Tình hình kinh tế - xã hội tháng 11, 11 tháng năm 2025 thành phố Hải Phòng
TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI THÁNG 11, 11 THÁNG NĂM 2025
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ
1. Hoạt động tài chính, ngân hàng
1.1 Tài chính
Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn thành phố tháng 11/2025 ước đạt 16.138,4 tỷ đồng, trong đó: Thu nội địa đạt 6.612,8 tỷ đồng; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 7.050 tỷ đồng. Ước 11 tháng/2025 thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn thành phố đạt 180.600,9 tỷ đồng, đạt 121,62% dự toán Hội đồng nhân dân thành phố giao và tăng 32,84% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Thu nội địa đạt 97.516,5 tỷ đồng, đạt 130,58% và tăng 42,36%; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 77.676,3 tỷ đồng, đạt 116,63% và tăng 20,95%.
Một số lĩnh vực chủ yếu trong thu nội địa 11 tháng/2025: Thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước đạt 3.188,8 tỷ đồng, tăng 3,72% so với cùng kỳ năm trước; khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 15.607 tỷ đồng, tăng 25,46%; khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đạt 18.239,5 tỷ đồng, tăng 69,13%; thu tiền sử dụng đất đạt 39.968,7 tỷ đồng, tăng 93,41%; thuế thu nhập cá nhân đạt 7.169 tỷ đồng, tăng 32,58%.
Tổng chi ngân sách địa phương tháng 11/2025 ước đạt 6.459,3 tỷ đồng, trong đó: Tổng chi đầu tư phát triển đạt 2.733,1 tỷ đồng; chi thường xuyên đạt 3.719,1 tỷ đồng. Ước 11 tháng/2025, tổng chi ngân sách địa phương đạt 63.885,3 tỷ đồng, đạt 89,13% dự toán Hội đồng nhân dân thành phố giao, trong đó: Tổng chi đầu tư phát triển đạt 28.813 tỷ đồng, đạt 80,64%; chi thường xuyên đạt 33.047,7 tỷ đồng, đạt 96,8%.
1.2. Ngân hàng
* Tình hình thực hiện lãi suất
Tính đến tháng 11, các ngân hàng thương mại trên địa bàn điều chỉnh giảm lãi suất tiền gửi với mức giảm từ 0,1% - 1,0%/năm tùy theo kỳ hạn và hình thức gửi, cụ thể: Tiền gửi không kỳ hạn và kỳ hạn dưới 1 tháng lãi suất phổ biến 0,1% - 0,3%/năm; tiền gửi kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng: lãi suất phổ biến 3,6% - 4,0%/năm; tiền gửi kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng: lãi suất 4,4% - 5,0%/năm, tiếp tục xu hướng giảm nhẹ so với cuối năm; tiền gửi kỳ hạn từ 12 tháng trở lên: lãi suất 5,6% - 5,9%/năm. Lãi suất cho vay tiếp tục có xu hướng giảm so với cùng kỳ năm trước, lãi suất cho vay bằng VND ngắn hạn: 3,9% - 7,1%/năm; lãi suất cho vay VND trung và dài hạn: dao động 7,3% - 10,5%/năm; lãi suất cho vay USD ngắn hạn: khoảng 3,7% - 4,8%/năm; lãi suất cho vay USD trung và dài hạn: dao động 4,8% - 6,6%/năm.
* Công tác huy động vốn
Tổng nguồn vốn huy động trên địa bàn ước thực hiện đến 30/11/2025 đạt 633.000 tỷ đồng, tăng 10,95% so với 31/12/2024.
* Công tác tín dụng
Tổng dư nợ cho vay đến 30/11/2025 ước đạt 487.000 tỷ đồng, tăng 18,71% so với 31/12/2024.
2. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
Từ tháng 11/2025, Điều tra giá tiêu dùng thực hiện theo Quyết định số 922/QĐ-CTK ngày 16/7/2025 của Cục trưởng Cục Thống kê ban hành Phương án Điều tra giá tiêu dùng áp dụng đối với thời kỳ 2025-2030, lấy năm 2024 làm gốc.
Giá lương thực, thực phẩm tiếp tục tăng do ảnh hưởng bởi mưa bão, ngập lụt; giá xăng dầu trong nước tăng theo giá thế giới là những nguyên nhân chính làm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 11 tăng 0,33% so với tháng trước; so với cùng kỳ năm trước tăng 2,89% và bình quân 11 tháng năm 2025 tăng 3,21% so với cùng kỳ năm trước.
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 11 năm 2025 tăng 0,33%, trong đó: Khu vực thành thị tăng 0,46% và khu vực nông thôn tăng 0,21%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng hầu hết các nhóm hàng đều có xu hướng tăng: có 08 nhóm hàng có xu hướng tăng giá, 02 nhóm hàng có xu hướng giảm với mức giảm nhẹ và 01 nhóm hàng ổn định.
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 11 so với cùng kỳ năm trước tăng 2,89%. Trong đó: Khu vực thành thị tăng 2,77%, khu vực nông thôn tăng 3,01%; trong 11 nhóm hàng chính, hầu hết các nhóm hàng đều có xu hướng tăng, có 09 nhóm tăng giá, và 02 nhóm có chỉ số giá giảm.
Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 11 tháng năm 2025 tăng 3,21% so với cùng kỳ năm trước; trong 11 nhóm hàng tiêu dùng chính, có 07 nhóm tăng giá và có 04 nhóm giảm giá.
2.1. Các yếu tố làm tăng CPI 11 tháng năm 2025
- Chỉ số nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 13,03%, hầu hết các mặt hàng trong nhóm đều có xu hướng tăng như: Thuốc các loại tăng 1,91%, dụng cụ y tế tăng 0,81%, riêng nhóm dịch vụ y tế tăng 17,13%;
- Chỉ số giá nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 6,71%, chủ yếu do giá nguyên nhiên vật liệu đầu vào và giá nhà thuê tăng. Trong đó, chỉ số nhóm vật liệu bảo dưỡng nhà ở chính tăng 12,5%; điện sinh hoạt tăng 7,19%; than tăng 3,3%;
- Chỉ số giá nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 4,34%, chủ yếu tăng ở nhóm hàng như: Đồ dùng cá nhân tăng 3,98%, do giá nhóm đồ trang sức tăng 27,01%; dịch vụ phục vụ cá nhân tăng 2,45%;...
- Chỉ số giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,29%, một số mặt hàng trong nhóm đều có xu hướng tăng như: Gạo các loại tăng 3,41%; bột mì và ngũ cốc khác tăng 3,91%; lương thực chế biến tăng 2,3%, thịt gia súc tăng 7,36%; thịt gia cầm tăng 1,2%; thịt chế biến tăng 6,77%; thủy sản tươi sống tăng 2,7%;…
- Chỉ số giá nhóm giáo dục tăng 1,84%, tăng chủ yếu do một số mặt hàng dịch vụ giáo dục tăng 2,1%; một số cơ sở giáo dục ngoài công lập tăng học phí năm học 2024-2025 và Trường Đại học Quản lý và Công nghệ Hải Phòng, Trường Cao đẳng Y dược Hải Phòng và Trường ĐH Hàng Hải điều chỉnh tăng học phí năm học 2025 -2026;
- Chỉ số giá nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,13%, tăng chủ yếu do một số mặt hàng trong nhóm thiết bị đồ dùng trong gia đình như: máy điều hòa tăng 1,3%; đồ điện tăng 0,5%; đồng hồ treo tường và để bàn tăng 1,06%; giường, tủ, bàn ghế tăng 0,71%; đồ dùng bằng kim loại tăng 1,27%; đồ nhựa và cao su tăng 1,69%; hàng dệt trong nhà tăng 0,85%.
- Chỉ số giá nhóm nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,6%, tăng chủ yếu ở một số nhóm hàng thiết yếu như: Nước khoáng và nước có ga tăng 1,35%, bia các loại tăng 0,28% và thuốc hút các loại tăng 1,24%.
2.2. Các yếu tố làm giảm CPI 11 tháng năm 2025
- Chỉ số nhóm giao thông giảm 2,85%, chủ yếu do tác động của giá xăng, dầu diezel do Nhà nước điều chỉnh giảm, riêng chỉ số giá nhóm xăng các loại giảm 8,98%, dầu diezel 0,05S giảm 5,89%. Tuy nhiên, trong nhóm có một số mặt hàng có xu hướng tăng như: bảo dưỡng phương tiện đi lại có chỉ số giá tăng 2,12% do chi phí nhân công và giá điện tăng; dịch vụ giao thông công cộng tăng 10,77% và nhóm phụ tùng xe ô tô, xe máy và xe đạp tăng 0,97% do giá nhập tăng;
- Chỉ số nhóm văn hóa, giải trí và du lịch có xu hướng giảm, giảm 0,47%, chủ yếu do các nhóm hàng như: Thiết bị văn hóa giảm 3,14%, dịch vụ giải trí giảm 1,45%...
- Chỉ số nhóm may mặc, mũ nón và giầy dép giảm 0,23%, chủ yếu do những mặt hàng may mặc, giầy dép có nhiều chương trình giảm giá chào mừng những ngày lễ lớn của đất nước;
- Chỉ số nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,12%, chủ yếu một số mặt hàng điện thoại thông minh giảm nên đã làm cho chỉ số giá thiết bị thông tin và truyền thông giảm 0,43%.
2.3. Chỉ số giá Vàng và đô la Mỹ
- Giá vàng tăng do ảnh hưởng của giá vàng thế giới tăng. Chỉ số giá Vàng tháng này tăng 1,75% so tháng trước; so với tháng 12 năm trước tăng 68,49%, tăng 65,32% so với cùng kỳ năm trước và bình quân cùng kỳ tăng 50,86%. Giá Vàng bình quân là 13.948 ngàn đồng/chỉ, tăng 1.285 ngàn đồng/chỉ.
- Ngược với giá Vàng, chỉ số giá Đô la Mỹ tháng giảm 0,02% so với tháng trước; so với tháng 12 năm trước tăng 3,55%, tăng 3,59% so với cùng kỳ năm trước và bình quân năm trước tăng 3,95%. Giá bình quân của Đô la Mỹ loại tờ (50 - 100 USD) là 2.639.027 đồng/100USD, giảm 2.546 đồng/USD.
3. Đầu tư
Trong 11 tháng năm 2025, dòng vốn đầu tư công trên địa bàn thành phố đã thể hiện sự tăng trưởng tích cực và đi đúng hướng, tập trung mạnh vào các công trình trọng điểm cấp thành phố. Tính chung 11 tháng năm 2025, tổng vốn đầu tư thuộc nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 28.957,8 tỷ đồng, ghi nhận mức tăng trưởng 21,14% so với cùng kỳ năm trước và hoàn thành 82,27% kế hoạch năm. (trong đó: khu vực phía Đông Hải Phòng ước đạt 19.021,5 tỷ đồng, tăng 6,43% so với cùng kỳ; khu vực phía Tây Hải Phòng ước đạt 9.936,3 tỷ đồng, tăng 1,65 lần so với cùng kỳ).
Riêng tháng 11/2025, vốn thực hiện ước đạt 3.955,9 tỷ đồng, tăng 5,69% so với tháng 10. Điều này cho thấy đà tăng tốc thi công đang được duy trì tốt trong những tháng cuối năm.
3.1. Kết quả thực hiện vốn đầu tư
Cơ cấu vốn đã cho thấy sự tập trung nguồn lực rõ rệt cho các dự án lớn, trong đó:
- Vốn cấp Thành phố: Đóng vai trò dẫn dắt với 28.022,3 tỷ đồng (11 tháng), tăng mạnh 24,29%. Đây là kết quả của việc tập trung nguồn lực cho các dự án hạ tầng giao thông và đô thị lớn.
- Vốn cấp Xã: Có sự sụt giảm (11 tháng giảm 31,09%) do tác động khách quan của việc sắp xếp lại đơn vị hành chính cấp xã, khiến một số dự án nông thôn mới tạm dừng.
Kết quả giải ngân khả quan nêu trên đến từ sự chỉ đạo quyết liệt của Thành ủy và UBND thành phố với phương châm "chạy đua cùng thời gian". Điểm nhấn trong công tác điều hành là sự linh hoạt trong điều chỉnh kế hoạch vốn. Quyết định số 4266/QĐ-UBND ngày 26/10/2025 đã kịp thời điều chuyển vốn từ các dự án chậm giải ngân sang các dự án có tiến độ tốt. Cụ thể: Tăng 272 tỷ đồng cho đường nối KĐT Bắc sông Cấm - KCN VSIP - đảo Vũ Yên; tăng 150 tỷ đồng cho các nút giao thông trọng điểm (Bùi Viện - Lê Hồng Phong/Võ Nguyên Giáp); bổ sung 100 tỷ đồng/dự án cho các khu tái định cư phục vụ đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng. Ngoài ra, với tinh thần siết chặt kỷ cương và cải cách thủ tục thành phố đã thực hiện cắt giảm 50% thời gian giải quyết thủ tục hành chính trong đầu tư xây dựng.
3.2. Tiến độ các dự án trọng điểm
- Dự án Đường Vành đai 2 (Tân Vũ - Hưng Đạo - Bùi Viện): Là công trình nhóm A cấp đặc biệt, dự án đang được triển khai đồng bộ. Tại gói thầu nút giao đường liên phường, nhà thầu đã hoàn thành 331/520 cọc khoan nhồi. Lũy kế 11 tháng, dự án giải ngân ước đạt 2.759,5 tỷ đồng.
- Dự án Cầu Nguyễn Trãi và chỉnh trang đô thị: Với tổng mức đầu tư hơn 6.000 tỷ đồng, dự án đang trong giai đoạn huy động tối đa nhân lực và thiết bị để tăng tốc. Lũy kế 11 tháng ước đạt 1.925,5 tỷ đồng, đóng góp lớn vào tổng khối lượng thực hiện toàn thành phố.
- Dự án Đường sau các bến cảng Lạch Huyện (số 3-6): Đang thi công khẩn trương trên chiều dài 1,83 km để đồng bộ hạ tầng cảng biển. Lũy kế 11 tháng đạt 221,7 tỷ đồng.
- Bên cạnh các dự án nội đô, thành phố cũng ghi nhận khối lượng thực hiện lớn tại các dự án liên kết và chỉnh trang đô thị: Dự án đường bao phía Đông Nam quận Hải An: Lũy kế đạt 354,4 tỷ đồng; các dự án kết nối vùng (phát triển đô thị động lực, nâng cấp đường tỉnh 391, đường trục Đông Tây...): đều ghi nhận tiến độ giải ngân ổn định, góp phần hoàn thiện mạng lưới giao thông liên tỉnh.
3.3. Một số giải pháp đẩy nhanh tiến độ thực hiện vốn đầu tư công
Để đảm bảo hoàn thành mục tiêu giải ngân trên 100% kế hoạch vốn Thủ tướng Chính phủ giao, các cấp, các ngành của thành phố cần tập trung vào các giải pháp cấp bách sau:
- Về thi công và thanh toán: Yêu cầu các chủ đầu tư và nhà thầu thực hiện nghiêm túc việc "làm đến đâu nghiệm thu đến đó". Ngay khi có khối lượng, phải hoàn thiện hồ sơ thanh toán để quay vòng vốn, tuyệt đối không dồn ứ hồ sơ vào những ngày cuối năm.
- Về giải phóng mặt bằng (GPMB): Chính quyền địa phương cần chịu trách nhiệm người đứng đầu trong công tác ; tập trung tháo gỡ ngay các vướng mắc tại các dự án trọng điểm, sớm bàn giao mặt bằng sạch cho đơn vị thi công.
- Về kỷ luật thực thi: Tiếp tục rà soát từng dự án theo kịch bản giải ngân từng tuần. Quy trách nhiệm cá nhân cụ thể nếu để xảy ra tình trạng chậm tiến độ không có lý do chính.
3.4. Tình hình thu hút vốn nước ngoài
Tính đến 20/11/2025, thành phố Hải Phòng có 1.768 dự án (bao gồm cả các dự án từ tỉnh Hải Dương cũ) còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư 50,8 tỷ USD. Trong đó: trong khu công nghiệp, khu kinh tế: 1.019 dự án, vốn đầu tư 42,9 tỷ USD; ngoài khu công nghiệp, khu kinh tế: 749 dự án, vốn đầu tư 7,9 tỷ USD.
Tổng thu hút vốn đầu tư nước ngoài đạt 2.556 triệu USD, bằng 63,74% so với cùng kỳ 2024 (11 tháng/2024: 4.006 triệu USD), đạt 46,36% kế hoạch thu hút 2025 (Kế hoạch năm 2025: 5.500 triệu USD). Trong đó, trong khu công nghiệp, khu kinh tế: đạt 2.268,9 triệu USD, chiếm 88,77% số vốn thu hút toàn địa bàn; ngoài khu công nghiệp, khu kinh tế: đạt 287,1 triệu USD, chiếm 11,23% số vốn thu hút toàn địa bàn. Cụ thể:
- Vốn đăng ký cấp mới có có 177 dự án với số vốn cấp mới là 1.420,7 triệu USD. Trong đó: trong khu công nghiệp, khu kinh tế 95 dự án, đạt 1.184,9 triệu USD (chiếm 83,41%); ngoài khu công nghiệp, khu kinh tế 82 dự án đạt 235,8 triệu USD (chiếm 16,59%).
- Điều chỉnh tăng vốn đầu tư: có 130 dự án với số vốn đầu tư tăng thêm 1.057,3 triệu USD. Trong đó: Trong khu công nghiệp, khu kinh tế 114 dự án, vốn đầu tư tăng 1.027,6 triệu USD; ngoài khu công nghiệp, khu kinh tế có 16 dự án, vốn đầu tư tăng là 29,7 triệu USD.
- Thu hút thông qua hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp: có 29 lượt, số vốn đầu tư đăng ký 78 triệu USD. Trong đó: trong khu công nghiệp, khu kinh tế: có 05 lượt, số vốn đầu tư đăng ký là 56,4 triệu USD; ngoài khu công nghiệp, khu kinh tế: có 24 lượt, số vốn đầu tư đăng ký là 21,6 triệu USD.
Từ đầu năm đến 20/11/2025, có 32 dự án thu hồi/chấm dứt hoạt động (ngoài khu công nghiệp: 25 dự án; trong khu công nghiệp: 07 dự án).
4. Sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản
Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tháng 11 năm 2025 trên địa bàn thành phố Hải Phòng nhìn chung diễn ra trong điều kiện thời tiết thuận lợi, phù hợp cho sinh trưởng cây trồng và phát triển chăn nuôi. Giá lợn hơi tiếp tục xu hướng giảm, song tổng đàn lợn và gia cầm vẫn có chiều hướng tăng để phục vụ nhu cầu Tết Nguyên đán; hoạt động lâm nghiệp và thủy sản duy trì ổn định, một số chỉ tiêu tăng khá so với cùng kỳ.
4.1. Nông nghiệp
* Trồng trọt
Sản xuất vụ Mùa 2025: đầu vụ diễn biến thời tiết tương đối thuận lợi cho cây lúa sinh trưởng, phát triển. Sau khi gieo cấy, nông dân tích cực chăm bón nên lúa bén rễ hồi xanh nhanh, đẻ nhánh nhanh và tập trung, lúa tương đối tốt, cao cây, đồng đều. Công tác chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh thực hiện có hiệu quả, nên sâu bệnh phát sinh gây hại ở mức thấp hơn so với trung bình các năm trước. Tuy nhiên, thời điểm cuối tháng 9, đầu tháng 10 vừa qua do ảnh hưởng của hoàn lưu bão số 9 (Ragasa), thành phố Hải Phòng có mưa lớn kéo dài đúng giai đoạn vào chắc của cây lúa, dẫn tới tỷ lệ lúa lép hạt sau khi trưởng thành cao hơn trung bình, năng suất thực tế sơ bộ đạt 57,83 tạ/ha.
Mặc dù vậy, năng suất thực tế vụ Mùa 2025 vẫn đạt khá. Qua tổng hợp kết quả ước tính của các địa phương, năng suất gieo trồng lúa ước đạt 57,83 tạ/ha, tăng 25,32% (+11,32 tạ/ha); sản lượng thóc ước đạt 458.563 tấn, tăng 27,15% (+92.037 tấn) so với cùng kỳ năm 2024. Năng suất ngô ước đạt 56,50 tạ/ha, tăng 2,52% (+1,39 tạ/ha); sản lượng ước đạt 7.108 tấn, tăng 7,39% (+489 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Năng suất trung bình các loại rau ước đạt 216,02 tạ/ha, tăng 1,07% (+2,29 tạ/ha); sản lượng ước đạt 234.638 tấn, tăng 0,29% (+671 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân năng suất và sản lượng lúa cũng như cây hàng năm khác tăng cao so với cùng kỳ năm 2024 vì tháng 9/2024 thành phố Hải Phòng ảnh hưởng nặng nề của bão số 3 (Yagi), làm cho gần 8.000 ha cây hàng năm vụ mùa 2024 bị mất trắng (trong đó lúa gần 7.000 ha).
Sản xuất vụ Đông 2026: Cùng với việc thu hoạch lúa và cây màu vụ Mùa 2025, các địa phương đã tích cực chỉ đạo cơ sở triển khai nhanh việc gieo trồng và chăm sóc các loại cây rau, màu vụ Đông 2026 đảm bảo khung lịch thời vụ. Ước tính đến giữa tháng 10/2025, diện tích ngô gieo trồng đạt 5.585,6 ha; khoai lang đạt 112,6 ha; rau xanh các loại đạt 3.614,2 ha; đỗ tương đạt 9,4 ha; lạc đạt 3,2 ha.
Thị trường tiêu thụ các sản phẩm rau năm nay khá thuận lợi, giá bán tăng từ 5 đến 10% so với cùng kỳ năm 2024. Các vùng chuyên sản xuất rau màu vụ Đông cho hiệu quả kinh tế cao tiếp tục được duy trì, mở rộng diện tích tại một số địa phương có truyền thống trồng màu ở phía Tây thành phố.
* Chăn nuôi
Theo một số chủ trang trại nuôi lợn trên địa bàn thành phố Hải Phòng, hiện nay, giá lợn hơi đang ở mức 49.000 - 50.000 đồng/kg, giảm từ 25.000 - 27.000 đồng/kg so với giữa tháng 3. Đây cũng là mức giá thấp nhất kể từ đầu năm tới nay. Giá thịt lợn hơi tiếp tục xu hướng giảm so với tháng trước và giảm mạnh so với cùng kỳ; nguyên nhân do mưa bão kéo dài khiến cho giao thông bị chia cắt, ảnh hưởng đến việc tiêu thụ lợn hơi ở nhiều địa phương. Bên cạnh đó, thịt nhập khẩu đông lạnh cũng tràn về nhiều và dịch bệnh trong nước vẫn chưa được khống chế làm ảnh hưởng đến tâm lý người tiêu dùng.
Đối với giá sản phẩm thịt gia cầm các loại vẫn giữ ổn định so với tháng trước và so với cùng kỳ. Dự báo nguồn cung thịt gia cầm sẽ tăng khá mạnh vào tháng cuối năm trong bối cảnh sản lượng thịt lợn khó tăng trưởng được như kỳ vọng do ảnh hưởng của dịch tả lợn Châu Phi. Ngày 14/11/2025, dịch tả lợn Châu Phi đã xảy ra tại phường Nam Đồ Sơn, tổng số lợn tiêu hủy do dịch 31 con, trọng lượng tiêu hủy 2.435 kg. Tính đến ngày 24/11/2025 đã qua 10 ngày không phát sinh lợn ốm, chết, tiêu hủy do mắc bệnh Dịch tả lợn Châu Phi trên địa bàn thành phố. Tuy nhiên, tổng đàn lợn và gà vẫn có xu hướng tăng nhẹ do các hộ tái đàn chăn nuôi để phục vụ Tết Nguyên đán sắp đến.
Tổng đàn vật nuôi hiện có toàn thành phố ước cụ thể như sau:
Chăn nuôi trâu, bò: Tổng đàn trâu, bò vẫn có xu hướng giảm do diện tích chăn nuôi thả bị thu hẹp và hiệu quả kinh tế không cao trong khi thời gian chăn nuôi kéo dài, bên cạnh đó giá xuất bán thịt hơi bấp bênh không ổn định cũng phần nào ảnh hưởng đến tâm lý hộ chăn nuôi. Tổng đàn trâu ước đạt 9,31 nghìn con, giảm 4,13%; đàn bò 19,67 nghìn con, giảm 3,97% so với cùng kỳ năm 2024.
Tổng đàn lợn toàn thành hiện tăng so với cùng kỳ chủ yếu tăng ở các hộ chăn nuôi quy mô lớn nhằm phục vụ nhu cầu dịp Tết nguyên đán, đàn lợn ước đạt 519,48 nghìn con, tăng 3,40% so với cùng kỳ năm 2024.
Chăn nuôi gia cầm: Tổng đàn gia cầm toàn thành ước đạt 24,62 triệu con, tăng 0,83%; trong đó, đàn gà 20,44 triệu con, tăng 1,74% so với cùng kỳ.
Mức giảm mạnh về giá lợn hơi phản ánh cả yếu tố cung (tồn trữ, tái đàn quy mô lớn ở một số trang trại) và cầu (giảm mua do gián đoạn vận tải, tâm lý e ngại dịch bệnh, cạnh tranh với nguồn nhập khẩu). Việc tái đàn trước Tết là lý do chính làm tổng đàn tăng, nhưng điều này có thể tạo ra áp lực cung vào đầu năm sau, khiến giá khó hồi phục nếu nhu cầu không tăng tương ứng. Sự ổn định của giá gia cầm cho thấy đây là nguồn thay thế khả dĩ khi nguồn cung thịt lợn gặp khó khăn; tuy nhiên, việc tăng mạnh nguồn cung gia cầm cần đi kèm kiểm soát chất lượng, an toàn thực phẩm.
4.2. Lâm nghiệp
Trong tháng 11/2025, toàn thành phố ước trồng mới 28 ha rừng, giảm 44,0% so với cùng kỳ năm trước; đây chủ yếu là diện tích trồng lại sau khai thác các cây lâm nghiệp bị gãy đổ do bão số 3. Diện tích rừng được chăm sóc ước đạt 178 ha, tăng 80 ha. Diện tích rừng được giao khoán bảo vệ ước đạt 1.560 ha, giảm 625 ha so với cùng kỳ, phần lớn thuộc rừng phòng hộ và rừng đặc dụng. Cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 1,2 nghìn cây, tương đương cùng kỳ năm 2024. Hoạt động lâm nghiệp cơ bản ổn định, tập trung vào phục hồi diện tích bị thiệt hại và chăm sóc rừng sản xuất.
4.3. Thủy sản
Hoạt động thủy sản tiếp tục tăng trưởng ở cả khai thác và nuôi trồng. Sản lượng khai thác tháng 11/2025 ước đạt 9.009 tấn, tăng 159 tấn (+1,79%) so với cùng kỳ. Sản lượng nuôi trồng ước đạt 17.238 tấn, tăng 437 tấn (+2,60%); trong đó cá đạt 16.560 tấn (+2,6%), tôm 500 tấn (+2,6%), thủy sản khác 178 tấn (+2,1%). Những kết quả này cho thấy xu hướng chuyển đổi cơ cấu nuôi theo hướng hiện đại, tăng cường ứng dụng khoa học kỹ thuật; nhiều mô hình nuôi công nghệ cao tiếp tục được triển khai như nuôi tôm trong nhà bạt, nuôi tuần hoàn, mô hình “sông trong ao”. Các đối tượng nuôi chủ lực gồm tôm sú, cua, cá song; ở khu vực nước ngọt, các loại cá truyền thống như trắm đen, trắm cỏ, rô phi được nuôi tập trung; đồng thời mở rộng nuôi các đối tượng mới như chạch, ốc nhồi, ba ba nhằm đa dạng hóa sản phẩm và nâng cao giá trị kinh tế.
5. Sản xuất công nghiệp
Sản xuất công nghiệp của Hải Phòng trong tháng 11 và 11 tháng năm 2025 tiếp tục duy trì ổn định và đạt tăng trưởng cao, khẳng định vai trò là trụ cột kinh tế của thành phố. Chỉ số sản xuất công nghiệp toàn ngành đạt 15,14% sau 11 tháng, với đóng góp của các ngành công nghiệp chủ lực như: sản xuất ô tô, sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính, sản xuất phương tiện vận tải khác; sản xuất sản phẩm từ kim loại…
5.1. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP)
Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 11/2025 ước tính tăng 4,19% so với tháng trước và tăng 16,04% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giữ vững vai trò đầu tầu dẫn dắt tăng trưởng của toàn ngành. Một số ngành công nghiệp chủ lực đạt mức tăng trưởng khá cao so với cùng kỳ phải kể đến như: ngành sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 70,63%; ngành sản xuất các sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 41,96%; ngành sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc và thiết bị tăng 22,01%; ngành sản xuất chế biến thực phẩm tăng 13,89%; ngành sản xuất xe có động cơ tăng 13,55%...
Khu vực phía Đông Hải Phòng ước tính IIP tháng 11/2025 tăng 20,43% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành khai khoáng giảm 55,96%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 21,70%; ngành sản xuất, phân phối điện giảm 23,70%; ngành cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải tăng 12,14%.
Khu vực phía Tây Hải Phòng ước tính IIP tháng 11/2025 tăng 10,36% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành khai khoáng giảm 1,90%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 14,49%; ngành sản xuất, phân phối điện giảm 25,03%; ngành cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải tăng 3,18%.
Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 11 tăng cao hơn tháng 10 cho thấy xu hướng công nghiệp thành phố vẫn tiếp tục đà tăng trưởng. Mặc dù ở một số ngành mức nền năm trước cao nhưng có yếu tố mới tác động nên sản xuất tiếp tục duy trì mức tăng tốt. Cụ thể: ngành sản xuất ô tô (ngành 29) các dòng xe điện của Công ty Vinfast bắt đầu thời điểm tháng 10 năm 2024 công ty đẩy mạnh sản xuất, xuất khẩu mạnh ra thị trường quốc tế. Trong 11 tháng năm 2025 Vinfast xác lập nhiều kỷ lục mới trên thị trường, hơn 179 nghìn xe dự kiến sản xuất, sản lượng ước tăng 118,7%.
Bên cạnh đó một số ngành sản xuất điện tử tiếp tục dự tính tháng 11 tiếp tục tăng trưởng và tăng cao so với cùng kỳ (Công ty TNHH LG Display sản phẩm màn hình ti vi tăng 146,5%; sản phẩm màn hình điện thoại và máy tính bảng tăng 30%; Công ty TNHH Amtran với sản phẩm loa tăng khá cao do có đơn hàng mới; Công ty TNHH Pegatron giai đoạn 3 đi vào sản xuất, có nhiều sản phẩm mới, doanh thu tăng cao; Công ty LG Innotek tăng 47%).
Ước tính chung 11 tháng năm 2025, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 15,14% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, ngành khai khoáng giảm 22,81%, tác động làm giảm 0,06 điểm% vào mức tăng chung toàn ngành; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 16,92% đóng góp 15,65 điểm%; ngành sản xuất, phân phối điện giảm 7,53% tác động làm giảm 0,51 điểm%; ngành cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải tăng 6,64% đóng góp 0,07 điểm% vào mức tăng chung toàn ngành.
Trong vòng 5 năm trở lại đây, chỉ số sản xuất công nghiệp 11 tháng các năm tương đối ổn định với mức tăng khá, ngành công nghiệp chế biến chế tạo luôn là động lực chính dẫn dắt tăng trưởng. Ngược lại, ngành khai khoáng có xu hướng giảm mạnh.
Bên cạnh đó, một số ngành gặp khó khăn do nhu cầu thị trường phục hồi chậm, sản lượng sản xuất 11 tháng đầu năm so với cùng kỳ giảm, tác động xấu đến tốc độ tăng trưởng chung của toàn ngành như: ngành sản xuất và phân phối điện giảm 7,53%; ngành khai khoáng giảm 22,81%; ngành sản xuất sản phẩm thuốc lá giảm 16,68%.
5.2. Chỉ số sử dụng lao động
Tại thời điểm 01/11/2025 số lao động đang làm việc các doanh nghiệp công nghiệp tăng 1,57 % so cùng thời điểm tháng 10/2025 và tăng 3,30% so cùng thời điểm năm trước.
Một số ngành công nghiệp cấp II có chỉ số sử dụng lao động tăng so với cùng kỳ gồm: Sản xuất phương tiện vận tải khác (đóng tàu) tăng 26,79%; ngành khai khoáng khác tăng 21%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 20,49%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 3,10%; sản xuất đồ uống tăng 1,66%;...
Bên cạnh đó một số ngành công nghiệp cấp II có chỉ số lao động giảm so với cùng kỳ như: Sản xuất sản phẩm thuốc lá giảm 4,93%; sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu giảm 7,33%; sản xuất thiết bị điện giảm 11,94%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy giảm 4,87%;...
6. Thương mại, dịch vụ
Trong tháng 11, thành phố tiếp tục triển khai các chương trình kích cầu mua sắm dịp cuối năm; công tác quản lý thị trường, bình ổn giá, chống buôn lậu, gian lận thương mại được triển khai quyết liệt, góp phần giữ ổn định thị trường. Thành phố tổ chức nhiều sự kiện văn hóa, giải trí, mua sắm để Chào mừng ngày Nhà giáo Việt Nam; trưng bày, triển lãm sách và nói chuyện chuyên đề “Hải Phòng – Sắc màu Di sản”; Lễ hội Ẩm thực Hàn Quốc - K-Food Fair 2025,… Do vậy, hoạt động bán buôn, bán lẻ và vận tải tháng 11 đạt mức tăng trưởng khá.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu tiêu dùng tháng 11 ước tính tăng 1,24% so với tháng trước, tăng 16,54% so với cùng kỳ. Tính chung 11 tháng năm 2025 tăng 15,31% so với cùng kỳ năm 2024.
6.1. Tổng mức lưu chuyển hàng hóa và doanh thu dịch vụ
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tháng 11 năm 2025 ước đạt 33.730,8 tỷ đồng, tăng 1,24% so với tháng trước, tăng 16,54% so với cùng kỳ năm trước. Ước tính 11 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ đạt 343.497 tỷ đồng, tăng 15,31% so với cùng kỳ năm trước.
Trong đó: khu vực phía Đông Hải Phòng tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ 11 tháng/2025 ước đạt 235.912,3 tỷ đồng (tăng 14,84% so với cùng kỳ, chiếm 68,68% tổng mức chung); khu vực Tây Hải Phòng ước đạt 107.584,7 tỷ đồng (tăng 16,33% so với cùng kỳ, chiếm 31,32% tổng mức chung).
6.1.1. Hoạt động bán lẻ
Doanh thu tháng 11/2025 ước đạt 27.955,4 tỷ đồng, tăng 1,42% so với tháng trước, tăng 16,73% so với cùng kỳ. Hoạt động bán lẻ hàng hóa duy trì đà tăng trưởng ổn định, các nhóm ngành hàng tiếp tục tăng trưởng so với tháng trước. Tuy nhiên hiện nay do tình hình hàng giả, hàng không rõ nguồn gốc tràn lan nên người tiêu dùng có xu hướng thận trọng và khắt khe hơn trong việc chọn lựa và chi tiêu. Ngành hàng đá quý kim loại quý và sản phẩm có xu hướng tăng do giá vàng liên tục tăng trong thời gian gần đây, nhóm ngành hàng thiết yếu như lương thực, thực phẩm, đồ dùng gia đình, nhiên liệu tăng trưởng ổn định, nhóm ngành hàng gỗ và vật liệu xây dựng tăng cao do nhu cầu xây dựng, hoàn thiện công trình trong những tháng cuối năm tăng cao.
Doanh thu hoạt động bán lẻ 11 tháng năm 2025 ước đạt 284.727,3 tỷ đồng, tăng 15,62% so với cùng kỳ và tăng ở hầu hết các ngành hàng. Hoạt động thương mại bán lẻ 11 tháng năm 2025 tiếp tục tăng trưởng so với cùng kỳ năm 2024, các hoạt động ăn uống, du lịch, vui chơi giải trí, lễ hội, nghỉ lễ 30/4-1/5, nghỉ hè,… đã góp phần thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động mua sắm, tiêu dùng. Một số chương trình nổi bật thu hút đông đảo nhân dân và du khách tham dự trong nhiều ngày, đặc biệt sự kiện Vincom Mega Mall Royal Island tại dự án Vinhomes Vũ Yên chính thức khai trương vào ngày 03/10 được đông đảo người dân chào đón và tham gia. Đây là một trong những trung tâm thương mại hiện đại bậc nhất thành phố, hứa hẹn trở thành điểm hẹn mua sắm, ăn uống và giải trí hàng đầu miền Bắc, góp phần làm tăng doanh thu hoạt động bán lẻ. Bên cạnh đó, các nhóm ngành lương thực, thực phẩm, đồ dùng gia đình, văn hóa giáo dục, bán lẻ ô tô, nhiên liệu, xăng dầu,... tiếp tục có sự tăng trưởng ổn định.
6.1.2. Hoạt động dịch vụ
Hoạt động các ngành lưu trú ăn uống và dịch vụ khác trong tháng vẫn tăng trưởng ổn định và có nhiều khởi sắc. Doanh thu các ngành dịch vụ ước tính tháng 11 và 11 tháng năm 2025 như sau:
- Doanh thu dịch vụ lưu trú tháng 11 năm 2025 ước đạt 236,9 tỷ đồng, giảm 15,35% so với tháng trước và tăng 13,46% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 11 tháng/2025, doanh thu lưu trú ước đạt 3.121,3 tỷ đồng, tăng 16,92% so với cùng kỳ năm trước.
- Doanh thu dịch vụ ăn uống tháng 11 năm 2025 ước đạt 3.296,8 tỷ đồng, giảm 0,02% so với tháng trước và tăng 18,06% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 11 tháng/2025, doanh thu ăn uống ước đạt 32.353,1 tỷ đồng, tăng 5,52% so với cùng kỳ năm trước.
- Doanh thu du lịch lữ hành tháng 11 năm 2025 ước đạt 31,5 tỷ đồng, giảm 0,26% so với tháng trước, và tăng 16,53% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 11 tháng/2025, dịch vụ du lịch lữ hành ước đạt 479,3 tỷ đồng, tăng 14,77% so với cùng kỳ năm trước.
- Doanh thu dịch vụ khác tháng 11 năm 2025 ước đạt 2.210,2 tỷ đồng, tăng 3,09% so với tháng trước, tăng 12,39% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 11 tháng/2025, dịch vụ khác ước đạt 22.816,1 tỷ đồng, tăng 10,95% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, doanh thu lĩnh vực kinh doanh bất động sản trong 11 tháng năm 2025 ước đạt 9.817,9 tỷ đồng, tăng 11,41% so với cùng kỳ. Một số nhóm dịch vụ khác tiếp tục tăng trưởng như nhóm: hoạt động cho thuê máy móc, thiết bị tăng 10,66%; hoạt động thể thao, vui chơi và giải trí ước tăng 19,9%,...
6.2. Số lượt khách đến thành phố
Để thúc đẩy thu hút du khách đến với thành phố Hải Phòng, trong tháng 11 thành phố tổ chức trưng bày, triển lãm sách và nói chuyện chuyên đề Chủ đề “Hải Phòng – Sắc màu Di sản”; Lễ hội Ẩm thực Hàn Quốc - K-Food Fair 2025 và Đại nhạc hội Việt – Hàn…đã thu hút lượng lớn du khách đến thành phố.
Tổng lượt khách tháng 11 đến thành phố ước đạt 914,8 nghìn lượt, tăng 17,59% so với cùng kỳ, trong đó khách quốc tế ước đạt 94,3 nghìn lượt, tăng 17,31% so với cùng kỳ. Cộng dồn 11 tháng năm 2025, tổng lượt khách thành phố phục vụ ước đạt 13,77 triệu lượt, tăng 26,3% so với cùng kỳ, trong đó, khách quốc tế ước đạt 1.040,3 nghìn lượt, tăng 10,71% so với cùng kỳ.
6.3. Giao thông vận tải, bưu chính, viễn thông
Hoạt động vận tải tháng 11 năm 2025 trên địa bàn thành phố Hải Phòng tiếp tục duy trì đà tăng cao so với cùng kỳ năm trước.
Ước tính tổng doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và dịch vụ bưu chính, chuyển phát tháng 11 năm 2025 đạt 15.387,4 tỷ đồng, tăng 16,95% so với cùng kỳ năm trước.
Ước tính 11 tháng năm 2025, doanh thu hoạt động kinh doanh vận tải và dịch vụ hỗ trợ vận tải trên địa bàn thành phố đạt 157.548,1 tỷ đồng, tăng 14,87% so với cùng kỳ năm trước.
Kết quả hoạt động vận tải trong 11 tháng qua cho thấy sản lượng các loại hình vận tải đều tăng trưởng, phát triển vượt bậc, chất lượng phương tiện, chất lượng phục vụ, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, cung cấp dịch vụ được đẩy mạnh, đáp ứng tốt nhu cầu đi lại của người dân và vận chuyển hàng hóa, tiết kiệm chi phí xã hội. Cụ thể, hoạt động từng loại hình như sau:
6.3.1. Vận tải hàng hoá
- Tháng 11 năm 2025
Doanh thu ước tính đạt 7.495,5 tỷ đồng, tương ứng tăng 15,43% so cùng kỳ năm trước; khối lượng hàng hóa vận chuyển trong tháng ước đạt 40,9 triệu tấn, tăng 14,5% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước tính đạt 16.058,9 triệu tấn.km, tăng 17,83% so cùng kỳ năm trước.
Hoạt động vận tải hàng hóa tiếp tục có đà tăng trưởng khả quan so với cùng kỳ năm trước khi nguồn hàng và nhu cầu vận chuyển hàng hóa tăng. Ngoài ra, sự sôi động của hoạt động thương mại, giao thương hàng hóa cuối năm gia tăng tác động làm hoạt động vận tải hàng hóa tăng trưởng tốt.
- 11 tháng năm 2025
Doanh thu vận tải hàng hóa 11 tháng ước đạt 75.759,1 tỷ đồng, tăng 13,21%; khối lượng hàng hóa vận chuyển đạt 410,4 triệu tấn, tăng 11,2%; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 157.589,7 triệu tấn.km, tăng 15,18% so với cùng kỳ năm trước.
6.3.2. Vận tải hành khách
- Tháng 11 năm 2025
Doanh thu ước tính đạt 701,4 tỷ đồng, tăng 20,75% so với cùng kỳ năm trước; số lượt hành khách vận chuyển ước đạt 12,9 triệu lượt hành khách, tương ứng tăng 24,99% so cùng kỳ năm trước; số lượt hành khách luân chuyển ước đạt 534,3 triệu lượt hành khách.km, tương ứng tăng 20,38% so với cùng kỳ năm trước.
- 11 tháng năm 2025
Doanh thu ước đạt 7.256,8 tỷ đồng, tăng 15,05%; số lượt hành khách vận chuyển đạt 130,7 triệu lượt hành khách, tăng 17,48%; số lượt hành khách luân chuyển đạt 5.547,9 triệu lượt hành khách.km, tăng 13,69% so với cùng kỳ năm trước.
6.3.3. Hoạt động hỗ trợ vận tải
- Tháng 11 năm 2025
Doanh thu hoạt động hỗ trợ vận tải (cảng, bốc xếp, đại lý vận tải,…) tháng 11 năm 2025 ước tính đạt 7.142,7 tỷ đồng, tăng 18,26% so với cùng kỳ năm trước.
Dịch vụ bốc xếp, lưu kho, logistics tăng cao so cùng kỳ do hoạt động sản xuất kinh doanh trong tháng tiếp tục duy trì sự ổn định và phát triển, sản lượng hàng hóa có sự tăng trưởng tốt đã tạo ra nhu cầu lưu thông hàng hóa.
- 11 tháng năm 2025
Hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải 11 tháng năm 2025 tiếp tục ghi nhận xu hướng tăng trưởng cao. Doanh thu ước đạt 74.040,6 tỷ đồng, tăng 16,59% so cùng kỳ năm trước.
6.3.4. Vận tải hàng không
Tháng 11 năm 2025, tổng doanh thu của Sân bay Cát Bi ước đạt 21,6 tỷ đồng giảm 1,11% so với cùng tháng năm trước. Cộng dồn 11 tháng, tổng doanh thu của Sân bay Cát Bi ước đạt 272,4 tỷ đồng, tăng 13,77% so với cùng kỳ.
Số lần máy bay hạ, cất cánh tháng 11 năm 2025 ước đạt 1.100 chuyến. Tổng số hành khách tháng 11 năm 2025 ước đạt 200,0 nghìn lượt người. Cộng dồn 11 tháng, tổng số hành khách vận chuyển ước đạt 2.283,8 nghìn lượt người, tăng 9,57% so với cùng kỳ năm trước.
Tổng số hàng hóa tháng 11 năm 2025 ước đạt 770 tấn. Cộng dồn 11 tháng, tổng số hàng hóa ước đạt 11.035 tấn.
6.4. Hàng hoá thông qua cảng
Sản lượng hàng hóa thông qua cảng dự kiến tháng 11 năm 2025 ước đạt 24,891 triệu TTQ, tăng 15,1% so với cùng kỳ năm 2024. Cụ thể:
- Khối cảng thuộc kinh tế Nhà nước ước tháng 11 năm 2025 đạt 5,272 triệu TTQ, tăng 12,81% so với cùng kỳ năm 2024.
- Các cảng thuộc khu vực kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 19,619 triệu TTQ, tăng 15,7% so với cùng kỳ năm 2024.
Hàng hóa thông qua cảng biển trên địa bàn thành phố 11 tháng năm 2025 đạt 187,625 triệu TTQ, tăng 12,11% so với cùng kỳ năm 2024.
* Doanh thu cảng biển 11 tháng năm 2025 đạt 7.607,4 tỷ đồng, tăng 10,87% so với cùng kỳ năm 2024.
II. VĂN HÓA - XÃ HỘI
Đời sống dân cư và công tác an sinh xã hội trên địa bàn thành phố trong tháng 11/2025 tiếp tục được chính quyền các cấp quan tâm. Các chính sách an sinh xã hội được triển khai kịp thời, hiệu quả, đảm bảo đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân.
1. Tình hình lao động việc làm
Tháng 11 năm 2025, ước tổ chức 10 phiên giao dịch việc làm thu hút 95 lượt doanh nghiệp tham gia tuyển dụng với nhu cầu tuyển dụng là 30.220 lượt lao động; cung lao động tại sàn đạt 16.400 lượt lao động (đáp ứng được 54,27% nhu cầu tuyển dụng). Đăng ký bảo hiểm thất nghiệp 2.509 người, đã giải quyết chế độ bảo hiểm thất nghiệp cho 2.225 người, với kinh phí là 65,01 tỷ đồng. Qua giải quyết chế độ thất nghiệp đã tư vấn, giới thiệu việc làm cho 2.509 người. Ước cấp mới khoảng 470 giấy phép lao động, cấp lại khoảng 20 giấy phép lao động, gia hạn gần 70 giấy phép lao động, xác nhận 02 lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam không thuộc diện cấp giấy phép lao động.
Trong 11 tháng năm 2025, ước tổ chức 95 phiên giao dịch việc làm, thu hút 1.330 lượt doanh nghiệp tham gia tuyển dụng với nhu cầu tuyển dụng là 328.790 lượt lao động; cung lao động tại sàn đạt 210.035 lượt (đáp ứng 63,88% nhu cầu tuyển dụng). Đăng ký bảo hiểm thất nghiệp 26.624 người, giải quyết chế độ bảo hiểm thất nghiệp cho 25.592 người, với kinh phí là 683,7 tỷ đồng. Qua giải quyết chế độ thất nghiệp đã tư vấn, giới thiệu việc làm cho 26.624 người. Ước cấp mới khoảng 7.560 giấy phép lao động, cấp lại khoảng 600 giấy phép lao động, gia hạn khoảng 1.810 giấy phép lao động, xác nhận cho 115 lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam không thuộc diện cấp giấy phép lao động.
Tính đến thời điểm báo cáo, trên địa bàn thành phố xảy ra 02 cuộc đình công với trên 1,1 nghìn người tham gia; xảy ra 30 vụ tai nạn lao động chết người làm 32 người chết.
2. Công tác an sinh xã hội
2.1. Công tác người có công
Trong 11 tháng năm 2025, các Sở, ngành đã phối hợp thực hiện các thủ tục hỗ trợ xây mới, sửa chữa nhà ở cho 2.018 hộ người có công (838 hộ xây mới và 1.180 hộ sửa chữa) theo Nghị quyết số 08/2022/NQ-HĐND ngày 20/7/2022 của HĐND thành phố và Quyết định số 21/2024/QĐ-TTg ngày 22/11/2024 của Thủ tướng Chính phủ với tổng kinh phí 144.145,43 triệu đồng; trong đó, thành phố Hải Phòng cũ hỗ trợ 1.164 hộ (520 hộ xây mới và 644 hộ sửa chữa) với số tiền 81.800,43 triệu đồng; tỉnh Hải Dương, hỗ trợ xây mới và sửa chữa nhà ở đối với 854 hộ gia đình người có công, thân nhân liệt sĩ (318 hộ xây mới và 536 hộ sửa chữa) với kinh phí 58.600 triệu đồng.
Trong 11 tháng năm 2025, Quỹ Đền ơn đáp nghĩa thành phố thực hiện trích kinh phí hỗ trợ người có công với cách mạng, thân nhân liệt sĩ với tổng số tiền 4.765 triệu đồng.
2.2. Công tác bảo trợ xã hội
Từ ngày 15/10/2025 đến 14/11/2025, Đoàn liên ngành tổ chức đi kiểm tra, rà soát, tập trung người lang thang trên địa bàn thành phố, kết quả: 5 đợt tập trung đưa được 08 người lang thang vào Trung tâm Công tác xã hội và Bảo trợ trẻ em Hoa Phượng.
Số liệu đối tượng tại các cơ sở nuôi dưỡng bảo trợ xã hội: Tại thời điểm ngày 14/11/2025, tổng số đối tượng bảo trợ xã hội đang nuôi dưỡng tập trung tại các cơ sở trợ giúp xã hội là 1.738 người, cụ thể tại các đơn vị như sau:
- Trung tâm Điều dưỡng Người tâm thần Hải Phòng: 443 người.
- Trung tâm Công tác xã hội và Bảo trợ trẻ em Hoa Phượng: 114 người gồm: 30 người lang thang và 84 trẻ em (trong đó 27 trẻ nhiễm HIV; 57 trẻ không có nguồn nuôi dưỡng)
- Làng Trẻ em SOS Hải Phòng: 119 người (trong đó 98 trẻ sống tại Làng và 21 trẻ đang học ĐH, CĐ và nghề)
- Trung tâm Nuôi dưỡng Bảo trợ xã hội Hải Phòng: 86 người (trong đó có 72 đối tượng bảo trợ và 14 người tự nguyện).
- Trung tâm Nuôi dưỡng Bảo trợ xã hội Hải Dương: 522 người (trong đó 26 người cao tuổi, 02 người lang thang, 03 trẻ em không có nguồn nuôi dưỡng, 114 người khuyết tật đặc biệt nặng, 355 trẻ em khuyết tật học văn hóa, 22 người khuyết tật học nghề).
- Trung tâm Điều dưỡng Người tâm thần Hải Dương: 454 người
3. Công tác giáo dục, y tế, văn hóa thể thao
3.1. Công tác giáo dục
Thành phố đầu tư phát triển hạ tầng giáo dục, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục; đồng thời, củng cố và hoàn thiện mạng lưới trường, lớp học theo quy hoạch; xây dựng cơ sở vật chất, thiết bị trường học theo hướng đạt chuẩn quốc gia.
Tính đến tháng 11/2025, toàn thành phố ước 77,48% số trường đạt chuẩn quốc gia. Đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục các cấp cơ bản đáp ứng được yêu cầu về số lượng, chất lượng.
Trong 11 tháng năm 2025, thành phố triển khai hiệu quả các nhiệm vụ năm học 2024-2025; công tác tổ chức Kỳ thi tuyển sinh lớp 10 THPT và Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2025 đảm bảo tiến độ, an toàn, đúng quy chế. Chất lượng giáo dục toàn diện và mũi nhọn được nâng cao. Thực hiện tốt Kế hoạch kiểm định, đánh giá công nhận trường đạt chuẩn quốc gia các cấp. Tổ chức thành công Hội nghị tổng kết năm học 2024-2025 và triển khai nhiệm vụ năm học 2025-2026 toàn ngành và đối với các lĩnh vực: Gáo dục Mần non, Giáo dục Tiểu học, Giáo dục Trung học.
Công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực, nghiệp vụ cho đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục tiếp tục được quan tâm, chú trọng, ngành giáo dục đã triển khai tập huấn về ứng dụng công nghệ thông tin và trí tuệ nhân tạo trong dạy học cho cán bộ quản lý, giáo viên tại các cơ sở giáo dục trên địa bàn thành phố.
Công tác chuyển đổi số trong giáo dục tiếp tục được đẩy mạnh; hoàn thành hợp nhất cơ sở dữ liệu giáo dục Hải Phòng - Hải Dương; triển khai học bạ điện tử đảm bảo 100% cấp tiểu học và thí điểm ở bậc trung học.
3.2. Công tác y tế
Thành phố đã chỉ đạo, ban hành các văn bản triển khai thực hiện công tác phòng, chống dịch bệnh trên địa bàn thành phố như: chỉ đạo triển khai tiêm vắc xin Uốn ván - Bạch hầu giảm liều (Td) trên địa bàn thành phố Hải Phòng năm 2025; chỉ đạo về việc nghiêm túc triển khai đồng bộ, hiệu quả các giải pháp phòng, chống bệnh cúm gia cầm; văn bản chấn chỉnh Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp về công tác báo cáo và khai báo bệnh, dịch bệnh truyền nhiễm theo Thông tư số 54/2015/TT-BYT; chỉ đạo tăng cường công tác phòng, chống dịch bệnh Sốt xuất huyết Dengue tại phường Thành Đông, xã An Lão và các địa phương;
Trung tâm Kiểm soát bệnh tật đã thực hiện giám sát hỗ trợ hoạt động phòng chống dịch bệnh sốt xuất huyết Dengue (SXHD) tháng 11/2025 tại Hải An, Tứ Minh, Cẩm Giang; giám sát hoạt động phòng, chống sốt rét; hỗ trợ đơn vị xử lý ổ dịch. Thường xuyên cập nhật các thông tin về các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, mới nổi được ghi nhận gần đây, có nguy cơ xâm nhập vào nước ta để chủ động áp dụng các biện pháp giám sát, phối hợp với các đơn vị y tế khác xử lý ổ dịch không để bùng phát tại cộng đồng; Giám sát công tác phòng chống dịch bệnh SXHD tại các xã, phường có nhiều ca bệnh và có ổ dịch thứ phát: An Biên, An Lão, Thành Đông,… Giám sát véc tơ truyền bệnh SXHD tại: Vĩnh Bảo, Tiên Lãng, Kiến Thuỵ, An Lão, Dương Kinh và phối hợp với Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung ương thực hiện giám sát véc tơ và hoạt động phòng chống sốt xuất huyết tại phường Hải An và phường Hải Dương.
Thực hiện giám sát ca bệnh truyền nhiễm và huyết thanh tại các bệnh viện tuyến thành phố: Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp, Bệnh viện Trẻ em, Bệnh viện Kiến An, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế, Bệnh viện Đa khoa Hải Dương,…
Trong tháng toàn thành phố ghi nhận 190 ca bệnh sốt xuất huyết (A97), tăng 72 ca so với tháng trước; 11 ca bệnh sởi (B05), giảm 4 ca so với tháng trước; 09 ca bệnh COVID-19 (U07), giảm 2 ca so với tháng trước; 165 ca bệnh tay - chân - miệng (A08), tăng 21 ca so với tháng trước; 1 ca bệnh thủy đậu (B01), giảm 2 ca so với tháng trước; 67 ca bệnh tiêu chảy (A09), giảm 26 ca so với tháng trước; 25 ca Cúm (J10), tăng 44 ca so với tháng trước.
Tháng 11/2025 ghi nhận 17 ca nhiễm HIV mới; Số người nhiễm HIV đang còn sống đến thời điểm báo cáo là 9.078 trường hợp; Số người nhiễm HIV tử vong lũy tích là 7.333 trường hợp. Hiện tại điều trị ARV cho 7.459 người; số hiện đang điều trị PreP cho 1.019 người.
3.3. Công tác văn hóa, thể thao
* Văn hoá
Trong tháng 11 năm 2025, toàn ngành Văn hóa Thể thao và Du lịch thành phố tập trung tổ chức các hoạt động tuyên truyền, cổ động trực quan, các hoạt động văn hóa, văn nghệ, gia đình, thể dục thể thao và du lịch, phong phú, đa dạng, tạo được không khí vui tươi, sôi nổi, rộng khắp trên toàn thành phố, thiết thực chào mừng kỷ niệm các ngày lễ lớn, các sự kiện chính trị của đất nước và thành phố; đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa tinh thần của Nhân dân thành phố.
Chỉ đạo các nhà hát, Trường Trung cấp Văn hóa nghệ thuật và Du lịch, Trung tâm Văn hóa, Điện ảnh và Triển lãm Hải Phòng tham gia biểu diễn Chương trình nghệ thuật nhân dịp Đại hội thi đua yêu nước thành phố Hải Phòng lần thứ I, kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam (18/11/1930 - 18/11/2025), Ngày Di sản Văn hóa Việt Nam 23/11…
Tập trung tuyên truyền Ngày Thế giới xóa bỏ bạo lực với phụ nữ (25/11); tuyên truyền Đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV; Đại hội thi đua yêu nước thành phố và toàn quốc, kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam (18/11/1930 - 18/11/2025), Ngày Di sản Văn hóa Việt Nam 23/11…
* Thể thao
Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch thành phố tiếp tục tham mưu, hoàn thiện Nghị quyết, Đề án phát triển thể dục, thể thao thành phố Hải Phòng đến năm 2030, định hướng đến năm 2045; Kế hoạch xây dựng Đề án phát triển Bóng đá Hải Phòng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Hướng dẫn các ngành và Ủy ban nhân dân xã, phường, đặc khu tổ chức thành công Đại hội thể dục thể thao cấp xã, ngành.
Trong tháng 11/2025 đã tổ chức thành công giải Pickleball thành phố Hải Phòng tranh Cup “Nước sạch Hải Dương” lần thứ I năm 2025 từ ngày 05-06/11/2025; giải Bóng rổ các câu lạc bộ thành phố Hải Phòng năm 2025 từ ngày 08-09/11/2025.
Tổ chức giải Đua thuyền Rowing Vô địch U19 và U23 Quốc gia năm 2025 (từ ngày 26/10-01/11/2025) và giải Đua thuyền Canoeing Cup Vô địch các đội mạnh quốc gia năm 2025 (từ ngày 28/10-06/11/2025) tại Khu huấn luyện Đua thuyền, phường Bạch Đằng, thành phố Hải Phòng.
Tổ chức thi đấu môn Cầu lông trong chương trình Đại hội Thể dục thể thao thành phố Hải Phòng lần thứ X năm 2025-2026 từ ngày 12-15/11/2025 tại nhà thi đấu phường Phù Liễn.
Tổ chức thi đấu môn Bóng đá Đại hội Thể dục thể thao Hải Phòng lần thứ X, Cúp Chuyên đề An ninh Hải Phòng - Nhựa Tiền Phong lần thứ 24 năm 2025 từ ngày 27/11/2025.
Tính đến thời điểm báo cáo, các vận động viên thành tích cao Hải Phòng tham gia thi đấu 206 giải trong nước và quốc tế, giành được tổng cộng 1.439 huy chương các loại (trong đó có 402 Huy chương Vàng, 429 Huy chương Bạc, 608 Huy chương Đồng). Phá kỷ lục tại 5 giải vô địch quốc gia.
Tổng số huấn luyện viên, vận động viên tham gia đội tuyển quốc gia và tuyển trẻ quốc gia là 102 người (trong đó, tập huấn đội tuyển quốc gia 48 người, tập huấn đội tuyển trẻ Quốc gia 54 người).
4. Tình hình tai nạn giao thông, phòng chống cháy nổ
4.1. Tình hình tai nạn giao thông
Từ ngày 15/10/2025 đến ngày 14/11/2025, toàn thành phố xảy ra 69 vụ tai nạn giao thông, làm 36 người chết và 53 người bị thương. So với cùng kỳ năm ngoái, số vụ tai nạn giao thông giảm 19 vụ (tương ứng -21,6%), số người chết tăng 01 người (tương ứng 2,86%) và số người bị thương giảm 14 người (tương ứng -20,9%). Các vụ tai nạn chủ yếu từ va chạm cá nhân, do người dân chưa chấp hành đúng luật, không tuân thủ các biện pháp đảm bảo an toàn giao thông.
Trong 11 tháng năm 2025, trên địa bàn thành phố đã xảy ra 803 vụ tai nạn giao thông; làm chết 427 người và bị thương 551 người. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông giảm 315 vụ (tương ứng -28,18%); số người chết tăng 06 người (tương ứng 1,43%) và số người bị thương giảm 348 người (tương ứng -38,71%).
4.2. Công tác phòng chống cháy nổ
Từ ngày 15/10/2025 đến ngày 14/11/2025, trên địa bàn thành phố Hải Phòng đã xảy ra 07 vụ cháy (05 vụ cháy nhà dân, 01 vụ cháy cơ quan doanh nghiệp, 01 vụ cháy phương tiện giao thông); vụ cháy không gây thiệt hại về người, thiệt hại về tài sản ước tính khoảng 37,5 triệu đồng.
Trong 11 tháng năm 2025, trên địa bàn thành phố đã xảy ra 186 vụ cháy, giảm 35 vụ so với cùng kỳ năm trước; làm 02 người chết; 05 người bị thương; ước tính giá trị thiệt hại về tài sản khoảng 2.566 triệu đồng và 8,562 ha diện tích rừng. Nguyên nhân các vụ cháy chủ yếu do tình trạng bất cẩn trong cách sử dụng các thiết bị có nguy cơ cháy, nổ cao tại một số nhà dân và cơ quan, doanh nghiệp. Để đảm bảo công tác an sinh xã hội, ổn định đời sống nhân dân, trong thời gian tới thành phố cần chú trọng trong công tác kiểm tra phòng cháy chữa cháy, nâng cao ý thức người dân và doanh nghiệp, xử lý nghiêm vi phạm để hạn chế rủi ro trong công tác phòng chống cháy nổ./.
Tác giả: THỐNG KÊ THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
-
Infographic tình hình kinh tế - xã hội năm 2025 thành phố Hải Phòng
06/01/2026 -
Thông cáo báo chí Tình hình kinh tế - xã hội năm 2025 thành phố Hải Phòng
06/01/2026 -
Lịch phổ biến thông tin thống kê năm 2026
15/12/2025 -
Infographic tình hình Kinh tế - Xã hội tháng 11 và 11 tháng năm 2025 thành phố Hải Phòng
03/12/2025 -
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 10, 10 tháng năm 2025 thành phố Hải Phòng
06/11/2025 -
Infographic tình hình Kinh tế - Xã hội tháng 10 và 10 tháng năm 2025 thành phố Hải Phòng
03/11/2025 -
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 8, 8 tháng năm 2025 TP Hải Phòng
08/09/2025
-
Thông báo về tình hình thực hiện công khai dự toán ngân sách năm 2026
-
Đồng chí Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Cục Thống kê có chuyến công tác tại thành phố Hải Phòng
-
Lễ ra quân Tổng điều tra kinh tế năm 2026 tại thành phố Hải Phòng
-
Thông cáo báo chí Tình hình kinh tế - xã hội năm 2025 thành phố Hải Phòng
-
Infographic tình hình kinh tế - xã hội năm 2025 thành phố Hải Phòng



