương ứng -5,11%).
Từ ngày 15/02/2026 đến ngày 14/3/2026, theo số liệu tổng hợp từ Công an thành phố Hải Phòng, trên địa bàn thành phố xảy ra 06 vụ cháy, nổ, không gây thiệt hại về người, thiệt hại về tài sản ước tính khoảng 175 triệu đồng. 
Trong 3 tháng đầu năm 2026, trên địa bàn thành phố đã xảy ra 12 vụ cháy nổ, giảm 52 vụ so với cùng kỳ năm trước; làm 03 người bị thương, ước giá trị thiệt hại về tài sản khoảng 286 triệu đồng.
 

Tác giả: THỐNG KÊ THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây