Thông báo nhanh kết quả Đại hội đại biểu Đảng bộ TP Hải Phòng lần thứ XVI

Thứ ba - 20/10/2020 21:54
Được sự đồng ý của Bộ Chính trị, Đảng bộ thành phố Hải Phòng đã tổ chức trọng thể Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2020 - 2025 (Đại hội). Với tinh thần trách nhiệm trước Đảng bộ và Nhân dân thành phố, Đại hội đã hoàn thành toàn bộ nội dung chương trình đề ra.
Thi hành Điều lệ Đảng và Quy định số 29-QĐ/TW, ngày 25/7/2016 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về quy định thi hành Điều lệ Đảng;

Thực hiện Chỉ thị số 35-CT/TW, ngày 30/5/2019 của Bộ Chính trị về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; Kế hoạch số 179-KH/TU, ngày 03/6/2019 của Thành ủy và Thông tri số 36-TT/TU, ngày 28/6/2019 của Ban Thường vụ Thành ủy về đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020-2025 tiến tới Đại hội XVI Đảng bộ thành phố và Đại hội XIII của Đảng.

Được sự đồng ý của Bộ Chính trị, Đảng bộ thành phố Hải Phòng đã tổ chức trọng thể Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2020 - 2025 (Đại hội). Với tinh thần trách nhiệm trước Đảng bộ và Nhân dân thành phố, Đại hội đã hoàn thành toàn bộ nội dung chương trình đề ra. 

Ban Tuyên giáo Thành ủy thông báo nhanh về kết quả Đại hội, như sau:
 
PHẦN I
THÔNG TIN VỀ ĐẠI HỘI

 
1. Thời gian: Từ ngày 13/10/2020 đến ngày 15/10/2020.

2. Địa điểm: Cung Văn hóa Lao động Hữu nghị Việt - Tiệp.

3. Cơ cấu, thành phần đại biểu triệu tập dự Đại hội: 350 đại biểu chính thức thay mặt cho 124.934 đảng viên trong toàn Đảng bộ. Trong đó, có 52 đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố Hải Phòng khoá XV, 297 đại biểu được bầu từ Đại hội đảng bộ các quận, huyện và đảng bộ trực thuộc Thành ủy; 65 đại biểu nữ (chiếm tỉ lệ 19%). Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ: Tiến sĩ: 29 đại biểu (bằng 8,4%), trong đó có 09 đại biểu học hàm Phó Giáo sư (bằng 2,6%); Thạc sĩ: 208 đại biểu (bằng 59,3%); Đại học: 112 đại biểu (bằng 32%); Trung cấp: 01 đại biểu (bằng 0,3%). Đại biểu cao tuổi nhất là đồng chí Nguyễn Văn Đều, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh huyện Tiên Lãng, 67 tuổi; đại biểu ít tuổi nhất là đồng chí Nguyễn Văn Hiếu, Ủy viên Quận ủy, Bí thư Quận đoàn Ngô Quyền, 29 tuổi.

4. Đại biểu khách mời: Đại hội vinh dự được đón đồng chí Nguyễn Xuân Phúc, Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước đến dự và chỉ đạo Đại hội.

Tới dự Đại hội có các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước: Đồng chí Nguyễn Văn An, nguyên Uỷ viên Bộ Chính trị, nguyên Chủ tịch Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; đồng chí Trần Đức Lương, nguyên Uỷ viên Bộ Chính trị, nguyên Chủ tịch Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; đồng chí Phan Diễn, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Thường trực Ban Bí thư; đồng chí Tô Huy Rứa, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Trưởng Ban Tổ chức Trung ương, nguyên Bí thư Thành ủy Hải Phòng; đồng chí Đặng Thị Ngọc Thịnh, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Các đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng là lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương, các địa phương bạn; đại diện lãnh đạo các ban, bộ, ngành và các đoàn thể Trung ương; các đơn vị quân đội, các đồng chí lãnh đạo các địa phương bạn và các vị đại biểu Quốc hội tại Hải Phòng

Các đồng chí nguyên lãnh đạo thành phố Hải Phòng qua các thời kỳ; các đồng chí nguyên Ủy viên Thành ủy khóa XV; các đồng chí nguyên lãnh đạo các ban, sở, ngành, quận, huyện, đoàn thể thành phố đã nghỉ hưu trong nhiệm kỳ 2015 - 2020.

5. Nhiệm vụ Đại hội: 

(1). Tổng kết thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XV, nhiệm kỳ 2015 - 2020 và xác định mục tiêu, định hướng, nhiệm vụ, giải pháp của Đảng bộ thành phố nhiệm kỳ 2020 - 2025.

(2). Thảo luận, đóng góp ý kiến vào dự thảo các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.

(3). Bầu Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố khóa XVI, nhiệm kỳ 2020 - 2025.

(4). Bầu Đoàn đại biểu của Đảng bộ thành phố dự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.

6. Chương trình làm việc của Đại hội: Diễn ra trong 03 ngày

(1). Phiên trù bị: Sáng 13/10/2020.
(2). Phiên khai mạc: Sáng 14/10/2020. 

Tại phiên khai mạc đã diễn ra Lễ đón nhận Huân chương Hồ Chí Minh (lần thứ Hai), phần thưởng cao quý của Đảng, Nhà nước tặng thưởng cho Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân thành phố Hải Phòng đã có công lao to lớn, có nhiều thành tích xuất sắc, góp phần vào sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc. Thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, đồng chí Nguyễn Xuân Phúc, Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trao Huân chương Hồ Chí Minh cho Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân thành phố Hải Phòng.

(3). Phiên bế mạc: Chiều 15/10/2020.

7. Phương châm Đại hội: Đoàn kết - Trí tuệ - Bản lĩnh - Phát triển.
 
PHẦN II
ĐẠI HỘI ĐÃ THẢO LUẬN VÀ THÔNG QUA BÁO CÁO CHÍNH TRỊ 
CỦA BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ KHÓA XV, 
TRÌNH ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ LẦN THỨ XVI, NHIỆM KỲ 2020 - 2025

 
Tại Đại hội đã có 12 Tham luận. Các tham luận đã nhất trí cao với dự thảo của báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố khóa XV trình Đại hội Đại biểu Đảng bộ thành phố khóa XVI. Đồng thời, các tham luận đã phân tích làm rõ hơn những kết quả đã đạt được và đề xuất một số giải pháp trong thực hiện những mục tiêu, chỉ tiêu Đại hội đã đề ra. Đại hội đã biểu quyết 100% nhất trí thông qua, như sau:

I. TIÊU ĐỀ BÁO CÁO CHÍNH TRỊ:

Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố khóa XV, trình Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2020 - 2025: Đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của toàn Đảng bộ; phát huy truyền thống “Trung dũng - Quyết thắng”, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân; phát triển bứt phá; cơ bản hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa vào năm 2025, trở thành thành phố công nghiệp hiện đại, văn minh, bền vững vào năm 2030; khẳng định vai trò động lực phát triển của đất nước.
Tiêu đề Báo cáo chính trị đồng thời là Chủ đề của Đại hội. 

II. VỀ ÐÁNH GIÁ NHỮNG KẾT QUẢ THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT ÐẠI HỘI ÐẢNG BỘ THÀNH PHỐ LẦN THỨ XV, NHIỆM KỲ 2015 - 2020:

Nhiệm kỳ 2015 - 2020, dưới sự lãnh đạo của Trung ương, Đảng bộ, chính quyền, quân và dân thành phố Hải Phòng đã nỗ lực phấn đấu, vượt qua nhiều khó khăn, thách thức thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XV đạt được những kết quả quan trọng.

1. Kết quả đạt được
1.1. Kinh tế thành phố phát triển toàn diện, luôn duy trì tốc độ tăng trưởng cao, cơ cấu kinh tế, chất lượng tăng trưởng chuyển dịch theo đúng định hướng

 
Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) liên tục đạt mức cao: Bình quân 5 năm 2016 - 2020 tăng 14,02%/năm, gấp 1,34 lần chỉ tiêu Đại hội XV đề ra (10,5%/năm), gấp 2 lần giai đoạn 2011 - 2015 (7,08%/năm), gấp 2,1 lần tốc độ tăng trưởng của cả nước (6,78%/năm). Quy mô GRDP được mở rộng, năm 2020 ước đạt 276.661 tỷ đồng, gấp 2,1 lần so với năm 2015 (131.314 tỷ đồng). Tỷ trọng GRDP trong GDP cả nước tăng từ 3,5% năm 2015 lên 5,1% năm 2020. Tổng GRDP giai đoạn 2016 - 2020 ước đạt 1.057.207 tỷ đồng, gấp 1,97 lần giai đoạn 2011 - 2015 (537.600 tỷ đồng). GRDP bình quân đầu người năm 2020 ước đạt 5.863 USD, vượt chỉ tiêu Đại hội XV đề ra (5.600 USD), gấp 1,93 lần so với năm 2015 (3.042 USD), gấp 1,95 lần bình quân chung cả nước (khoảng 3.000 USD).

Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tăng trưởng vượt bậc: Trong 05 năm (2016 - 2020) đạt 408.498 tỷ đồng, gấp 1,6 lần giai đoạn 2011 - 2015 (256.119 tỷ đồng). Trong đó, thu nội địa tăng đột biến, năm 2017 đã đạt 21.777 tỷ đồng, vượt chỉ tiêu Đại hội XV trước 03 năm; tổng thu nội địa trong 05 năm 2016 - 2020 đạt 120.698 tỷ đồng, gấp 2,65 lần giai đoạn 2011 - 2015 (45.570 tỷ đồng). 

Chi ngân sách địa phương có nhiều đổi mới: Tỷ trọng chi đầu tư (trên tổng chi đầu tư và chi thường xuyên) tăng liên tục qua các năm, từ mức 23,8% năm 2015 lên mức 48,25% năm 2020. Tổng chi đầu tư phát triển giai đoạn 2016 - 2020 đạt 50.943 tỷ đồng, gấp 4,7 lần so với giai đoạn 2011 - 2015 (10.808 tỷ đồng). Tổng chi thường xuyên giai đoạn 2016 - 2020 đạt 49.570 tỷ đồng, gấp 1,5 lần so với giai đoạn 2011 - 2015 (33.014 tỷ đồng). Nguồn lực chi thường xuyên tập trung cho công tác an sinh xã hội, giáo dục - đào tạo, y tế, văn hóa, thể dục thể thao, …

Môi trường đầu tư, sản xuất kinh doanh được cải thiện mạnh mẽ: Huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển đạt mức cao nhất từ trước tới nay. Tổng vốn đầu tư trên địa bàn thành phố đạt 564.295 tỷ đồng, cao gấp 1,28 lần chỉ tiêu Đại hội XV đề ra (440.000 tỷ đồng) và gấp 3 lần giai đoạn 2011 - 2015 (188.355 tỷ đồng). Cơ cấu vốn đầu tư chuyển mạnh theo hướng xã hội hóa. Trong đó, vốn khu vực ngoài Nhà nước và FDI đạt 508.150 tỷ đồng, gấp 3,67 lần so với nhiệm kỳ trước. Vốn đăng ký đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt 9,41 tỷ USD, gấp 1,23 lần nhiệm kỳ trước. Tỷ trọng đóng góp của kinh tế tư nhân vào GRDP, thu nội địa đều tăng trong nhiệm kỳ, tương ứng là 26,8% năm 2015 lên 38,37% năm 2020 và từ 25,4% năm 2015 lên 35,5% năm 2020. 

Công tác quản lý đầu tư được tăng cường, có nhiều đổi mới, bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả: Ngay từ đầu nhiệm kỳ, thành phố đã thực hiện việc phân cấp cho các địa phương nguồn lực và thẩm quyền quyết định để chủ động trong việc triển khai các dự án đầu tư công cấp bách trên địa bàn. Đồng thời, thành phố cũng đã đổi mới trong quyết định chủ trương đầu tư, phân bổ nguồn lực đầu tư, bảo đảm có trọng tâm, trọng điểm, không dŕn trải, kéo dŕi dự án. Hầu hết các công trěnh, dự án đầu tư công trong nhiệm kỳ đều bảo đảm đúng tiến độ, bảo đảm chất lượng, có một số công tŕnh đạt được những kỷ lục về tiến độ thi công như cầu Hàn, cầu Đăng, cầu sông Hóa, nút giao Nam cầu Bính, Tuyến đường vào và Khu bảo tồn bãi cọc Cao Quỳ, ... Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư được nâng lên, hệ số ICOR giai đoạn 2016 - 2020 là 3,48, thấp hơn 1,52 lần so với giai đoạn 2011 - 2015 (5,29) và thấp hơn 1,75 lần so với bình quân chung cả nước (6,1).

Kinh tế thành phố từng bước được cơ cấu lại, có chuyển biến tích cực; mô hình tăng trưởng được đổi mới, phát triển theo chiều sâu; năng suất, chất lượng, hiệu quả được nâng cao:

Chất lượng tăng trưởng kinh tế đã được nâng lên đáng kể. Năng suất lao động tăng 14,04%/năm, gấp 2,42 lần bình quân chung cả nước (5,8%/năm); năm 2020 ước đạt 254,99 triệu đồng/lao động (theo giá hiện hành), gấp 2,12 lần so với năm 2015 và gấp 2,05 lần bình quân chung cả nước (124,4 triệu đồng/lao động). 

Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng bình quân 20,64%/năm, gấp 1,47 lần chỉ tiêu Đại hội XV đề ra (14%/năm), gấp 2,12 lần so với giai đoạn 2011 - 2015 và gấp hơn 2 lần tốc độ tăng chung cả nước. Giá trị tăng thêm ngành công nghiệp năm 2020 ước đạt 87.564 tỷ đồng, gấp 2,6 lần so với năm 2015 (33.626 tỷ đồng). Cơ cấu ngành công nghiệp chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo trong GRDP tăng từ 25,12%, năm 2015 lên 38,97% năm 2020. Tỷ trọng giá trị sản phẩm công nghiệp công nghệ cao trong các ngành chế biến, chế tạo tăng nhanh từ 16,4% năm 2015 lên 45,5% năm 2020. Đặc biệt, trong nhiệm kỳ 2015 - 2020, thành phố đã thu hút được nhiều doanh nghiệp lớn, sử dụng công nghệ hiện đại, đầu tư vào các lĩnh vực chế tạo, sản xuất có giá trị kinh tế cao, như: Tập đoàn LG (Hàn Quốc) đầu tư trên 06 tỷ USD vào Tổ hợp nhà máy sản xuất linh kiện điện tử hiện đại, có giá trị thương mại cao; Tập đoàn Vingroup đầu tư và hoàn thành Nhà máy sản xuất ô tô Vinfast, tổng vốn đầu tư trên 03 tỷ USD, tạo sự chuyển biến cơ bản trong tái cấu trúc lại ngành công nghiệp thành phố, khẳng định Hải Phòng là trung tâm công nghiệp lớn của cả nước.

Kinh tế dịch vụ phát triển mạnh mẽ, có đóng góp lớn trong cơ cấu GRDP của thành phố. Tốc độ tăng trưởng GRDP khu vực dịch vụ bình quân 05 năm đạt 9,42%. Thương mại có bước phát triển, kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân 34,42%/năm, năm 2020 ước đạt 18,94 tỷ USD, vượt chỉ tiêu Đại hội XV (12 đến 17 tỷ USD), gấp 4,38 lần năm 2015 (4,32 tỷ USD); thị trường xuất khẩu tiếp tục được mở rộng, từ 107 lên 126 thị trường. Sản lượng hàng hóa qua cảng tăng nhanh, bình quân tăng 15,9%/năm, năm 2018 đạt 110 triệu tấn, vượt chỉ tiêu Đại hội XV đề ra trước 02 năm; năm 2020 ước đạt 142,84 triệu tấn, gấp 2,1 lần năm 2015. Dịch vụ logistics tăng trưởng cao, bình quân đạt 23%/năm. Dịch vụ hàng không phát triển mạnh, đã có 06 hãng hàng không với 10 đường bay nội địa và 04 đường bay quốc tế được khai thác; năm 2020 đạt 3,024 triệu lượt khách, gấp 2,4 lần so với năm 2015. Lượng khách du lịch năm 2020 đạt 7,51 triệu lượt khách, gấp 1,32 lần năm 2015 (5,69 triệu lượt khách). Cơ sở vật chất kỹ thuật để phát triển dịch vụ (thương mại, du lịch) đã được đầu tư đồng bộ, cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, văn hóa được giữ gìn, bảo tồn, phát huy giá trị, như: Vịnh Lan Hạ thuộc quần đảo Cát Bà đã được công nhận là một trong những vịnh đẹp nhất thế giới, Khu di tích bãi cọc Bạch Đằng đã được phát lộ và triển khai dự án đầu tư, Dự án bãi biển nhân tạo tại Đồ Sơn đã được đầu tư giai đoạn 1. Các dịch vụ tài chính, ngân hàng, các dịch vụ kinh doanh bất động sản, tư vấn, bảo hiểm, bưu chính, viễn thông được mở rộng và phát triển một bước.

1.2. Công tác quy hoạch, quản lý quy hoạch được chú trọng; hạ tầng đô thị được đầu tư theo hướng đồng bộ, hiện đại; không gian đô thị được mở rộng; kết cấu hạ tầng giao thông phát triển mạnh mẽ

Công tác quy hoạch, quản lý quy hoạch có bước phát triển mới. Trên cơ sở quy hoạch chung đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1448/QĐ-TTg, ngày 16/9/2009 và Nghị quyết 45-NQ/TW, ngày 24/01/2019 của Bộ Chính trị về xây dựng phát triển thành phố Hải Phòng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Hội đồng nhân dân thành phố đã ban hành Nghị quyết và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch chung thành phố Hải Phòng đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2050. 
Công tác xây dựng, phát triển đô thị được triển khai nghiêm túc theo đúng định hướng Nghị quyết Đại hội XV Đảng bộ thành phố. Khu vực đô thị trung tâm thành phố đã được quan tâm đầu tư theo hướng văn minh, hiện đại, đã hình thành nhiều khu đô thị mới phù hợp với bản sắc kiến trúc đô thị Hải Phòng, như: Khu đô thị Vinhomes Imperia của Tập đoàn Vingroup, các khu đô thị của Tập đoàn Hoàng Huy, khu đô thị ven sông Lạch Tray của Tập đoàn Agape, một số khách sạn 5 sao, Trung tâm thương mại Aeon Mall. Các công trình phúc lợi công cộng được quan tâm đầu tư như mở rộng, xây dựng mới một số bệnh viện, trường học; cải tạo, mở rộng sông Tam Bạc; hoàn thiện chỉnh trang toàn bộ dải trung tâm thành phố và một số công viên cây xanh. Đã xây dựng một số chung cư cao tầng, từng bước thay thế các chung cư cũ xuống cấp. Các ngõ phố, hè đường được đầu tư chỉnh trang đồng bộ, hình thành một số cầu vượt, nút giao thông hiện đại. Diện mạo đô thị trung tâm thành phố phát triển theo đúng định hướng Nghị quyết Đại hội XV đã đề ra. 

Không gian đô thị đã được mở rộng, phát triển về 03 hướng đột phá. Hướng phát triển về phía Bắc sông Cấm, đã hoàn thành cầu Hoàng Văn Thụ, hạ tầng giao thông kết nối, các công trình lớn Khu công nghiệp VSIP, đảo Vũ Yên. Hướng phát triển về phía Cát Hải - Cát Bà, đã hoàn thành Nhà máy sản xuất ô tô Vinfast, hệ thống cáp treo vượt biển Cát Hải - Cát Bà, một số dự án nghỉ dưỡng cao cấp tại Cát Bà, 02 bến khởi động Cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng. Hướng phát triển về phía Đồ Sơn, ven sông Lạch Tray, đã hình thành một số khu đô thị sinh thái, trung tâm thương mại, bệnh viện quốc tế, khách sạn 5 sao, khu vui chơi giải trí, bãi biển nhân tạo Đồ Sơn. 

Kết cấu hạ tầng giao thông đã có bước phát triển vượt bậc. Sau khi đường ô tô cao tốc Hà Nội - Hải Phòng đi vào vận hành, thành phố tiếp tục khánh thành, đưa vào sử dụng cầu vượt biển Tân Vũ - Lạch Huyện, Cảng hàng không quốc tế Cát Bi, đường trục World Bank, Quốc lộ 10 mở rộng. Tổng nguồn lực đầu tư cho phát triển kết cấu hạ tầng giao thông giai đoạn 2016 - 2020 đạt 43.886 tỷ đồng, gấp 1,82 lần giai đoạn 2011 - 2015, trong đó vốn ngân sách thành phố là 24.653 tỷ đồng, gấp 3 lần giai đoạn 2011 - 2015 (8.211 tỷ đồng). Điểm nổi bật nhất, nhiệm kỳ 2015 - 2020 đã hoàn thành hàng chục tuyến đường liên tỉnh, liên huyện, cùng 46 cây cầu các loại, trong đó có nhiều cây cầu lớn, với tổng chiều dài 23 km. Các công trình đều đạt các tiêu chuẩn kỹ thuật, mỹ thuật, hiện đại, góp phần làm thay đổi căn bản hạ tầng giao thông thành phố.

1.3. Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới đã đạt được kết quả quan trọng; cơ cấu nông nghiệp được chuyển dịch theo hướng tích cực, hiệu quả 

Trong nhiệm kỳ 2015 - 2020, thành phố ban hành nhiều cơ chế, chính sách để đẩy nhanh tiến độ thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới. Theo chủ trương của Thành ủy, Hội đồng nhân dân thành phố đã ban hành cơ chế hỗ trợ xi măng để Nhân dân xây dựng đường thôn xóm, đường nội đồng; hỗ trợ gạch, xi măng để xây mới, sửa chữa nhà ở cho các gia đình chính sách. Nhờ có cơ chế sáng tạo này, thành phố đã huy động được một nguồn lực lớn từ sự đóng góp tự nguyện của Nhân dân, đã hoàn thành 5.000 km đường nông thôn, xây dựng mới hàng nghìn ngôi nhà cho các gia đình chính sách. Tổng vốn huy động xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020 đạt 40.396 tỷ đồng, gấp 2,5 lần giai đoạn 2010 - 2015 (15.857 tỷ đồng), trong đó Nhân dân đóng góp 5.865 tỷ đồng. Đến năm 2019, đã có 100% số xã (139/139 xã) đạt chuẩn nông thôn mới, hoàn thành mục tiêu Đại hội XV đề ra trước 01 năm. 

Thành phố đã có nhiều chủ trương, chính sách để thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp. Đã hình thành mô hình sản xuất nông nghiệp tập trung, sản xuất những sản phẩm nông nghiệp có giá trị gia tăng cao. Thu nhập bình quân đầu người trong sản xuất nông nghiệp năm 2020 đạt 56,4 triệu đồng/năm, tăng 52% so với năm 2015 (36,9 triệu đồng/người). Giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản năm 2020 ước đạt 15.335,9 tỷ đồng, gấp 1,08 lần năm 2015 (14.235,8 tỷ đồng), tăng bình quân 1,5%/năm. 
Năm 2020, thành phố đã triển khai thí điểm xây dựng mô hình nông thôn mới kiểu mẫu đối với các địa phương, đã phân bổ trên 1.000 tỷ đồng cho 08 xã thuộc 07 huyện để triển khai mô hình này. Theo chương trình, hệ thống hạ tầng giao thông, hệ thống chiếu sáng, cung cấp nước sạch tại các vùng nông thôn sẽ được mở rộng và nâng cấp, tiếp cận với hạ tầng đô thị, phù hợp với tiến trình công nghiệp hóa, đô thị hóa của thành phố theo đúng định hướng Nghị quyết 45-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa XII. 
Thành công từ chương trình xây dựng nông thôn mới đã tạo nên sự chuyển biến căn bản về hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn, điều kiện sinh sống, lao động sản xuất của người dân khu vực nông thôn được cải thiện, nâng cao đáng kể.

1.4. Quản lý đất đai, tài nguyên khoáng sản và giải phóng mặt bằng đạt nhiều kết quả quan trọng; công tác bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng được tăng cường, phát huy hiệu quả

Tài nguyên đất đai, khoáng sản được quản lý chặt chẽ theo quy hoạch, phát huy cao hiệu quả sử dụng đất: Giai đoạn 2016 - 2020, thu tiền sử dụng đất đạt 20.936 tỷ đồng, gấp 4,9 lần giai đoạn 2011 - 2015 (4.239 tỷ đồng). Thành phố đã chỉ đạo triển khai thực hiện đồng bộ Luật Đất đai; hoàn thiện hệ thống quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất gắn với tăng cường kiểm tra, giám sát thực hiện, tập trung xử lý dứt điểm một số vụ việc vi phạm pháp luật đất đai kéo dài; đã thu hồi 19 địa điểm với diện tích 295,62 ha; chấm dứt thực hiện dự án đối với 45 địa điểm với diện tích 684,97 ha. Trong nhiệm kỳ, thành phố đã thu hồi 10.488 ha đất của 613 tổ chức và 53.916 hộ gia đình, cá nhân, trong đó có 10.988 hộ phải bố trí tái định cư để triển khai các công trình phát triển kinh tế - xã hội của thành phố.

Công tác bảo vệ môi trường được tăng cường với nhiều biện pháp hiệu quả: Thành phố đã triển khai Đề án xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên nước nhằm quản lý lâu dài tài nguyên nước ngọt phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Tiếp tục triển khai di dời các cơ sở sản xuất công nghiệp trong nội đô thành phố vào các khu, cụm công nghiệp; ban hành Nghị quyết của Hội đồng nhân dân thành phố về phát triển cây xanh đô thị; thực hiện nhiều biện pháp bảo đảm vệ sinh môi trường, giảm cơ bản nguồn gây ô nhiễm môi trường. Các giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, xâm nhập mặn đã được chú trọng, cụ thể hóa trong các đề án quy hoạch, các dự án đầu tư. Triển khai hiệu quả các chương trình bảo vệ và tăng tỷ lệ che phủ của rừng, nhất là rừng phòng hộ, rừng chắn sóng. Đã hoàn thành toàn diện các chỉ tiêu về môi trường Nghị quyết Đại hội XV đề ra.

1.5. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội được quan tâm đầu tư; công tác an sinh xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội đạt kết quả toàn diện

Công tác giáo dục và đào tạo đã được quan tâm và có nhiều chính sách mới: Nguồn lực đầu tư cho giáo dục được tăng cường, giai đoạn 2016 - 2020, tổng nguồn lực đầu tư cho giáo dục và đào tạo là 22.123,836 tỷ đồng, gấp 5,6 lần giai đoạn  2011 - 2015 (3.954,08 tỷ đồng). Phòng học kiên cố, cao tầng ở nội thành đạt 97%, ở ngoại thành đạt 85%. Toàn thành phố đã có 419 trường đạt chuẩn quốc gia (bằng 51,2% tổng số trường). Đặc biệt, trong nhiệm kỳ 2015 - 2020, Hội đồng nhân dân thành phố đã ban hành Nghị quyết về chính sách hỗ trợ 100% học phí cho học sinh các cấp, Nghị quyết về chính sách khen thưởng đối với đội ngũ giáo viên, học sinh giỏi quốc gia, quốc tế. Bước đầu đã thu hút được một số doanh nghiệp, các tập đoàn kinh tế lớn đầu tư vào lĩnh vực giáo dục và đào tạo. Các trường đại học, cao đẳng chuyên nghiệp, trung cấp nghề trên địa bàn thành phố tiếp tục được đầu tư, mở rộng ngành nghề, đa dạng hoá hình thức đào tạo. Chất lượng giáo dục được giữ vững. Giai đoạn 2016 - 2020, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông đạt bình quân 99,82%; tỷ lệ học sinh đỗ vào các trường đại học, cao đẳng đạt bình quân 55%; đạt 422 giải học sinh giỏi quốc gia; 06 giải học sinh giỏi quốc tế, trong đó có 03 huy chương vàng, 02 huy chương bạc, 01 huy chương đồng. Hải Phòng là địa phương 24 năm có học sinh đạt giải quốc tế; đặc biệt trong 03 năm gần đây đều có học sinh đạt huy chương vàng quốc tế ở các môn toán học, hóa học, sinh học. 

Công tác y tế, chăm sóc sức khỏe Nhân dân được quan tâm đầu tư: Tổng mức đầu tư cho y tế giai đoạn 2016 - 2020 đạt 17.666 tỷ đồng, gấp 1,6 lần giai đoạn 2011 - 2015 (10.953 tỷ đồng). Trong nhiệm kỳ 2015 - 2020, thành phố đã có nhiều chính sách, ưu tiên nguồn lực để đầu tư cơ sở vật chất mới cho ngành y tế. Đã hoàn thành đầu tư mới và đưa vào sử dụng giai đoạn 1 Bệnh viện Việt Tiệp cơ sở 2, Bệnh viện Y học cổ truyền, Bệnh viện Mắt, Bệnh viện Vinmec, Bệnh viện Đa khoa quốc tế Vĩnh Bảo. Đầu tư mở rộng, nâng cấp Bệnh viện Việt Tiệp 1, Bệnh viện Đa khoa quốc tế, Bệnh viện Phụ sản, các bệnh viện tuyến quận, huyện. Thiết bị, công nghệ của ngành y tế được đổi mới, hiện đại hóa. Các chỉ tiêu y tế như số bác sĩ/1 vạn dân, số giường bệnh/1 vạn dân, tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế đều tăng so với đầu nhiệm kỳ và cao hơn bình quân cả nước, đạt chỉ tiêu Đại hội XV đề ra. Đặc biệt, năm 2020, trước diễn biến phức tạp của dịch bệnh Covid-19, với sự lãnh đạo, chỉ đạo điều hành quyết liệt của Thành ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân thành phố cùng sự vào cuộc tích cực của toàn hệ thống chính trị, của Nhân dân thành phố, Hải Phòng đã thực hiện thành công mục tiêu kép, vừa phòng, chống có hiệu quả dịch Covid-19, vừa duy trì tốc độ phát triển kinh tế cao theo đúng chỉ đạo của Chính phủ.

Các lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, thể dục thể thao được đầu tư tương xứng với tốc độ phát triển kinh tế và có nhiều chính sách, cách làm mới:

Về bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa, lịch sử: Trong nhiệm kỳ, có thêm 59 di tích được công nhận cấp thành phố và quốc gia; 07 di sản văn hóa phi vật thể được công nhận cấp quốc gia. Thành phố đã có nhiều chính sách, ưu tiên nguồn lực đầu tư phát triển các công trình văn hóa, lịch sử truyền thống. Đã đầu tư cải tạo, nâng cấp, trùng tu các di tích lịch sử trên địa bàn các quận, huyện. Hoàn thành xây dựng Nhà tưởng niệm đồng chí Nguyễn Đức Cảnh; hệ thống giao thông, cây xanh Khu di tích Quốc gia đặc biệt Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Hội đồng nhân dân thành phố đã thông qua Nghị quyết khoanh vùng, quy hoạch bảo tồn khu vực liên quan đến di tích lịch sử Bạch Đằng Giang; đã hoàn thành xây dựng Tuyến đường vào và Khu bảo tồn bãi cọc Cao Quỳ, huyện Thủy Nguyên. 

Về văn học, nghệ thuật: Cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội, thành phố đã ban hành nhiều cơ chế khuyến khích để phát triển lĩnh vực văn học, nghệ thuật. Trong nhiệm kỳ, đã thực hiện sắp xếp, đầu tư cơ sở vật chất cho các đoàn nghệ thuật; phát động và tổ chức thành công cuộc thi “Hải Phòng - Khát vọng vươn lên” với 561 tác phẩm của 556 tác giả trong và ngoài nước tham gia; triển khai thành công Đề án sân khấu truyền hình.

Về thể dục thể thao: Thành phố có cơ chế, chính sách quy định mức chi về chế độ dinh dưỡng đối với huấn luyện viên, vận động viên thể thao, cơ chế thưởng cho các vận động viên, huấn luyện viên đạt thành tích tại giải thể thao khu vực và quốc tế ở mức cao nhất cả nước. Hải Phòng duy trì vị trí là một trong những trung tâm thể thao mạnh của cả nước, giai đoạn 2016 - 2020 đạt 2.331 huy chương các loại, trong đó 157 huy chương quốc tế, 1.448 huy chương quốc gia, lập 27 kỷ lục quốc gia. 
Khoa học và công nghệ có những chuyển biến tích cực, tiềm lực khoa học và công nghệ được tăng cường: Tốc độ đổi mới công nghệ bình quân đạt 12,48%/năm, tăng so với giai đoạn 2011 - 2015 (10,52%/năm), năm 2020 đạt 15%; tỷ trọng TFP đóng góp vào mức tăng trưởng GRDP tăng từ 32,04% năm 2015 lên 40,36% năm 2020. Thị trường khoa học, công nghệ được hình thành và có bước phát triển. Trong đó, đã có sản phẩm chất lượng cao, đáp ứng được nhu cầu trong nước và vươn ra thị trường quốc tế. Phong trào sáng kiến, sáng tạo của thành phố có nhiều khởi sắc. Các hoạt động khởi nghiệp sáng tạo bước đầu được quan tâm, đạt kết quả tích cực.

Công tác an sinh xã hội được quan tâm với nhiều cơ chế, chính sách nổi bật: Chủ trương của Thành ủy “Đầu tư cho an sinh xã hội phải đi trước so với tốc độ phát triển kinh tế” đã được tích cực triển khai thực hiện, cụ thể hóa bằng nhiều cơ chế, chính sách ưu tiên trong phân bổ nguồn lực cho các lĩnh vực y tế, giáo dục và đào tạo, xây dựng nông thôn mới. Hội đồng nhân dân thành phố đã ban hành nhiều nghị quyết về an sinh xã hội, đặc biệt là Nghị quyết về nâng mức chuẩn trợ giúp xã hội cho các đối tượng chính sách, gấp 1,4 lần quy định của Chính phủ; Nghị quyết về cơ chế cấp gạch, xi măng, hỗ trợ tiền để xây dựng, sửa chữa nhà ở cho các gia đình chính sách. Trong những năm qua, đã có 17.595 hộ gia đình thương binh liệt sĩ, người có công, hộ nghèo được hưởng thụ chính sách này với tổng kinh phí 462 tỷ đồng, có 77.809 người được hưởng mức chuẩn trợ giúp xã hội với tổng kinh phí 478,317 tỷ đồng. Giai đoạn 2016 - 2020, thành phố đã chi 1.438 tỷ đồng tặng quà cho các gia đình thương binh, liệt sĩ, hộ nghèo vào các dịp lễ, tết (mức quà tặng năm 2020 đạt 04 triệu đồng cho mỗi gia đình người có công, tăng gấp 5,6 lần năm 2015). Tỷ lệ hộ nghèo giảm liên tục qua các năm, từ 3,86% năm 2015 xuống còn 0,22% năm 2020, đạt chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội XV đề ra. Thu nhập bình quân đầu người tăng dần qua các năm, năm 2015 là 4,23 triệu đồng/người/tháng, ước năm 2020 đạt 5,97 triệu đồng/người/tháng, gấp 1,41 lần năm 2015.

1.6. Tăng cường quốc phòng, an ninh; giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội; đẩy mạnh công tác đối ngoại, chủ động hội nhập quốc tế, liên kết vùng

Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức triển khai thực hiện nghiêm các chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách của Nhà nước, các chỉ thị, nghị quyết và đề án của Thành ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân thành phố về nhiệm vụ công tác quốc phòng, quân sự. Duy trì nghiêm chế độ sẵn sàng chiến đấu, phối hợp các lực lượng tham mưu, xử lý các tình huống không để bị động, bất ngờ; kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh. Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh Nhân dân.
Tăng cường đầu tư kinh phí xây dựng công trình quân sự trong khu vực phòng thủ (trong nhiệm kỳ đã đầu tư 101,3 tỷ đồng). Quản lý chặt chẽ, sử dụng đúng mục đích công trình quốc phòng. Hoàn thành 100% chỉ tiêu tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ, bảo đảm chất lượng. 

Triển khai hiệu quả chủ trương biên chế công an chính quy về các xã trên địa bàn thành phố; các chương trình phòng, chống tội phạm; tập trung trấn áp, triệt phá tội phạm hình sự, tội phạm kinh tế, nhất là tội phạm có tổ chức, tội phạm mới đạt được nhiều kết quả.  

Hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế, liên kết vùng tiếp tục đẩy mạnh, thiết thực và hiệu quả; hình ảnh, vị thế và uy tín của Hải Phòng được nâng cao rõ nét. Trong các đợt cao điểm phòng, chống dịch Covid-19, thành phố đã chủ động hỗ trợ nhân lực, vật lực cho các địa phương trong và ngoài nước phòng, chống dịch. Quan hệ đối ngoại tiếp tục đi vào chiều sâu, tích cực tham gia các mạng lưới liên kết đa phương; xây dựng, củng cố quan hệ thương mại với trên 130 quốc gia và vùng lãnh thổ, đặc biệt là các đối tác có quan hệ FTA; có quan hệ hợp tác với 80 tổ chức quốc tế và tổ chức phi chính phủ nước ngoài với nhiều dự án đã triển khai hiệu quả, đạt giá trị 25 triệu USD. Giai đoạn 2016 - 2020, ký kết 16 thỏa thuận hợp tác quan trọng, tăng 25% so với giai đoạn 2011 - 2015; nâng tổng số thỏa thuận ký kết là 37 thỏa thuận với 28 địa phương, vùng lãnh thổ thuộc 13 quốc gia.

1.7. Công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và đạo đức 

Công tác xây dựng Đảng về chính trị được quan tâm thường xuyên: Đảng bộ thành phố luôn kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc, Chủ nghĩa xã hội và đường lối đổi mới của Đảng. Thành ủy, Ban Thường vụ Thành ủy đã ban hành 10 nghị quyết, 30 chỉ thị, 40 thông tri, 86 chương trình hành động, 188 kết luận, 1.279 thông báo trên các lĩnh vực. Các chủ trương, nghị quyết của Thành ủy đều được thể chế hóa bằng các nghị quyết, chương trình, kế hoạch của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân thành phố. 

Một kết quả đặc biệt quan trọng là Thành ủy đã tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết số 32-NQ/TW, ngày 05/8/2003 của Bộ Chính trị khóa IX về xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; xây dựng Đề án và đã được Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 45-NQ/TW, ngày 24/01/2019 về xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Đây là Nghị quyết rất quan trọng, là định hướng, nguồn lực bảo đảm cho sự phát triển thành công của thành phố trong tương lai. 

Công tác xây dựng Đảng về tư tưởng và đạo đức luôn được xác định có tầm quan trọng hàng đầu: Việc quán triệt, triển khai các nghị quyết của Trung ương, của Thành ủy luôn được đổi mới cả về nội dung và hình thức, bảo đảm tính thuyết phục. Thành ủy đã chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền, công tác giáo dục lý luận chính trị; việc học tập, nâng cao nhận thức, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành việc làm thường xuyên, bắt buộc trong toàn Đảng bộ. Công tác đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn "diễn biến hòa bình" chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa; ngăn chặn, xử lý các biểu hiện “tự diễn biến", “tự chuyển hóa” trong nội bộ của một số cán bộ, đảng viên, được triển khai chủ động, bài bản, kịp thời, hiệu quả; góp phần quan trọng củng cố vững chắc niềm tin của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp Nhân dân đối với chế độ, với sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của các cấp ủy, chính quyền. 

Nghị quyết Trung ương 4 khoá XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ được kịp thời cụ thể hóa, triển khai thực hiện trong toàn Đảng bộ với những nhiệm vụ, giải pháp sát thực, cụ thể. Thành ủy, các cấp ủy đã chủ động phát hiện, xử lý kỷ luật kịp thời, nghiêm minh một số tổ chức đảng, đảng viên vi phạm, suy thoái về đạo đức, lối sống, có tác dụng cảnh báo, cảnh tỉnh, răn đe, phòng ngừa sai phạm. Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị khóa XII về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh được thực hiện với nhiều mô hình, cách làm sáng tạo, hiệu quả, có sức thuyết phục cao. Các quy định của Trung ương về trách nhiệm nêu gương được quán triệt, tổ chức thực hiện nghiêm túc, tạo chuyển biến tích cực trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt, nhất là người đứng đầu các cơ quan, đơn vị, được cán bộ, đảng viên và Nhân dân ghi nhận. 

1.8. Công tác tổ chức, xây dựng bộ máy và công tác cán bộ 

Các chủ trương, nghị quyết của Trung ương về đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, gắn với tinh giản biên chế được thực hiện với quyết tâm cao, đạt kết quả tích cực: Nghị quyết Trung ương 6 khoá XII "Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực hiệu quả" được Ban Thường vụ Thành ủy chỉ đạo thực hiện đồng bộ bằng 11 nhiệm vụ cần làm ngay và 24 nhiệm vụ thực hiện theo lộ trình. Kết quả, đã hoàn thành việc sắp xếp, tổ chức lại các cơ quan của Thành ủy; thực hiện thí điểm mô hình bí thư cấp uỷ đồng thời là chủ tịch Ủy ban nhân dân tại 05/15 quận, huyện; 05 bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch Hội đồng nhân dân ở cấp thành phố và cấp huyện; 11/15 bí thư quận ủy, huyện ủy; 08/15 chủ tịch Ủy ban nhân dân quận, huyện; 62/217 bí thư đảng ủy, chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã không phải là người địa phương; thực hiện mô hình trưởng ban dân vận kiêm chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc ở thành phố và 09/15 quận, huyện; 14/15 trưởng ban tuyên giáo cấp huyện kiêm giám đốc Trung tâm chính trị; hợp nhất một số cơ quan, chức danh lãnh đạo cơ quan của Đảng và Nhà nước, cơ quan của Đảng và Mặt trận Tổ quốc sát với thực tiễn thành phố, bảo đảm mục đích, yêu cầu đề ra. Sắp xếp giảm 42 đầu mối bên trong các cơ quan, đơn vị, tổ chức; 12 ban quản lý dự án, 12 đơn vị sự nghiệp công lập. Xây dựng chức năng, nhiệm vụ và kiện toàn đội ngũ cán bộ cơ bản đồng bộ với đổi mới, sắp xếp, kiện toàn tổ chức, bộ máy. Ban hành cơ chế, chính sách phục vụ việc tinh giản biên chế đúng quy định, phù hợp với thành phố. Đã thực hiện tinh giản 100 biên chế khối đảng, 893 biên chế khối chính quyền.

Công tác kiện toàn tổ chức đảng bảo đảm kịp thời, đồng bộ với quá trình đổi mới, sắp xếp tổ chức, bộ máy và sự phát triển kinh tế - xã hội thành phố: Trong nhiệm kỳ, phát triển được 176 tổ chức đảng trong doanh nghiệp ngoài Nhà nước, hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp ngoài công lập; thực hiện chuyển giao, sắp xếp còn 1.361 tổ chức cơ sở đảng (giảm 174 tổ chức cơ sở đảng so với năm 2015); thành lập mới 176 chi bộ, sắp xếp, giảm 273 chi bộ, còn 6.086 chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở; trong đó 100% thôn, tổ dân phố đều có chi bộ, không có địa bàn “trắng” về tổ chức đảng. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng được nâng lên, tỷ lệ đạt trong sạch, vững mạnh (hoàn thành tốt nhiệm vụ) tăng từ 92,74% năm 2015 lên 93,58% năm 2019. 

Đội ngũ đảng viên của Đảng bộ thành phố tăng cả về số lượng và chất lượng: Toàn Đảng bộ hiện có 124.934 đảng viên, tăng 10.099 (bằng 8,8% so với năm 2016). Công tác đánh giá chất lượng đảng viên thực chất hơn; đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ đạt tỷ lệ cao; năm 2015 là 72,57%, trong đó hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ là 13,27%; năm 2019 là 88,65%, trong đó hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ là 18%. Trong nhiệm kỳ đã kết nạp 18.537 đảng viên, hoàn thành vượt mức chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội XV. 

Công tác cán bộ được đổi mới mạnh mẽ, góp phần quan trọng xây dựng đội ngũ cán bộ thành phố ngang tầm yêu cầu, nhiệm vụ: Thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa XII “Về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”, Ban Thường vụ Thành ủy ban hành các quy định về tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ lãnh đạo quản lý diện Thành ủy quản lý. Công tác quy hoạch cán bộ được phân cấp rõ ràng, có đổi mới về quy trình, bảo đảm dân chủ, minh bạch, mở rộng được nguồn giới thiệu. Giai đoạn 2015 - 2020 quy hoạch 1.057 lượt cán bộ; giai đoạn 2020 - 2025 quy hoạch 1.434 lượt cán bộ bảo đảm chất lượng. Công tác đánh giá, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ được chú trọng, hiệu quả thiết thực, tổng số có 441.617 lượt cán bộ các cấp được đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức ở các loại hình. Trong nhiệm kỳ, đã bổ nhiệm, kiện toàn, đề nghị cấp trên bổ nhiệm trên 330 lượt cán bộ diện Thành ủy quản lý (bằng 84,6% tổng số cán bộ diện Thành ủy quản lý); trong đó có các chức danh lãnh đạo chủ chốt thành phố, 07 Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, 07 đồng chí lãnh đạo Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân thành phố, 16 Ủy viên Thành ủy, 95 giám đốc sở, ngành, bí thư, chủ tịch Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân quận, huyện; luân chuyển, thay thế 15/15 đồng chí bí thư quận ủy, huyện ủy gắn với việc sắp xếp bí thư không phải là người địa phương và bí thư kiêm chủ tịch Uỷ ban nhân dân. Quy trình 5 bước trong công tác cán bộ được thực hiện đúng quy định. Kết quả lấy phiếu giới thiệu đối với cán bộ diện Thành ủy quản lý tại các hội nghị đều đạt từ 90% đến 100%, bảo đảm dân chủ, công tâm, khách quan, đạt sự thống nhất cao, được cán bộ, đảng viên, Nhân dân thành phố ghi nhận là không có thiên vị, tiêu cực, chạy chức, chạy quyền. Đội ngũ cán bộ của thành phố đã cơ bản được chuẩn hóa về trình độ lý luận chính trị và chuyên môn nghiệp vụ; có lập trường tư tưởng, bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, lối sống giản dị, gương mẫu, có ý thức tổ chức kỷ luật, có năng lực, phẩm chất, uy tín. 

1.9. Công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng 

Thành ủy, các cấp ủy đã chủ động lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện có hiệu quả các chương trình kiểm tra, giám sát đúng Điều lệ Đảng, các quy định, hướng dẫn của Trung ương. Trong nhiệm kỳ, Thành ủy, Ban Thường vụ Thành ủy, Uỷ ban Kiểm tra Thành ủy, cấp ủy và Uỷ ban Kiểm tra các cấp đã tiến hành kiểm tra 10.972 tổ chức đảng (tăng 4.076 tổ chức đảng so với giai đoạn 2010 - 2015) và 22.934 đảng viên (giảm 4.069 đảng viên so với giai đoạn 2010 - 2015); giám sát 7.597 tổ chức đảng (tăng 1.851 tổ chức đảng so với giai đoạn 2010 - 2015) và 13.444 đảng viên (giảm 9.238 đảng viên so với giai đoạn 2010 - 2015). Việc xử lý, kỷ luật trong Đảng được thực hiện công tâm, khách quan, đúng quy định và được công khai kết quả trên các phương tiện thông tin chính thống. Thông qua công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đã góp phần quan trọng trong việc giáo dục, cảnh tỉnh, phòng ngừa sai phạm đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên các cấp, củng cố niềm tin của Nhân dân.

1.10. Công tác nội chính; phòng, chống tham nhũng, lãng phí; cải cách tư pháp 

Thành ủy đã áp dụng một số biện pháp phòng ngừa tham nhũng trong toàn bộ máy, như: phân cấp thẩm quyền quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản, tạo sự chủ động và nâng cao trách nhiệm quản lý trực tiếp cho các địa phương, vừa xóa bỏ cơ chế “xin - cho”, “duyệt - cấp”, hạn chế thất thoát, lãng phí; công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan, tổ chức; thực hiện cam kết không gây phiền hà, sách nhiễu, tiêu cực; chuyển đổi vị trí việc làm trong cán bộ, công chức. Các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, các cơ quan báo chí và Nhân dân phát huy tốt vai trò trong phát hiện, đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Đẩy mạnh công tác rà soát các cuộc thanh tra kinh tế - xã hội, việc kiểm tra, giám sát về thanh tra vụ việc kinh tế, điều tra, truy tố xét xử các vụ án tham nhũng kinh tế. Tập trung cao lãnh đạo, chỉ đạo giải quyết các vụ việc, vụ án tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm.

1.11. Công tác dân vận, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân; tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân

Công tác dân vận: Thành ủy đã chọn trúng khâu đột phá là tăng cường, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác vận động Nhân dân, tiếp dân, đối thoại và giải quyết kịp thời các kiến nghị và nguyện vọng chính đáng của Nhân dân. Nổi bật, đã ban hành quy trình công tác dân vận tham gia xử lý điểm nóng, vụ việc phức tạp; tập thể Ban Thường vụ Thành ủy, tập thể lãnh đạo, người đứng đầu các cấp ủy, chính quyền đã tích cực, chủ động trong đối thoại, giải quyết đơn thư, được Nhân dân ghi nhận, đánh giá cao. Đồng thời tập trung chỉ đạo tăng cường công tác dân vận của các cơ quan nhà nước; tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua "Dân vận khéo" trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh của thành phố và các địa phương, đơn vị. 

Dân chủ xã hội chủ nghĩa: Tiếp tục được coi trọng và phát huy đầy đủ, khối đại đoàn kết toàn dân được tăng cường và củng cố vững chắc, trở thành nguồn nội lực quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển thành phố. Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn, Quy chế dân chủ được thực hiện nghiêm túc, hiệu quả. Phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát" đã được thành phố bổ sung, phát triển thành “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát" gắn với "dân thụ hưởng" và được tổ chức thực hiện bằng các cơ chế, biện pháp phù hợp thực tiễn, tạo được sự đồng thuận, ủng hộ của Nhân dân, đạt hiệu quả cao. 

1.12. Đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, bảo đảm tính hiệu quả và vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng trong toàn bộ đời sống kinh tế - xã hội

Trong nhiệm kỳ vừa qua, các hoạt động của Thành ủy, Ban Thường vụ Thành ủy, Thường trực Thành ủy đều bảo đảm tính thiết thực, hiệu quả. Các chỉ thị, nghị quyết, kết luận của Thành ủy, Ban Thường vụ Thành ủy, Thường trực Thành ủy đều xuất phát từ tình hình thực tiễn nhằm khơi thông nguồn lực, hướng tới phục vụ cải thiện, nâng cao đời sống của các tầng lớp Nhân dân, tăng cường tiềm lực và vị thế của thành phố. Một trong những nội dung đổi mới phương thức lãnh đạo là đội ngũ cán bộ, đảng viên các cấp, nhất là của cán bộ chủ chốt, người đứng đầu thực hiện thật tốt các quy định của Đảng, thực hiện thật tốt vai trò và trách nhiệm nêu gương.

1.13. Đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của chính quyền các cấp và các tổ chức trong hệ thống chính trị 

Tổ chức, bộ máy và hoạt động của Hội đồng nhân dân thành phố và Hội đồng nhân dân các cấp: Được củng cố, kiện toàn sau thời gian thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân quận, huyện, phường, đúng quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương; hoạt động có nhiều đổi mới, phát huy đầy đủ vai trò của cơ quan quyền lực nhà nước tại địa phương. Chất lượng hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp được nâng lên, nhất là hoạt động tiếp xúc cử tri, giám sát, chất vấn tại kỳ họp, lấy phiếu tín nhiệm đối với các chức danh do Hội đồng nhân dân bầu. 

Uỷ ban nhân dân thành phố và Uỷ ban nhân dân các cấp: Có nhiều đổi mới trong chỉ đạo, điều hành, bước đầu thực hiện tốt vai trò kiến tạo, phục vụ Nhân dân và doanh nghiệp; cụ thể hóa và tổ chức thực hiện đúng chủ trương, nghị quyết của cấp ủy và Hội đồng nhân dân cùng cấp. Tăng cường thanh tra, kiểm tra việc chấp hành kỷ luật, kỷ cương công vụ của cán bộ, công chức các cấp; thực hiện nghiêm việc đánh giá và phân loại mức độ thực hiện nhiệm vụ đối với người đứng đầu các sở, ngành, đơn vị và chủ tịch Uỷ ban nhân dân các quận, huyện. Tổ chức bộ máy được đổi mới, sắp xếp một bước theo hướng tinh gọn, giảm biên chế, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. 

Công tác cải cách hành chính: Nhất là cải cách thủ tục hành chính đạt nhiều kết quả nổi bật. Cải cách tài chính công, xây dựng chính quyền điện tử, hoạt động của bộ phận một cửa, một cửa liên thông đã phát huy rõ hiệu quả, góp phần quan trọng cải thiện môi trường đầu tư và giúp nền hành chính thành phố có bước chuyển mạnh sang phục vụ Nhân dân và doanh nghiệp. Đến nay, 100% sở, ngành thực hiện cơ chế “một cửa”; 14/15 quận, huyện (trừ huyện đảo Bạch Long Vĩ), 217/217 xã, phường, thị trấn thực hiện cơ chế “một cửa liên thông”; chỉ số cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) có sự bứt phá từ vị trí 28/63 năm 2015 lên vị trí thứ 10/63 tỉnh, thành phố năm 2019; chỉ số hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính Nhà nước luôn thuộc tốp đầu cả nước, năm 2019 đạt 92,22 điểm, xếp thứ 2/63 tỉnh, thành phố. 

Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và các hội quần chúng: Tích cực đổi mới nội dung, phương thức hoạt động và đạt hiệu quả thiết thực. Vai trò liên minh chính trị và tập hợp, vận động Nhân dân của Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể các cấp được tăng cường; phối hợp chặt chẽ với các tổ chức trong hệ thống chính trị trong thực hiện nhiệm vụ; bước đầu khắc phục được tình trạng hành chính hóa, chồng chéo, trùng lặp trong hoạt động. Phát huy tốt vai trò nòng cốt tập hợp đoàn viên, hội viên và Nhân dân triển khai các cuộc vận động, các phong trào thi đua ngày càng bám sát và tham gia có chiều sâu vào các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội, góp phần quan trọng khơi dậy động lực tích cực trong Nhân dân, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với các cấp ủy, chính quyền.

2. Những hạn chế, khuyết điểm, nguyên nhân 
2.1. Những hạn chế, khuyết điểm


Về kinh tế - xã hội: Còn 01 chỉ tiêu Đại hội XV chưa hoàn thành (tuổi thọ trung bình mới đạt 74,7 so với chỉ tiêu là 77 tuổi). Một số ngành kinh tế phát triển chưa tương xứng với lợi thế, tiềm năng của thành phố. 

Về công tác xây dựng Đảng, hệ thống chính trị: Việc đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị trên thực tế phát huy hiệu quả chưa cao. Công tác phát triển tổ chức Đảng và đảng viên khu vực ngoài Nhà nước chưa đạt yêu cầu. Công tác cán bộ còn có những hạn chế, một số cán bộ được lựa chọn đề bạt chưa đáp ứng yêu cầu, thậm chí có cán bộ vi phạm phải xử lý kỷ luật.
 
2.2. Nguyên nhân của những hạn chế, khuyết điểm

 Những hạn chế, khuyết điểm trong quá trình thực hiện Nghị quyết Đại hội XV Đảng bộ thành phố là do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là các nguyên nhân sau:

Về nguyên nhân khách quan: Trong cả nhiệm kỳ, thành phố luôn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức từ tình hình chung của đất nước và thế giới. Trong khi thực lực của nền kinh tế thành phố khi bước vào đầu nhiệm kỳ còn hạn chế, môi trường đầu tư kinh doanh chưa có tính cạnh tranh cao, nguồn lực đầu tư còn ở mức khiêm tốn, chưa thể đáp ứng được nhu cầu phát triển tăng tốc của một thành phố đang trong thời kỳ đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. 

Về nguyên nhân chủ quan: Việc triển khai, quán triệt các chủ trương, nghị quyết phát triển kinh tế - xã hội mang tính đổi mới của Thành ủy, trong một số thời điểm, tại một số địa phương, đơn vị, cấp ủy, người đứng đầu cấp ủy còn thể hiện sự lúng túng, vừa thiếu tinh thần đổi mới, nhiệt huyết, vừa thiếu quyết liệt, dẫn đến trì trệ, ảnh hưởng đến công việc chung. Tính chiến đấu của một số tổ chức đảng, đảng viên chưa cao. Một bộ phận cán bộ, đảng viên trong thực thi công vụ vẫn còn thể hiện tính quan liêu, thụ động, vô cảm, nói không đi đôi với làm. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, chủ nghĩa cá nhân, lợi ích nhóm ở một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi. Thực trạng đó là nguyên nhân chủ yếu của những tồn tại, hạn chế trong nhiệm kỳ vừa qua.

3. Đánh giá tổng quát và những bài học kinh nghiệm
3.1. Đánh giá tổng quát:


Qua 05 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, Nghị quyết Đại hội XV Đảng bộ thành phố, trong bối cảnh thuận lợi, khó khăn, thách thức đan xen; trong đó có những khó khăn, thách thức gay gắt, vượt xa so với dự báo; song được sự lãnh đạo, giúp đỡ của Trung ương Đảng, Quốc hội và Chính phủ, Đảng bộ, chính quyền, quân và dân thành phố Hải Phòng đã phát huy truyền thống “Trung dũng - Quyết thắng”, nỗ lực đổi mới, dám nghĩ, dám làm, khơi dậy được sức mạnh của toàn dân, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XV Đảng bộ thành phố, đưa Hải Phòng bước vào thời kỳ phát triển mới với những dấu ấn mới. 

Các chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu mà Nghị quyết Đại hội XV Đảng bộ thành phố đề ra đều hoàn thành, trong đó 12/20 chỉ tiêu hoàn thành vượt mức cả về thời gian và chất lượng tăng trưởng. Kinh tế thành phố phát triển mạnh mẽ, luôn duy trì tốc độ tăng trưởng cao, quy mô kinh tế tăng gấp 2,1 lần năm 2015. Tiềm lực của thành phố được tăng cường, thu ngân sách nội địa năm 2020 gấp 2,32 lần năm 2015. Cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế được hiện đại hóa. Các lĩnh vực công nghiệp, thương mại, du lịch, cảng biển, kết cấu hạ tầng giao thông đều có bước phát triển vượt bậc, diện mạo đô thị, diện mạo nông thôn có nhiều thay đổi theo hướng văn minh, hiện đại. Hoàn thành chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, sản xuất nông nghiệp từng bước được cơ cấu lại theo hướng sản xuất tập trung.

Các lĩnh vực giáo dục và đào tạo, y tế, chăm sóc sức khỏe Nhân dân, văn hóa, nghệ thuật, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, an sinh xã hội được quan tâm đầu tư lớn, có nhiều cơ chế, chính sách mới vượt trội và đều đạt được những kết quả rất nổi bật. Quốc phòng được tăng cường, củng cố; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế, liên kết vùng được triển khai đồng bộ, hiệu quả; hình ảnh, vị thế và uy tín của Hải Phòng được nâng cao rõ nét. Vai trò lãnh đạo toàn diện của Thành ủy, các cấp ủy được bảo đảm, phương thức lãnh đạo có nhiều đổi mới. Kỷ cương, kỷ luật trong Đảng được thực hiện nghiêm. Đội ngũ cán bộ các cấp đã có bước trưởng thành, đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ. Khối đại đoàn kết toàn dân được tăng cường. Đời sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp nhân dân được cải thiện và nâng cao. Nhân dân phấn khởi, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và tương lai tươi sáng của thành phố.

Những thành tựu đạt được 05 năm qua có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan. Trong đó, sự quan tâm giúp đỡ, lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời của Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ, các ban, bộ, ngành Trung ương; đặc biệt, những chỉ đạo sâu sắc, cụ thể, kịp thời của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch Nước, đồng chí Thủ tướng Chính phủ là một trong những yếu tố quyết định cho những thành tựu nổi bật, toàn diện của thành phố trong nhiệm kỳ vừa qua. Những thành tựu đó là kết quả từ sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn, có nhiều đổi mới, sáng tạo của Thành ủy, Ban Thường vụ Thành ủy, Thường trực Thành ủy; sự quản lý, điều hành quyết liệt, kịp thời của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân và các cấp chính quyền thành phố, cùng sự phối hợp đồng bộ của cả hệ thống chính trị, sự nỗ lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên, tinh thần lao động tích cực, sáng tạo của Nhân dân thành phố. Những thành tựu đó cũng là sản phẩm kết tinh của cả một quá trình nỗ lực phấn đấu bền bỉ, liên tục qua nhiều nhiệm kỳ của Đảng bộ, chính quyền, quân và dân thành phố. 

3.2. Những bài học kinh nghiệm

Thực tiễn phong phú sinh động của 05 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XV Đảng bộ thành phố đã để lại cho Đảng bộ, chính quyền và toàn hệ thống chính trị thành phố một số bài học kinh nghiệm sâu sắc trong công tác lănh đạo, chỉ đạo và vận động Nhân dân, cụ thể như sau: 

Thứ nhất: Phải luôn chú trọng tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; thực hiện nghiêm các nguyên tắc, quy định của Đảng; bảo đảm vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng; duy trì sự đoàn kết, thống nhất trong nội bộ Thành ủy, trước hết là Thường trực Thành ủy, Ban Thường vụ Thành ủy. Đồng thời, xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt các cấp, nhất là người đứng đầu có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức trong sáng, có trình độ, năng lực nổi trội, luôn đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, thực sự tiền phong, gương mẫu, là hạt nhân đoàn kết vì sự nghiệp chung. Đây chính là yếu tố có ý nghĩa quyết định làm nên những thành công toàn diện của thành phố trong nhiệm kỳ vừa qua. 

Thứ hai: Trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế - xã hội, Đảng bộ, chính quyền phải có những biện pháp đổi mới mạnh mẽ, có những giải pháp hữu hiệu nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh để khơi thông và huy động mạnh mẽ các nguồn lực từ cộng đồng doanh nghiệp và xã hội đầu tư vào các lĩnh vực kinh tế - xã hội trọng điểm của thành phố. 

Phải thường xuyên tăng cường các giải pháp chống thất thoát đối với nguồn lực từ ngân sách Nhà nước; nguồn lực đầu tư từ ngân sách phải bảo đảm được sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, nguồn lực đầu tư công chủ yếu phục vụ phát triển kết cấu hạ tầng giao thông, đô thị, các lĩnh vực văn hóa, xã hội, tạo sức thu hút và động lực mới để thúc đẩy phát triển, kiên quyết không đầu tư dàn trải, không để kéo dài các dự án đầu tư công. 

Thứ ba: Các chủ trương, nghị quyết, cơ chế, chính sách của Thành ủy, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân thành phố về phát triển kinh tế - xã hội phải thực sự thể hiện được “Ý Đảng - Lòng Dân”, sẽ tạo được sự đồng thuận và huy động được sức mạnh trong Nhân dân. Đồng thời, phải có nguồn lực bảo đảm thực hiện; phải thường xuyên đôn đốc, kiểm tra, tổng kết; tuyệt đối không ban hành những nghị quyết chung chung, không có tính khả thi. 

Thứ tư: Trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo vận hành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng bộ, chính quyền thành phố phải đề ra được các cơ chế, chính sách, giải pháp để giải quyết thật tốt mối quan hệ giữa việc phát triển kinh tế thị trường với việc duy trì sự tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao toàn diện đời sống của các tầng lớp nhân dân, bảo đảm những giá trị ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa. Phương châm này đã được Thành ủy và chính quyền thành phố nhất quán thực hiện, các chính sách về an sinh xã hội và việc quan tâm đầu tư cho các lĩnh vực văn hóa - xã hội đã được ưu tiên và đi trước so với tốc độ phát triển kinh tế. Vì vậy, đã tạo ra động lực mạnh mẽ thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội thành phố và củng cố niềm tin vững chắc của Nhân dân vào đường lối đổi mới của Đảng, vào vai trò lãnh đạo của Đảng, của Thành ủy. 

 Thứ năm: Trong việc đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, giải phóng mặt bằng để triển khai các dự án luôn là vấn đề khó khăn nhất và tổ chức thực hiện tốt việc giải phóng mặt bằng cũng là nhân tố quan trọng đầu tiên để tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ về hạ tầng kinh tế - xã hội trong những năm vừa qua. Để có được thành công trong việc giải phóng mặt bằng, trước hết, các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, các dự án đầu tư đều phải phù hợp với nhu cầu phát triển, mang lại hiệu quả chung cho sự nghiệp xây dựng, phát triển thành phố và đất nước. Đồng thời, quá trình triển khai phải bảo đảm được tính công khai, minh bạch từ chủ trương đến chính sách bồi thường, chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật, bảo đảm lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân. Việc sắp xếp tái định cư cho người dân phải bảo đảm cơ sở hạ tầng và điều kiện sinh hoạt tại nơi ở mới hiện đại và tốt hơn nơi ở cũ. 
PHẦN III
ĐẠI HỘI ĐÃ THÔNG QUA MỤC TIÊU, PHƯƠNG HƯỚNG, 
NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP CHỦ YẾU PHÁT TRIỂN THÀNH PHỐ 5 NĂM 2020 - 2025

1. Dự báo tình hình

Trong những năm tới, tình hình kinh tế, chính trị thế giới sẽ tiếp tục có những diễn biến phức tạp, khó lường. Kinh tế thế giới đứng trước nguy cơ rơi vào khủng hoảng và suy thoái mới. Cuộc chiến tranh thương mại giữa các nền kinh tế lớn có xu hướng ngày càng quyết liệt. Những vấn đề toàn cầu như bảo vệ hòa bình, an ninh phi truyền thống, biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh, đặc biệt là dịch bệnh Covid-19 sẽ tiếp tục làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế thế giới nói chung. Tình hình khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có khu vực Đông Nam Á và Biển Đông tiềm ẩn nhiều nguy cơ bất ổn. Những vấn đề trên sẽ ảnh hướng lớn, tác động tiêu cực tới tốc độ phát triển kinh tế và đời sống kinh tế - xã hội của nước ta trong nhiệm kỳ và những năm tiếp theo. 
Trong bối cảnh đó, thành phố Hải Phòng cũng sẽ gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng từ tình hình chung của thế giới, khu vực và trong nước. Đồng thời, thành phố cũng phải đối mặt với những khó khăn, thách thức như các ngành, khu vực, lĩnh vực kinh tế của thành phố phát triển chưa đồng bộ, kết nối liên vùng còn hạn chế, nguồn nhân lực chất lượng cao cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa còn chưa đáp ứng yêu cầu, những khó khăn từ biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh dự báo có những diễn biến phức tạp. 

Đan xen với những khó khăn, thách thức, thành phố cũng đang đứng trước thời cơ rất lớn. Đó là hạ tầng kinh tế - xã hội của thành phố đã có bước phát triển quan trọng, nguồn lực của thành phố đã được tăng cường mạnh mẽ so với đầu nhiệm kỳ, môi trường đầu tư của Hải Phòng đã và đang thể hiện sự hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư trong, ngoài nước. Đặc biệt, Nghị quyết 45-NQ/TW, ngày 24/01/2019 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 với những mục tiêu, định hướng, giải pháp mang tính hiện thực cao, đã mở ra thời cơ lịch sử cho thành phố Hải Phòng trong nhiệm kỳ 2020 - 2025 và những năm tiếp theo. 

2. Về mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ chủ yếu phát triển thành phố 5 năm 2020-2025:
2.1. Mục tiêu 


Đến năm 2025, thành phố Hải Phòng cơ bản hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; trở thành thành phố công nghiệp theo hướng hiện đại; là trọng điểm phát triển kinh tế biển, trung tâm du lịch quốc tế; hoàn thành xây dựng Trung tâm hành chính - chính trị thành phố tại Khu đô thị Bắc sông Cấm; đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân được nâng cao; trật tự an toàn xã hội được bảo đảm, quốc phòng, an ninh được giữ vững; có tổ chức Đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; tạo nền tảng vững chắc để trở thành thành phố công nghiệp phát triển hiện đại, văn minh, bền vững tầm cỡ khu vực Đông Nam Á vào năm 2030.

2.2. Các chỉ tiêu chủ yếu 

 Các chỉ tiêu kinh tế: 

(1) Tăng trưởng GRDP đạt bình quân tối thiểu 14,5%/năm, trong đó công nghiệp - xây dựng tăng 19,2%/năm; dịch vụ tăng 8,8%/năm; nông, lâm và thủy sản tăng 1,1%/năm; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 8,3%/năm.
Tỷ trọng GRDP của Hải Phòng năm 2025 chiếm 6,4% GDP cả nước, 23,7% GDP vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. 

(2) GRDP bình quân năm 2025 đạt 11.800 USD/người.

(3) Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng bình quân 21,5%/năm; tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo trong GRDP đến năm 2025 đạt từ 41% đến 43%; tỷ trọng giá trị sản phẩm công nghiệp công nghệ cao trong công nghiệp chế biến, chế tạo năm 2025 đạt từ 47% đến 49%.

(4) Thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn đến năm 2025 đạt 145.000 tỷ đồng, trong đó thu nội địa đạt 65.000 tỷ đồng.
(5) Tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2021-2025 đạt 1.200 nghìn tỷ đồng.

(6) Kim ngạch xuất khẩu đến năm 2025 đạt 35 tỷ USD.

(7) Sản lượng hàng hoá thông qua các cảng trên địa bàn năm 2025 đạt 300 triệu tấn.

(8) Khách du lịch đến năm 2025 đạt 20 triệu lượt.

(9) Tỷ trọng đóng góp của năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP) vào GRDP đến năm 2025 là 47%.

(10) Đến năm 2025 có 100% số xã cơ bản đạt tiêu chí xã nông thôn mới kiểu mẫu.

Các chỉ tiêu xã hội:

(11) Tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị dưới 3,5% vào năm 2025. 

(12) Giải quyết việc làm cho 5,58 vạn lượt lao động/năm. 

(13) Đến năm 2025 tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt từ 87% đến 88%; trong đó tỷ lệ lao động có bằng cấp, chứng chỉ đạt 40%.

(14) Đến năm 2025 không còn hộ nghèo theo chuẩn quốc gia. 

(15) Tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế đạt trên 95% vào năm 2025.

 Các chỉ tiêu môi trường:

(16) Tỷ lệ hộ dân sử dụng nước sạch theo tiêu chuẩn đạt 100% vào năm 2025.

(17) Tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt đô thị được thu gom, xử lý đạt 100%, nông thôn đạt 95%; trong đó trên 50% được xử lý bằng các công nghệ hiện đại, không chôn lấp vào năm 2025.

(18) Tỷ lệ nước thải đô thị được xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật đạt từ 40% đến 50% vào năm 2025.

Chỉ tiêu xây dựng Đảng:

(19) Kết nạp từ 15.000 đến 15.500 đảng viên. 

(20) Hằng năm, 70% số doanh nghiệp ngoài Nhà nước có điều kiện; 100% số hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp ngoài công lập có điều kiện thành lập được tổ chức đảng.

2.3. Phương hướng phát triển thành phố

 (1) Tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo toàn diện của các cấp ủy Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, hiệu lực, hiệu quả, xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ chủ chốt có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín và nhiệt huyết, đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

(2) Đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Thành ủy, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân thành phố; tiếp tục tăng cường kỷ cương thu, chi ngân sách, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh; khơi dậy mọi tiềm năng, lợi thế, thu hút nguồn lực tập trung phát triển đột phá hạ tầng giao thông, đô thị; phát triển 03 trụ cột kinh tế của thành phố: công nghiệp công nghệ cao, cảng biển - logistics, du lịch - thương mại theo tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành phố đã được Nghị quyết 45-NQ/TW của Bộ Chính trị đề ra.

(3) Ưu tiên nguồn lực cho việc thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu; quá trình triển khai cần được tiến hành theo lộ trình cụ thể; sau khi kết thúc việc thực hiện thí điểm tại một số địa phương sẽ tiến hành tổng kết rút kinh nghiệm, hoàn thiện đề án để triển khai đồng bộ. Trong quá trình thực hiện phải gắn với tiến trình đô thị hóa theo định hướng trong Nghị quyết 45-NQ/TW của Bộ Chính trị.

(4) Phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hóa, xã hội, tiếp tục ban hành những chủ trương, cơ chế, chính sách mới, ưu tiên nguồn lực, khuyến khích phát triển các lĩnh vực giáo dục và đào tạo, y tế, văn học, nghệ thuật, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, các lĩnh vực an sinh xã hội, nhất là chính sách đối với các gia đình thương binh, liệt sỹ, người có công.

(5) Thực hiện tốt nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, giữ vững chủ quyền quốc gia, giữ vững an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội. Mở rộng và nâng cao hiệu quả các hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế và liên kết vùng.

2.4. Các nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu

1. Tiếp tục thực hiện chủ trương tăng cường kỷ cương thu chi ngân sách; cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh; thúc đẩy các thành phần kinh tế phát triển. 

2. Đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế theo định hướng phát triển 03 trụ cột chủ yếu: công nghiệp công nghệ cao; cảng biển - logistics; du lịch - thương mại.

3. Xây dựng, phát triển, hiện đại hóa đô thị Hải Phòng; phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đồng bộ, hiện đại.

4. Đầu tư phát triển hạ tầng nông thôn gắn với thực hiện xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu, phù hợp với quá trình đô thị hóa. 

5. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý đất đai, tài nguyên, bảo vệ môi trường, đa dạng sinh học, chủ động ứng phó có hiệu quả với biến đổi khí hậu, nước biển dâng. 

6. Xây dựng Hải Phòng trở thành trung tâm giáo dục - đào tạo, y tế của vùng Duyên hải Bắc Bộ; trọng điểm phát triển khoa học - công nghệ biển của cả nước.

7. Phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân. 

8. Củng cố quốc phòng, an ninh, giữ vững chủ quyền biển đảo quốc gia; bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế và liên kết vùng. 

9. Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh; đổi mới, hoàn thiện tổ chức bộ máy hệ thống chính trị; nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cấp chính quyền.
 
10. Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, xây dựng, củng cố sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân. 
Trước yêu cầu phát triển mạnh mẽ của thành phố theo định hướng Nghị quyết 45-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa XII, cũng như các mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể đã đề ra, trong nhiệm kỳ tới, cùng với việc thực hiện đồng bộ những nhiệm vụ, giải pháp nêu trên, cần tập trung chỉ đạo 03 giải pháp đột phá sau đây:

(1) Xây dựng, phát triển, hiện đại hóa đô thị Hải Phòng mang đặc trưng, bản sắc riêng của thành phố cảng biển. Bố trí nguồn lực hợp lý để tiếp tục đẩy mạnh chỉnh trang, nâng cấp đô thị trung tâm, nhất là các khu đô thị dọc theo hai bờ các dòng sông chảy qua nội đô như sông Tam Bạc, sông Cấm, sông Hạ Lý, sông Lạch Tray, tạo thành các cảnh quan, công trình công cộng phúc lợi xã hội. Cơ bản hoàn thành đầu tư các công trình, dự án lớn trong quy hoạch phát triển không gian đô thị theo 03 hướng đột phá (Bắc sông Cấm, Cát Hải - Cát Bà, Đồ Sơn và ven sông Lạch Tray). Song song với việc tập trung đầu tư hạ tầng kinh tế - xã hội, triển khai các thủ tục pháp lý để chuyển đổi huyện Thủy Nguyên thành thành phố trực thuộc thành phố, huyện An Dương thành đơn vị hành chính quận trước năm 2025; chuyển đổi huyện Kiến Thụy thành đơn vị hành chính quận trước năm 2030.

(2) Tập trung phát triển kết cấu hạ tầng giao thông, hạ tầng khu công nghiệp, triển khai quyết liệt các thủ tục đầu tư, nhất là giải phóng mặt bằng, sẵn sàng các điều kiện để thu hút làn sóng đầu tư mới chuyển dịch đến Việt Nam mà Hải Phòng là địa phương có nhiều lợi thế, ưu tiên phát triển ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghiệp công nghệ cao, thân thiện môi trường để Hải Phòng trở thành một trung tâm công nghiệp lớn của đất nước.

(3) Phát triển Hải Phòng trở thành trung tâm du lịch tầm cỡ quốc tế. Trọng tâm là đẩy nhanh tiến độ các dự án lớn về phát triển hạ tầng du lịch đã và đang được triển khai trên địa bàn Đồ Sơn, Cát Hải - Cát Bà, đảo Vũ Yên. Tiếp tục thu hút các nhà đầu tư lớn để triển khai các dự án du lịch, trung tâm thương mại, khách sạn 5 sao, khu nghỉ dưỡng cao cấp theo quy hoạch đã được phê duyệt. Hình thành các sản phẩm du lịch đặc trưng của thành phố gắn với biển đảo, các di tích lịch sử, văn hóa, phấn đấu đến năm 2025, du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn theo đúng định hướng tại Nghị quyết số 08-NQ/TW, ngày 16/01/2017 của Bộ Chính trị.
 
PHẦN IV
ĐẠI HỘI ĐÃ THÔNG QUA BÁO CÁO KIỂM ĐIỂM SỰ LÃNH ĐẠO, CHỈ ĐẠO CỦA BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ KHÓA XV TRÌNH ĐẠI HỘI XVI.

 
Đại hội giao cho Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố khóa XVI tiếp thu ý kiến của Đại hội, những bài học kinh nghiệm được rút ra từ hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo nhiệm kỳ 2015 - 2020, tiếp tục phát huy ưu điểm, khắc phục những hạn chế, yếu kém, không ngừng đổi mới phương thức, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện, hoàn thành các chỉ tiêu, nhiệm vụ nhiệm kỳ 2020 - 2025.
 
PHẦN V
ĐẠI HỘI ĐÃ THÔNG QUA BÁO CÁO TỔNG HỢP Ý KIẾN 
THAM GIA GÓP Ý DỰ THẢO CÁC VĂN KIỆN 
TRÌNH ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ XIII CỦA ĐẢNG

 
Đã có hơn 87.950 lượt cán bộ, đảng viên và nhân dân tham gia ý kiến vào các dự thảo Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, trong đó tại đại hội các chi, đảng bộ và 35 đảng bộ trực thuộc Thành ủy có hơn 13.208 lượt ý kiến của đại biểu đại hội tham gia góp ý.
Đại hội giao cho Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố khóa XVI có trách nhiệm tổng hợp đầy đủ các ý kiến thảo luận tại Đại hội, báo cáo Trung ương theo quy định.
PHẦN VI
ĐẠI HỘI ĐÃ BẦU BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ 
KHÓA XVI VÀ BẦU ĐOÀN ĐẠI BIỂU ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ 
DỰ ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ XIII CỦA ĐẢNG; 
KẾT QUẢ KỲ HỌP THỨ NHẤT BAN CHẤP HÀNH 
ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ KHÓA XVI.

 
1. Kết quả bầu Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố khóa XVI, nhiệm kỳ 2020 - 2025:

Đại hội đã tiến hành bầu Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố khóa XVI, nhiệm kỳ 2020 - 2025 gồm 53 đồng chí, trong đó có 08 đồng chí là nữ.

2. Tại Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố khóa XVI, lần thứ Nhất đã bầu Ban Thường vụ, Bí thư, Phó Bí thư Thành ủy khóa XVI; Ủy ban kiểm tra Thành ủy, Chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra Thành ủy nhiệm kỳ 2020 - 2025:
2.1. Ban Thường vụ Thành ủy gồm 15 đồng chí. 

 
STT Họ và tên Chức vụ, đơn vị công tác
  1.  
 LÊ VĂN THÀNH Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành uỷ khoá XV, Chủ tịch HĐND thành phố
  1.  
NGUYỄN VĂN TÙNG Phó Bí thư Thành ủy Khóa XV, Chủ tịch UBND thành phố
  1.  
CAO XUÂN LIÊN Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy khóa XV, Trưởng Ban Dân vận Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố
  1.  
ĐỖ MẠNH HIẾN Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy khoá XV, Chủ nhiệm UBKT Thành ủy khóa XV
  1.  
ĐẶNG BÁ CƯỜNG Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy khoá XV, Trưởng Ban Nội chính Thành ủy
  1.  
ĐÀO KHÁNH HÀ Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy khoá XV, Trưởng Ban Tuyên giáo Thành uỷ
  1.  
VŨ THANH CHƯƠNG Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy khoá XV, Giám đốc Công an thành phố
  1.  
NGUYỄN MINH QUANG Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy khoá XV, Chỉ huy trưởng BCH Quân sự thành phố
  1.  
LÊ NGỌC TRỮ Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy khoá XV, Giám đốc Sở Tài chính
  1.  
NGUYỄN ĐÌNH CHUYẾN Ủy viên Thành ủy, Phó Chủ tịch UBND thành phố
  1.  
ĐÀO TRỌNG ĐỨC Ủy viên Thành ủy, Bí thư  Quận ủy, Chủ tịch UBND quận Ngô Quyền
  1.  
LÊ TRUNG KIÊN Ủy viên Thành ủy, Bí thư Quận ủy Lê Chân
  1.  
PHẠM VĂN LẬP Ủy viên Thành ủy, Bí thư Huyện ủy Thủy Nguyên
  1.  
LÊ ANH QUÂN Ủy viên Thành ủy, Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch UBND huyện An Dương
  1.  
LÊ TRÍ VŨ Ủy viên Thành ủy, Phó Trưởng Ban quản lý Khu kinh tế Hải Phòng
 
2.2. Kết quả bầu Bí thư Thành ủy, các Phó Bí thư Thành ủy:

- Bí thư Thành ủy:  Đồng chí Lê Văn Thành
- Các Phó Bí thư Thành ủy:
+ Đồng chí Nguyễn Văn Tùng
+ Đồng chí Đỗ Mạnh Hiến

3. Kết quả bầu Ủy ban Kiểm tra Thành ủy khóa XVI, nhiệm kỳ 2020 - 2025:

Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố đã bầu Uỷ ban kiểm tra Thành uỷ gồm 09 đồng chí Uỷ viên. Đồng chí Nguyễn Đình Chuyến, Uỷ viên Ban Thường vụ Thành ủy được bầu làm Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Thành ủy.

4. Kết quả bầu Đoàn đại biểu dự Đại hội XIII của Đảng:

Đại hội bầu Đoàn đại biểu dự Đại hội XIII của Đảng gồm 23 đại biểu chính thức và 02 đại biểu dự khuyết.

Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XVI thành công tốt đẹp, là một dấu mốc quan trọng, là bước nhấn mới cho sự nghiệp xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng. Với những phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp mang tính biện chứng và hiện thực cao thể hiện trong Báo cáo chính trị, thành phố Hải Phòng sẽ có đủ điều kiện để bước vào thời kỳ phát triển mới, thời kỳ hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành phố. Đại hội yêu cầu các tổ chức đảng, toàn thể cán bộ, đảng viên trong toàn Đảng bộ phải nêu cao tinh thần trách nhiệm, tính tiền phong, gương mẫu, giữ gìn các nguyên tắc, kỷ luật Đảng, nỗ lực phấn đấu cho sự nghiệp xây dựng, phát triển thành phố, vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc của Nhân dân. Đại hội kêu gọi toàn thể cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân và lực lượng vũ trang thành phố phát huy truyền thống “Trung dũng - Quyết thắng”, đoàn kết một lòng quyết tâm phấn đấu, thi đua thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XVI, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng để Hải Phòng luôn là địa phương đi đầu trong sự nghiệp đổi mới, xứng đáng là “Thành phố gương mẫu của nước ta” như mong muốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu./.

Tác giả bài viết: Theo Thông báo số 97 -TB/BTGTU của Ban Tuyên giáo Thành uỷ Hải Phòng

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 5 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây