Tình hình kinh tế - xã hội tháng 8, 8 tháng năm 2026 thành phố Hải Phòng

Thứ hai - 31/08/2026 15:20

TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI THÁNG 8, 8 THÁNG NĂM 2026
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ
1. Hoạt động tài chính, ngân hàng
1.1. Tài chính
Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn ước thực hiện 8 tháng là 146.682 tỷ đồng, đạt 75,3% dự toán Trung ương, đạt 75,2% dự toán Hội đồng nhân dân thành phố giao, đạt 69,2% dự toán phấn đấu, đạt 70,4% mục tiêu Nghị quyết 11-NQ/TU, đạt 122,5% kế hoạch thu 8 tháng, đạt 117,1% kế hoạch phấn đấu 8 tháng và bằng 110,7% so cùng kỳ.
Tổng chi ngân sách địa phương ước thực hiện đến hết tháng 8/2026 đạt 50.751 tỷ đồng, đạt 56,0% dự toán Trung ương giao và đạt 55,9% dự toán Hội đồng nhân dân thành phố giao, trong đó: Chi đầu tư phát triển đạt 20.447 tỷ đồng, đạt 55,7% dự toán Trung ương giao và dự toán Hội đồng nhân dân thành phố giao; Chi thường xuyên đạt 27.491 tỷ đồng, đạt 70,9% dự toán Trung ương và Hội đồng nhân dân thành phố giao.
1.2. Ngân hàng
* Công tác huy động vốn
Trong tháng 8/2026, hệ thống các tổ chức tín dụng trên địa bàn tích cực thực hiện các biện pháp huy động vốn, thực hiện đổi mới và nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng; đẩy mạnh công tác thông tin truyền thông, khai thác tối đa nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư. Tổng nguồn vốn huy động trên địa bàn thành phố Hải Phòng đến ngày 31/8/2026 ước đạt 692.710 tỷ đồng, tăng 6,7% so với cuối năm 2025, tăng 11,42% so với cùng kỳ năm 2025.
Huy động bằng VND ước đạt 652.704 tỷ đồng, tăng 7,16% so với cuối năm 2025, chiếm tỷ trọng 95,5%; ngoại tệ (quy đổi VND) ước đạt 34.472 tỷ đồng, giảm 2,93% so với cuối năm 2025, chiếm tỷ trọng 5,0%.
* Công tác tín dụng
Tổng dư nợ cho vay đến ngày 31/8/2026 ước đạt 550.235 tỷ đồng, tăng 8,39% so với cuối năm 2025, tăng 17,78% so với cùng kỳ năm 2025. 
Cho vay bằng VND ước đạt 526.761 tỷ đồng, tăng 6,76% so với cuối năm 2025, chiếm tỷ trọng 95,73%. Cho vay ngoại tệ (quy đổi VND) ước đạt 23.475 tỷ đồng, tăng 65,2% so với cuối năm 2025, chiếm tỷ trọng 4,27%.
2. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
Tháng 8 năm 2026, giá một số mặt hàng thực phẩm tăng do nguồn cung hạn chế. Giá trứng gia cầm tăng trở lại sau thời gian giảm sâu, đồng thời nhu cầu sử dụng làm nguyên liệu phục vụ sản xuất bánh Trung thu tăng. Giá một số loại rau, củ tăng do sản xuất trái vụ và ảnh hưởng của thời tiết mưa nhiều làm hạn chế nguồn cung. Những yếu tố trên là nguyên nhân chủ yếu làm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 8 năm 2026 tăng 0,43% so với tháng trước, tăng 4,35% so với tháng 12 năm 2025 và tăng 4,84% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 8 tháng đầu năm 2026, CPI tăng 4,12% so với cùng kỳ năm trước.
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 8 năm 2026 tăng 0,43% so với tháng trước, các khu vực có xu hướng tăng tương đối đồng đều nhau như: Khu vực thành thị tăng 0,57% và khu vực nông thôn tăng 0,31%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng tháng này có 09/11 nhóm hàng có chỉ số giá tăng và 02/11 nhóm hàng có chỉ số giá giảm.
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 8 năm 2026 so với cùng kỳ năm trước tăng 4,84%. Trong đó: khu vực thành thị tăng 5,51%, khu vực nông thôn tăng 4,25%; 10/11 nhóm hàng có chỉ số giá tăng và 01/11 nhóm hàng có chỉ số giá giảm.
Tám tháng năm 2026, mặt bằng giá trên địa bàn thành phố chịu áp lực tăng, song cơ bản được kiểm soát. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân 8 tháng tăng 4,12% so với cùng kỳ năm 2025. Nguyên nhân chủ yếu do giá xăng dầu và gas đun tăng theo diễn biến của thị trường thế giới trong nhiều tháng đầu năm, làm gia tăng chi phí vận tải và sản xuất; giá một số nguyên, nhiên, vật liệu đầu vào phục vụ sản xuất tăng, tác động đến giá các mặt hàng thuộc nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng.
* Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ
- Chỉ số giá vàng: Do giá vàng thế giới giảm, giá vàng trong nước tháng 8 cũng giảm theo. Chỉ số giá vàng tháng 8 năm 2026 đạt 99,01%, giảm 0,99% so với tháng trước. Giá vàng bình quân đạt 14.016 nghìn đồng/chỉ, giảm 140 nghìn đồng/chỉ so với tháng trước. Tính chung 8 tháng năm 2026, giá vàng trong nước biến động theo xu hướng tăng của giá vàng thế giới và duy trì ở mức cao so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá vàng bình quân 8 tháng đạt 146,03%, tăng 46,03% so với cùng kỳ năm 2025.
- Chỉ số giá đô la Mỹ: Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 8 năm 2026 giảm 0,33% so với tháng trước. Giá bình quân đô la Mỹ loại tờ mệnh giá 100 USD đạt 2.637,5 nghìn đồng/100 USD, giảm 8,7 nghìn đồng/100 USD so với tháng trước. Tính chung 8 tháng đầu năm 2026, chỉ số giá đô la Mỹ bình quân đạt 101,46%, tăng 1,46% so với cùng kỳ năm trước.
3. Đầu tư 
       Hoạt động đầu tư trên địa bàn thành phố tập trung vào các công trình hạ tầng giao thông, đô thị và các dự án trọng điểm. Vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý trong 8 tháng năm 2026 đạt 20.423,1 tỷ đồng, tăng 14,08% so với cùng kỳ năm trước, bằng 55,89% kế hoạch năm. Tiến độ thực hiện vốn cao hơn cùng kỳ, góp phần hoàn thiện kết cấu hạ tầng và mở rộng không gian phát triển của thành phố. Tuy nhiên, khối lượng vốn cần thực hiện trong những tháng cuối năm vẫn lớn, đòi hỏi tiếp tục tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh tiến độ thi công và giải ngân các dự án.
 3.1. Tình hình thực hiện vốn đầu tư thuộc nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý
Tháng 8 năm 2026, vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn thành phố ước đạt 3.555,8 tỷ đồng, tăng 4,20% so với tháng trước và tăng 9,25% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 8 tháng đầu năm, vốn thực hiện đạt 20.423,1 tỷ đồng, tăng 14,08% so với cùng kỳ năm 2025, bằng 55,89% kế hoạch năm. Mức thực hiện cao hơn cùng kỳ năm trước cho thấy tiến độ triển khai các công trình, dự án đầu tư công tiếp tục được duy trì, tuy nhiên khối lượng còn lại của kế hoạch năm vẫn lớn, khoảng 16.120,6 tỷ đồng, tương đương 44,11% kế hoạch.
3.2. Tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngoài
Tính đến ngày 20/8/2026, tổng vốn đầu tư nước ngoài thu hút trên địa bàn thành phố ước đạt 3.473,5 triệu USD, tăng 80,6% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, vốn trong khu công nghiệp, khu kinh tế đạt 3.143,35 triệu USD, chiếm khoảng 90,5% tổng vốn thu hút; vốn ngoài khu công nghiệp, khu kinh tế đạt 330,15 triệu USD, chiếm khoảng 9,5%. Vốn FDI thu hút chủ yếu tập trung trong các khu công nghiệp, khu kinh tế, chiếm khoảng 90,5% tổng vốn thu hút.
Theo hình thức đầu tư, vốn cấp mới đạt 1.995,52 triệu USD với 141 dự án, chiếm 57,4% tổng vốn thu hút; vốn điều chỉnh tăng thêm đạt 1.281,49 triệu USD với 92 lượt dự án, chiếm 36,9%; vốn góp, mua cổ phần, phần vốn góp đạt 196,49 triệu USD với 25 lượt đăng ký, chiếm 5,7%. Cơ cấu này phản ánh vốn cấp mới vẫn là nguồn đóng góp lớn nhất, đồng thời hoạt động tăng vốn của các dự án đang hoạt động tiếp tục bổ sung đáng kể vào tổng vốn đăng ký.
Trong 8 tháng, thành phố có 31 dự án FDI chấm dứt hoặc bị thu hồi, gồm 25 dự án ngoài khu công nghiệp và 6 dự án trong khu công nghiệp. Tính đến ngày 20/8/2026, toàn thành phố có 1.874 dự án FDI còn hiệu lực đến từ 41 quốc gia và vùng lãnh thổ, với tổng vốn đăng ký hiệu lực khoảng 53,7 tỷ USD. Trong đó, khu vực trong khu công nghiệp, khu kinh tế có 1.068 dự án, vốn đăng ký hiệu lực khoảng 45,5 tỷ USD; khu vực ngoài khu công nghiệp, khu kinh tế có 806 dự án, vốn đăng ký hiệu lực khoảng 8,2 tỷ USD.
Tám tháng đầu năm 2026, vốn FDI thu hút tăng 80,6% so với cùng kỳ, chủ yếu do vốn cấp mới tăng. Trong những tháng còn lại, cần theo dõi tiến độ hoàn thiện thủ tục của các dự án đăng ký mới, tình hình thực hiện phần vốn tăng thêm và hoạt động của các dự án đang còn hiệu lực.
4. Sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản
Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tháng 8 năm 2026 trên địa bàn thành phố nhìn chung ổn định. Trồng trọt tập trung chăm sóc cây trồng vụ Mùa và phòng trừ sâu bệnh; chăn nuôi cơ bản ổn định nhưng hiệu quả sản xuất chịu ảnh hưởng do giá đầu ra giảm, trong khi chi phí đầu vào còn cao; sản xuất lâm nghiệp ổn định. Sản lượng thủy sản tăng khá so với cùng kỳ năm trước. 
4.1. Nông nghiệp
* Trồng trọt
Trong tháng, các địa phương tập trung hướng dẫn người dân chăm sóc lúa và cây trồng vụ Mùa, thực hiện làm cỏ, bón phân, điều tiết nước, bơm tiêu chống úng và chủ động phòng trừ sâu bệnh; đồng thời tiếp tục gieo trồng ngô, khoai lang, lạc và các loại rau màu theo khung thời vụ. Tính đến ngày 20/8/2026, các địa phương cơ bản hoàn thành công tác gieo trồng vụ Mùa.
Diện tích gieo cấy lúa vụ Mùa ước đạt 77.200 ha, giảm 2,64%, tương ứng giảm 2.095 ha so với cùng kỳ năm trước. Cộng dồn từ đầu năm, diện tích gieo trồng một số cây trồng chủ yếu có biến động: ngô đạt 4.743 ha, tăng 2,97%; rau xanh các loại đạt 43.890 ha, giảm 0,96%; lạc đạt 1.002 ha, giảm 1,18%; đậu tương đạt 159 ha, giảm 13,11%; khoai lang đạt 1.280 ha, giảm 9,67%; diện tích các loại đỗ, đậu đạt 717 ha, tăng 85 ha so với cùng kỳ năm trước.
Sản xuất vụ Mùa năm 2026 diễn ra trong điều kiện có nhiều đợt mưa dông kéo dài. Lượng mưa tạo điều kiện thuận lợi cho việc cung cấp nước và điều tiết phục vụ sản xuất, tuy nhiên độ ẩm cao cũng làm gia tăng nguy cơ phát sinh, phát triển và lây lan của các đối tượng sinh vật gây hại. Trên cây lúa, sâu cuốn lá nhỏ, sâu đục thân hai chấm, rầy nâu và một số đối tượng sinh vật gây hại khác đã xuất hiện, có nguy cơ ảnh hưởng đến sản xuất trên diện rộng. Đáng chú ý, sâu cuốn lá nhỏ lứa 5 phát sinh và gây hại trên diện tích lúa cấy sớm; tại một số khu vực như Hùng Thắng, Chấn Hưng, Tiên Minh, Nam Triệu, Hồng An, mật độ sâu non cá biệt đạt 120-200 con/m².
* Chăn nuôi
Tháng 8 năm 2026, ngành chăn nuôi trên địa bàn thành phố cơ bản duy trì ổn định, tuy nhiên hiệu quả sản xuất chịu áp lực do giá lợn hơi giảm so với cuối tháng trước trong khi chi phí thức ăn chăn nuôi tiếp tục tăng.
Tổng đàn trâu ước đạt 6,27 nghìn con, tăng 0,32% so với tháng trước nhưng giảm 19,83% so với cùng kỳ năm trước; đàn bò đạt 13,12 nghìn con, tăng 0,34% và giảm 20,84%; đàn lợn đạt 496,68 nghìn con, tăng 0,61% và giảm 4,53%; đàn gia cầm đạt 23,49 triệu con, tăng 1,29% so với tháng trước nhưng giảm 2,89% so với cùng kỳ, trong đó đàn gà đạt 20,43 triệu con, tăng 3,57% so với tháng trước và tăng 0,94% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, quy mô đàn trâu, bò tiếp tục giảm; đàn lợn cơ bản ổn định; đàn gia cầm giảm nhẹ chủ yếu do số lượng vịt, ngan giảm.
Giá thức ăn chăn nuôi và một số chi phí đầu vào còn cao, trong khi giá sản phẩm chăn nuôi có xu hướng giảm. Theo kết quả điều tra giá nông, lâm nghiệp và thủy sản tháng 8/2026, giá lợn thịt hơi loại thường đạt khoảng 64,51 nghìn đồng/kg, giảm 3,90% so với tháng trước; giá gà ta đạt 98,01 nghìn đồng/kg, giảm 1,44%. Giá con giống nhìn chung có xu hướng giảm, trong đó giá lợn giống loại thường đạt khoảng 182,98 nghìn đồng/kg, giảm 1,79%; giá gà ta giống đạt 17,96 nghìn đồng/con, tăng nhẹ 0,08% so với tháng trước. Giá đầu ra giảm trong khi chi phí sản xuất còn cao, ảnh hưởng đến hiệu quả chăn nuôi.
Công tác phòng, chống dịch bệnh trên đàn vật nuôi cơ bản được kiểm soát, không ghi nhận ổ dịch bùng phát diện rộng. Các ngành chức năng và địa phương tiếp tục hướng dẫn người chăn nuôi thực hiện các biện pháp chăn nuôi an toàn, vệ sinh chuồng trại, tăng cường chăm sóc, bổ sung dinh dưỡng và chủ động giám sát, phát hiện, xử lý kịp thời các loại dịch bệnh nguy hiểm, hạn chế nguy cơ lây lan trên diện rộng.
4.2. Lâm nghiệp
Sản xuất lâm nghiệp tháng 8 năm 2026 trên địa bàn thành phố cơ bản ổn định. Diện tích rừng trồng tập trung sau khai thác trong tháng ước đạt 39,3 ha; lũy kế 8 tháng đạt 183,9 ha, giảm 0,59% so với cùng kỳ năm trước. Số cây lâm nghiệp trồng phân tán trong tháng ước đạt 55 nghìn cây; lũy kế đạt 1.260,5 nghìn cây, tăng 7,83%. Số cây trồng phân tán tăng chủ yếu do thực hiện trồng bổ sung tại các khu vực chưa bảo đảm mật độ rừng theo các dự án trồng rừng, phục hồi và phát triển rừng phòng hộ.
Sản lượng gỗ khai thác trong tháng ước đạt 830 m³; lũy kế 8 tháng đạt 9.000 m³, giảm 0,78% so với cùng kỳ năm trước. Nguồn gỗ khai thác chủ yếu từ cây trồng phân tán và diện tích rừng trồng đến tuổi khai thác.
Công tác chăm sóc, bảo vệ và phòng cháy, chữa cháy rừng tiếp tục được quan tâm. Tính đến ngày 14/8/2026, trên địa bàn thành phố không xảy ra vụ cháy rừng. Thời tiết có mưa nhiều, nắng nóng giảm đã làm cấp dự báo cháy rừng giảm từ cấp IV xuống cấp I, II, góp phần giảm nguy cơ cháy rừng.
4.3. Thủy sản
* Nuôi trồng thủy sản
Sản lượng thủy sản nuôi trồng tháng 8 năm 2026 ước đạt 16.440 tấn, tăng 5,40% so với cùng kỳ năm trước, tương ứng tăng 842 tấn; trong đó sản lượng cá đạt 15.290 tấn, tăng 5,45%, tương ứng tăng 790 tấn. Tính chung 8 tháng đầu năm, sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 140.275 tấn, tăng 5,73%, tương ứng tăng 7.599 tấn so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, sản lượng cá đạt 132.070 tấn, tăng 5,80%; sản lượng tôm đạt 5.403 tấn, tăng 4,63%; thủy sản khác đạt 2.802 tấn, tăng 4,36%.
* Khai thác thủy sản
Trong tháng 8 năm 2026, hoạt động khai thác thủy sản biển trên địa bàn thành phố chịu ảnh hưởng của thời tiết diễn biến phức tạp, có nơi xuất hiện mưa vừa, mưa to, mưa giông và nguy cơ xảy ra bão, áp thấp nhiệt đới. Tuy nhiên, sự xuất hiện của một số loài thủy sản tại khu vực gần bờ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động khai thác. Ngư trường chủ yếu của tàu cá Hải Phòng là khu vực Vịnh Bắc Bộ, phía Nam, Bắc và Đông đảo Bạch Long Vĩ, với các đối tượng khai thác chính gồm mực, cá nổi nhỏ như cá nục, cá bạc má và một số loài cá đáy như cá bơn, cá hồng. Nhờ nguồn lợi thủy sản xuất hiện thuận lợi tại ngư trường khai thác, đội tàu duy trì hoạt động tương đối ổn định và sản lượng tiếp tục tăng khá so với cùng kỳ năm trước.
Sản lượng khai thác thủy sản tháng 8 năm 2026 ước đạt 9.545,2 tấn, tăng 4,55%, tương ứng tăng 415,3 tấn so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, sản lượng cá đạt 6.617,5 tấn, tăng 4,86%, tương ứng tăng 306,6 tấn; sản lượng tôm đạt 669,3 tấn, tăng 4,63%, tương ứng tăng 29,6 tấn; thủy sản khác đạt 2.258,4 tấn, tăng 3,63%, tương ứng tăng 79,1 tấn so với cùng kỳ năm trước.
5. Sản xuất công nghiệp
Tám tháng đầu năm 2026, sản xuất công nghiệp thành phố Hải Phòng tiếp tục tăng khá, với chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 15,22% so với cùng kỳ năm trước. Công nghiệp chế biến, chế tạo vẫn là động lực chính của tăng trưởng, trong đó sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học, sản xuất kim loại và phương tiện vận tải đạt mức tăng cao, đóng góp đáng kể vào mức tăng chung. Tuy nhiên, tình hình sản xuất giữa các ngành vẫn có sự khác biệt. Một số ngành, như sản xuất giày dép, còn gặp khó khăn do đơn hàng xuất khẩu giảm và thị trường quốc tế chưa ổn định.
* Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 8/2026 (IIP)
Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 8 năm 2026 ước tăng 3,86% so với tháng trước và tăng 14,02% so với cùng kỳ năm trước.
So với tháng trước, sản xuất công nghiệp tiếp tục duy trì xu hướng tăng. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,31%, tiếp tục là động lực chủ yếu; ngành khai khoáng tăng 0,43%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,29%. Ngược lại, ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 4,38%, làm hạn chế mức tăng chung.
Theo ngành kinh tế cấp II, một số ngành ghi nhận mức tăng khá so với tháng trước như sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 14,39%; sản xuất kim loại tăng 6,14%; sản xuất xe có động cơ tăng 3,33%. Ngược lại, sản xuất trang phục giảm 16,74%; sản xuất sản phẩm thuốc lá giảm 15,73%; sản xuất đồ uống giảm 8,01%; sản xuất máy móc, thiết bị giảm 7,01%.
So với cùng kỳ năm trước, IIP tháng 8 tăng 14,02%. Động lực chính đến từ công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 14,58%; sản xuất và phân phối điện tăng 3,84%; cung cấp nước tăng 8,38%; khai khoáng tăng 36,55%. Một số ngành chế biến, chế tạo có tỷ trọng lớn tăng cao gồm sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 23,3%; sản xuất phương tiện vận tải tăng 55,06%; sản xuất kim loại tăng 25,75%. Ở chiều ngược lại, sản xuất giày dép giảm 7,77%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc thiết bị giảm 17,67%; sản xuất than cốc và sản phẩm dầu mỏ tinh chế giảm 4,39%.
* Chỉ số sản xuất công nghiệp 8 tháng năm 2026
Tính chung 8 tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 15,22% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành khai khoáng giảm 2,61%, làm giảm 0,01 điểm phần trăm mức tăng chung; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 15,66%, đóng góp 14,51 điểm phần trăm; sản xuất, phân phối điện tăng 10,06%, đóng góp 0,68 điểm phần trăm; cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải tăng 4,51%, đóng góp 0,05 điểm phần trăm.
Trong 5 năm gần đây, IIP 8 tháng của thành phố duy trì mức tăng khá; công nghiệp chế biến, chế tạo luôn là động lực chính. Năm 2026, IIP toàn ngành tăng 15,22%, cao hơn mức tăng 14,59% của năm 2025; riêng công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 15,66%.
* Một số ngành đóng góp lớn vào tăng trưởng ngành
- Sản xuất sản phẩm điện tử tăng 25,92%, đóng góp 9,25 điểm phần trăm. LG Innotek tăng sản lượng 55,5%; LG Display từ tháng 7 bước vào mùa vụ; Pegatron có sản phẩm máy chơi game tăng 526%; LG Electronics sản xuất thêm sản phẩm mới là lò vi sóng. Một số dự án mới và mở rộng sản xuất như USI Việt Nam, Bosen Việt Nam, Biel Crystal và BSE Việt Nam góp phần tích cực vào tăng trưởng.
- Sản xuất xe có động cơ tăng 8,69%, đóng góp 1,28 điểm phần trăm; trong đó sản xuất xe có động cơ tăng 11,78%, sản xuất phụ tùng và bộ phận phụ trợ tăng 7,29%.
- Sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 77,12%, đóng góp 1,13 điểm phần trăm; chủ yếu do sản xuất mô tô, xe máy tăng 205,97%. Ngành đóng tàu và cấu kiện nổi ước tăng 0,12% so với cùng kỳ.
- Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 20,91%, đóng góp 0,48 điểm phần trăm; sản xuất kim loại tăng 26,94%, đóng góp 0,99 điểm phần trăm.
Bên cạnh đó, ngành sản xuất giày dép giảm 8,11% do đơn hàng xuất khẩu sang Mỹ và châu Âu sụt giảm; ngành khai khoáng giảm 2,61%, mặc dù từ tháng 4 trở lại đây sản lượng đã tăng cao khi một số mỏ bắt đầu đi vào hoạt động.
* Sản phẩm công nghiệp chủ yếu 8 tháng năm 2026
Một số sản phẩm dự kiến tăng cao so với cùng kỳ: bảng điều khiển trò chơi video đạt 7.526,9 nghìn cái, tăng 5,8 lần; lò vi sóng đạt 377,3 nghìn cái, tăng 11,2 lần; cụm camera cho điện thoại đạt 231,9 triệu sản phẩm, tăng 55,5%; bộ sản phẩm tổ hợp kim loại đạt 103,2 triệu sản phẩm, tăng 131,9%; cà phê hỗn hợp hòa tan đạt 563 tấn, tăng 83,55%.
Một số sản phẩm dự kiến giảm: giày dép bằng nguyên liệu dệt đạt 2,6 triệu đôi, giảm 43,95%; giày dép da giảm 6,29%; bột giặt và các chế phẩm dùng để tẩy rửa đạt 23,4 nghìn tấn, giảm 19%; tổ máy phát điện đạt 617 bộ, giảm 41,74%; xe địa hình đạt 6.739 chiếc, giảm 17,5%.
* Lao động làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp
Tại thời điểm 01/8/2026, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tăng 1,09% so với tháng 7/2026 và tăng 4,63% so với cùng thời điểm năm trước.
Phân theo loại hình kinh tế, lao động khu vực doanh nghiệp nhà nước tăng 7,87%; doanh nghiệp ngoài nhà nước giảm 30,53%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 12,73%. Phân theo ngành cấp I, lao động ngành khai khoáng giảm 1,43%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,77%; sản xuất và phân phối điện giảm 3,04%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,85% so với cùng kỳ.
Một số ngành cấp II có chỉ số sử dụng lao động tăng gồm sản xuất thiết bị điện tăng 67,10%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 15,54%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 9,15%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 16,53%. Một số ngành giảm gồm sản xuất da và các sản phẩm liên quan giảm 12,85%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất giảm 9,98%; sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu giảm 7,49%; sản xuất chế biến thực phẩm giảm 6,07%; sản xuất đồ uống giảm 5,97%; sản xuất sản phẩm thuốc lá giảm 2,24%.
6. Thương mại, dịch vụ
Trong tháng 8, thành phố tổ chức các hoạt động xúc tiến thương mại, kích cầu tiêu dùng và phát triển du lịch; tổ chức một số sự kiện văn hóa, du lịch như Cuộc thi “Miss World 2026” – “Hoa hậu Thế giới 2026”, chung kết Cuộc thi Hoa hậu Việt Nam do Báo Tiền Phong tổ chức tại Hải Phòng; triển khai phố đi bộ đêm tại dải trung tâm thành phố, khai mạc ngày 28/8/2026. Các hoạt động này thu hút người dân và du khách, thúc đẩy mua sắm, vui chơi, giải trí và tiêu dùng dịch vụ. 
6.1. Tổng mức lưu chuyển hàng hóa và doanh thu dịch vụ
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tháng 8 năm 2026 ước đạt 37.805,72 tỷ đồng, tăng 0,94% so với tháng trước, tăng 17,82% so với cùng kỳ năm trước. Ước tính 8 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ đạt 283.101,9 tỷ đồng, tăng 15,92% so với cùng kỳ năm trước. 
6.1.1. Hoạt động bán lẻ
* Tháng 8 năm 2026
Bán lẻ hàng hóa tháng 8 năm 2026 tăng so với tháng trước và cùng kỳ. Doanh thu ước đạt 31.054,4 tỷ đồng, tăng 1,22% so với tháng trước và tăng 17,71% so với cùng kỳ năm trước. Một số nhóm hàng có doanh thu lớn đều tăng so với cùng kỳ, trong đó nhóm lương thực, thực phẩm đạt 8.249,1 tỷ đồng, tăng 17,37%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình đạt 7.437,8 tỷ đồng, tăng 17,01%; xăng, dầu các loại đạt 5.171,0 tỷ đồng, tăng 17,28%. Bên cạnh đó, doanh thu nhiều nhóm hàng khác cũng ghi nhận mức tăng khá như vật phẩm văn hóa, giáo dục; gỗ và vật liệu xây dựng; phương tiện đi lại và hàng hóa khác.
So với tháng trước, hoạt động bán lẻ tăng ở phần lớn các nhóm hàng. Nhu cầu tiêu dùng đối với hàng thiết yếu, hàng may mặc và đồ dùng gia đình tăng trong mùa hè. Thời tiết nắng nóng làm tăng nhu cầu đối với một số thiết bị gia dụng; nhu cầu ăn uống, vui chơi, giải trí tiếp tục được cải thiện. 
* Tám tháng năm 2026
Tính chung 8 tháng năm 2026, doanh thu hoạt động bán lẻ ước đạt 234.442,2 tỷ đồng, tăng 15,93% so với cùng kỳ năm trước; hầu hết các nhóm hàng đều ghi nhận mức tăng. Trong đó, doanh thu nhóm lương thực, thực phẩm tăng 15,30%; hàng may mặc tăng 15,77%; xăng, dầu các loại tăng 17,14%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 15,77%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 17,08%.
Hoạt động bán lẻ hàng hóa 8 tháng năm 2026 tiếp tục duy trì tăng trưởng khá, được thúc đẩy bởi nhu cầu mua sắm, tiêu dùng gắn với các hoạt động ăn uống, du lịch, vui chơi, giải trí, các dịp nghỉ lễ và mùa du lịch hè. Đặc biệt, việc tổ chức các sự kiện, lễ hội quy mô lớn, trong đó có Lễ hội Hoa Phượng Đỏ - Hải Phòng 2026 và chuỗi hoạt động chào mừng kỷ niệm 71 năm Ngày Giải phóng Hải Phòng, đã góp phần thu hút người dân và du khách, kích thích nhu cầu tiêu dùng và thúc đẩy hoạt động thương mại, dịch vụ trên địa bàn thành phố.
6.1.2. Hoạt động dịch vụ
* Tháng 8 năm 2026
        Hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và lữ hành tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực. Doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống tháng 8 ước đạt 4.275,31 tỷ đồng, chiếm 11,30% tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng, tăng 1,63% so với tháng trước và tăng 20,28% so với cùng kỳ năm trước. Dịch vụ lữ hành ước đạt 76,15 tỷ đồng, tăng 21,65% so với cùng kỳ. Doanh thu dịch vụ khác ước đạt 2.399,83 tỷ đồng, giảm 2,51% so với tháng trước nhưng tăng 14,90% so với cùng kỳ. Nhìn chung, hoạt động lưu trú, ăn uống và lữ hành tiếp tục tăng trưởng khá, trong khi một số dịch vụ khác có sự điều chỉnh so với tháng trước.
     * Tám tháng năm 2026
Tính chung 8 tháng đầu năm 2026, doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống ước đạt 29.739,36 tỷ đồng, tăng 17,63%; trong đó dịch vụ lưu trú tăng 17,72% và dịch vụ ăn uống tăng 17,62%. Doanh thu dịch vụ lữ hành đạt 451,80 tỷ đồng, tăng 18,70%; doanh thu dịch vụ khác đạt 18.468,52 tỷ đồng, tăng 13,08%. 
6.2. Số lượt khách do các cơ sở lưu trú và lữ hành thành phố phục vụ
* Tháng 8 năm 2026
Tổng lượt khách do các cơ sở lưu trú và lữ hành thành phố phục vụ ước đạt 1.733 nghìn lượt, giảm 14,52% so với tháng trước và tăng 22,67% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khách quốc tế ước đạt 136,38 nghìn lượt, tăng 0,06% so với tháng trước và tăng 32,00% so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù tổng lượt khách giảm so với tháng trước, lượng khách quốc tế vẫn duy trì ổn định, phản ánh sức hút của du lịch thành phố đối với thị trường khách quốc tế.
* Tám tháng năm 2026
Tính chung 8 tháng năm 2026, hoạt động du lịch tiếp tục duy trì xu hướng tăng trưởng tích cực, góp phần thúc đẩy các ngành dịch vụ liên quan. Tổng lượt khách do các cơ sở lưu trú và lữ hành thành phố phục vụ ước đạt 11.047,2 nghìn lượt, tăng 22,67% so với cùng kỳ năm trước; trong đó khách quốc tế ước đạt 883,75 nghìn lượt, tăng 15,75%. 
6.3. Giao thông vận tải, bưu chính, viễn thông
        Hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng 8 và 8 tháng năm 2026 tăng so với cùng kỳ. Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và dịch vụ bưu chính, chuyển phát tháng 8 năm 2026 đạt 17.705,0 tỷ đồng, tăng 25,06% so với cùng kỳ năm trước. Các lĩnh vực vận tải đều có doanh thu tăng so với cùng kỳ.
     Tính chung 8 tháng năm 2026, doanh thu hoạt động kinh doanh vận tải và dịch vụ hỗ trợ vận tải trên địa bàn thành phố đạt 135.619,58 tỷ đồng, tăng 19,6% so với cùng kỳ năm trước. 
6.3.1. Vận tải hàng hoá
* Tháng 8 năm 2026
        Doanh thu ước tính đạt 8.487,5 tỷ đồng, tương ứng giảm 3,74% so tháng trước và tăng 25,37% so cùng kỳ năm trước; khối lượng hàng hóa vận chuyển trong tháng ước đạt 45,28 triệu tấn, giảm 1,89% so với tháng trước và tăng 24,69% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước tính 17.468,5 triệu tấn.km, giảm 0,56% so với tháng trước và tăng 23,20% so cùng kỳ năm trước. 
* Tám tháng năm 2026
       Doanh thu vận tải hàng hóa 8 tháng ước đạt 65.631,9 tỷ đồng, tăng 20,17%; khối lượng hàng hóa vận chuyển đạt 348,9 triệu tấn, tăng 18,58%; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 134.114,1 triệu tấn.km, tăng 19,16% so với cùng kỳ năm trước.
6.3.2. Vận tải hành khách
* Tháng 8 năm 2026
Doanh thu ước tính đạt 808,4 tỷ đồng, tăng 1,28% so tháng trước và tăng 20,66% so với cùng kỳ năm trước; số lượt hành khách vận chuyển ước đạt 13,8 triệu lượt hành khách, tương ứng tăng 2,12% so tháng trước và tăng 12,33% so cùng kỳ năm trước; số lượt hành khách luân chuyển ước đạt 605,8 triệu lượt hành khách.km, tương ứng tăng 3,43% so với tháng trước và tăng 18,62% cùng kỳ năm trước. Tháng 8 tiếp tục là tháng cao điểm trong mùa du lịch hè, tuy nhiên do thời tiết trong tháng mưa nhiều, sang tiết trời lập thu nên lượng hành khách đi du lịch có xu hướng giảm so với các tháng cao điểm của mùa du lịch hè trước đó.
* Tám tháng năm 2026
Doanh thu ước đạt 6.140,4 tỷ đồng, tăng 18,05%; số lượt hành khách vận chuyển đạt 107,4 triệu lượt hành khách, tăng 15,41%; số lượt hành khách luân chuyển đạt 4.649,8 triệu lượt hành khách.km, tăng 16,84% so với cùng kỳ năm trước. 
6.3.3. Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải
* Tháng 8 năm 2026
Hoạt động kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng 8 tăng so với cùng kỳ, gắn với sản lượng hàng hóa thông qua cảng biển và nhu cầu vận chuyển hàng hóa. Doanh thu hoạt động kho bãi, hỗ trợ vận tải ước đạt 8.352,37 tỷ đồng, tăng 3,33% so với tháng trước và tăng 25,18% so với cùng kỳ năm trước. 
* Tám tháng năm 2026
Ước tính 8 tháng năm 2026, doanh thu hoạt động kinh doanh vận tải và dịch vụ hỗ trợ vận tải trên địa bàn thành phố ước đạt 63.414,9 tỷ đồng, tăng 19,15% so cùng kỳ năm trước. 
6.4. Hàng hóa thông qua cảng
Sản lượng hàng hóa thông qua cảng dự kiến tháng 8 năm 2026 ước đạt 19,011 triệu TTQ, giảm 0,98% so với tháng trước và tăng 12,49% so với cùng kỳ năm 2025. Cụ thể: 
- Khối cảng thuộc kinh tế Nhà nước ước tháng 8 năm 2026 đạt 4,633 triệu TTQ, tăng 14,98% so với tháng trước, tăng 8,3% so với cùng kỳ năm trước.
- Các cảng thuộc khu vực kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 14,378 triệu TTQ, giảm 5,22% so với tháng trước, tăng 13,91% so với cùng kỳ năm 2025.
Hàng hóa thông qua cảng biển trên địa bàn thành phố 8 tháng năm 2026 đạt 120,223 triệu TTQ, tăng 11,74% so với cùng kỳ năm 2025. 
II. VĂN HÓA - XÃ HỘI
Đời sống dân cư và công tác an sinh xã hội trên địa bàn thành phố được quan tâm thực hiện. Các chính sách đối với người có công, đối tượng bảo trợ xã hội và các nhóm yếu thế được triển khai kịp thời, đúng quy định. Công tác lao động, việc làm, giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao cơ bản ổn định. Tình hình dịch bệnh được kiểm soát; công tác bảo đảm an toàn giao thông, phòng cháy, chữa cháy được tăng cường. 
1. Tình hình lao động, việc làm
Công tác lao động, việc làm và an toàn lao động trên địa bàn thành phố tiếp tục được triển khai hiệu quả, đáp ứng nhu cầu của người lao động và doanh nghiệp.
Trong tháng 8 năm 2026, thành phố dự kiến tổ chức 12 phiên giao dịch việc làm, tăng 50% so với cùng kỳ năm 2025,  với 65 lượt doanh nghiệp tham gia tuyển dụng, nhu cầu tuyển dụng khoảng 22.422 lượt lao động, bằng 78,91% so với cùng kỳ năm 2025; tổng số lao động tham gia tại sàn đạt khoảng 17.900 lượt người, bằng 85,47% so với cùng kỳ năm 2025. Trong tháng ước đã tiếp nhận khoảng 2.515 hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp; số người có quyết định hưởng chế độ bảo hiểm thất nghiệp khoảng 2.770 người. Thực hiện cấp mới 310 giấy phép lao động, cấp lại 15 giấy phép lao động, gia hạn 100 giấy phép lao động; xác nhận 02 trường hợp lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam không thuộc diện cấp giấy phép lao động.
Trong tháng, trên địa bàn thành phố xảy ra 03 vụ tai nạn lao động làm chết 03 người.
Tính chung 8 tháng năm 2026, thành phố đã tổ chức và dự kiến tổ chức 87 phiên giao dịch việc làm, với 867 lượt doanh nghiệp tham gia; nhu cầu tuyển dụng khoảng 262.907 lượt lao động, trong khi cung lao động tại sàn đạt khoảng 144.876 lượt người, đáp ứng khoảng 55,1% nhu cầu tuyển dụng về số lượng. Đăng ký bảo hiểm thất nghiệp cho khoảng 17.747 người, giảm 1,5%; giải quyết chế độ bảo hiểm thất nghiệp cho 17.664 người, tăng 5,25%, với số tiền chi trợ cấp thất nghiệp 556,7 tỷ đồng, tăng 9,26% so với cùng kỳ. Qua giải quyết chế độ thất nghiệp, đã tư vấn, giới thiệu việc làm cho 17.747 lao động.
Công tác giải quyết chế độ bảo hiểm thất nghiệp được thực hiện kịp thời; quan hệ lao động cơ bản ổn định, không xảy ra đình công, ngừng việc tập thể. Tuy nhiên, tình hình tai nạn lao động vẫn cần được quan tâm khi trong 8 tháng xảy ra 23 vụ tai nạn lao động chết người, làm 23 người chết, tăng 27,78% so với cùng kỳ năm trước.
2. Công tác an sinh xã hội
2.1. Công tác người có công
Trong tháng 8 năm 2026, thành phố tiếp tục triển khai thực hiện đầy đủ, kịp thời các chế độ, chính sách đối với người có công với cách mạng và thân nhân. Các cơ quan chức năng đã ban hành các văn bản thực hiện chính sách, công nhận và quản lý đối tượng người có công và thân nhân đối với 3.396 trường hợp, trong đó: xử lý, giải quyết chế độ chính sách và giải quyết phục vụ công tác quản lý đối với người có công và thân nhân đối với 1.395 trường hợp; Quyết định trợ cấp ưu đãi 1 lần đối với 486 trường hợp người có công; phối hợp với các địa phương rà soát, giải quyết điều dưỡng đối với 1.515 người có công và thân nhân (điều dưỡng tập trung 750 người và tại gia đình 765 người), với số tiền là 5.685,15 triệu đồng.
Công tác tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ tiếp tục được quan tâm, thực hiện theo các kế hoạch của Ban Chỉ đạo 515 thành phố, phục vụ “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ”. Thành phố đã rà soát, khảo sát nghĩa trang liệt sĩ; phối hợp điều chỉnh số mộ lấy mẫu sinh phẩm xét nghiệm ADN phục vụ xác định danh tính hài cốt liệt sĩ chưa xác định được thông tin; cử công chức tham gia các kíp lấy mẫu tại 228/383 nghĩa trang liệt sĩ, với 2.567 mộ liệt sĩ.
Trong 8 tháng năm 2026, đã giải quyết các chế độ, chính sách và phục vụ công tác quản lý đối với 25.931 trường hợp; trong đó 14.301 trường hợp được giải quyết chế độ, chính sách và các nội dung phục vụ công tác quản lý; 1.844 trường hợp được hưởng trợ cấp ưu đãi một lần; 9.786 người có công và thân nhân được giải quyết chế độ điều dưỡng, với tổng kinh phí 35.516,5 triệu đồng.
2.2. Công tác bảo trợ xã hội
Công tác bảo trợ xã hội và bảo vệ các nhóm đối tượng yếu thế được triển khai kịp thời, đúng quy định. Thành phố tăng cường thực hiện các chính sách đối với người khuyết tật, người cao tuổi, trẻ em và đối tượng bảo trợ xã hội; triển khai các nhiệm vụ phòng, chống tệ nạn mại dâm, mua bán người; hướng dẫn các xã, phường, đặc khu giải quyết các trường hợp người lang thang, trẻ em cần bảo vệ và các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn.
Công tác trợ giúp xã hội, quản lý người lang thang được duy trì. Từ ngày 15/7 đến ngày 14/8/2026, các lực lượng chức năng đã tập trung 09 đối tượng lang thang vào các cơ sở trợ giúp xã hội để phân loại, xác minh và giải quyết theo quy định. Đồng thời, tiếp tục rà soát, hoàn thiện hồ sơ tiếp nhận trẻ em vào nuôi dưỡng tập trung, kiểm tra hoạt động tại các cơ sở trợ giúp xã hội và triển khai làm sạch, chuẩn hóa dữ liệu về đối tượng bảo trợ xã hội.
Tại thời điểm ngày 14/8/2026, các cơ sở trợ giúp xã hội trên địa bàn thành phố đang quản lý, nuôi dưỡng tập trung 1.830 đối tượng bảo trợ xã hội. Công tác chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo đảm các chế độ, chính sách đối với các đối tượng được thực hiện theo quy định.
3. Công tác giáo dục, y tế, văn hóa và thể thao
3.1. Công tác giáo dục
Trong tháng 8 và 8 tháng năm 2026, ngành Giáo dục và Đào tạo thành phố tập trung hoàn thành các nhiệm vụ của năm học 2025 - 2026, đồng thời chủ động triển khai công tác chuẩn bị cho năm học 2026 - 2027. Công tác tuyển sinh đầu cấp và tuyển sinh vào lớp 10 trung học phổ thông được thực hiện theo đúng kế hoạch, bảo đảm công khai, minh bạch và đúng quy định. Các cơ sở giáo dục tích cực rà soát, chuẩn bị cơ sở vật chất, phòng học, trang thiết bị dạy học, sách giáo khoa, hạ tầng công nghệ thông tin và các điều kiện cần thiết, bảo đảm tổ chức dạy và học ổn định, an toàn, chất lượng ngay từ đầu năm học mới.
Công tác sắp xếp, kiện toàn mạng lưới cơ sở giáo dục tiếp tục được triển khai gắn với yêu cầu nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng hợp lý cơ sở vật chất, đội ngũ và các nguồn lực đầu tư cho giáo dục. Việc bố trí, sắp xếp cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên được quan tâm thực hiện theo hướng ổn định, phù hợp với vị trí việc làm và yêu cầu nhiệm vụ; đồng thời tiếp tục rà soát nhu cầu nhân lực, từng bước khắc phục tình trạng thiếu giáo viên tại một số cấp học, môn học. Cơ sở vật chất trường, lớp và thiết bị dạy học tiếp tục được đầu tư, sửa chữa, nâng cấp, góp phần cải thiện điều kiện dạy và học.
Chất lượng giáo dục tiếp tục được duy trì; công tác thi, kiểm tra, tuyển sinh và đánh giá kết quả học tập được tổ chức nghiêm túc, an toàn, công bằng. Các nhiệm vụ nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện và giáo dục mũi nhọn tiếp tục được quan tâm; chú trọng giáo dục đạo đức, kỹ năng sống, xây dựng môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh. Ngành tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý và tổ chức dạy học, từng bước đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục.
Bên cạnh đó, công tác bảo đảm an toàn trường học, phòng chống bạo lực học đường, tai nạn thương tích và các nguy cơ ảnh hưởng đến học sinh được tăng cường. Việc quản lý các khoản thu, hoạt động dạy thêm, học thêm và tiếp nhận, xử lý các phản ánh, kiến nghị trong lĩnh vực giáo dục tiếp tục được chú trọng, góp phần duy trì kỷ cương, nền nếp và nâng cao chất lượng quản lý nhà nước về giáo dục trên địa bàn thành phố.
3.2. Công tác y tế
Tình hình dịch bệnh trên địa bàn thành phố cơ bản được kiểm soát. Các hoạt động giám sát, phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm tiếp tục được tăng cường, nhất là trong mùa hè, mùa mưa lũ và trước các nguy cơ dịch bệnh phát sinh do thiên tai. Trong tháng, số mắc một số bệnh như sốt xuất huyết và COVID-19 tăng so với tháng trước, trong khi số mắc sởi, tay - chân - miệng và thủy đậu giảm; so với cùng kỳ năm trước, phần lớn các bệnh truyền nhiễm có số mắc giảm. Thành phố tiếp tục triển khai các biện pháp giám sát véc tơ, bảo đảm nước sạch, vệ sinh môi trường và chủ động phát hiện, xử lý các ổ dịch.
Công tác tiêm chủng mở rộng được duy trì thường xuyên; triển khai tiêm bù, tiêm vét cho trẻ và chuẩn bị các điều kiện tiêm chủng cho học sinh bước vào năm học 2026 - 2027. Việc bảo đảm vắc xin, vật tư tiêm chủng, giám sát an toàn tiêm chủng và quản lý dữ liệu tiếp tục được thực hiện theo quy định.
Công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực y tế tiếp tục được tăng cường; thực hiện thẩm định, cấp mới, điều chỉnh giấy phép hoạt động, giấy phép hành nghề và hướng dẫn các cơ sở y tế thực hiện các quy định chuyên môn. Ngành Y tế đồng thời bảo đảm công tác y tế phục vụ các sự kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, thể thao và hoạt động đối ngoại của thành phố.
Công tác phòng, chống HIV/AIDS, can thiệp giảm hại và điều trị Methadone tiếp tục được duy trì ổn định. Thành phố tăng cường quản lý, cập nhật và chuẩn hóa dữ liệu; bảo đảm thuốc, sinh phẩm phục vụ điều trị ARV, PrEP và Methadone, góp phần nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống HIV/AIDS và chăm sóc sức khỏe cộng đồng.
3.3. Công tác văn hóa, thể thao
* Văn hóa
Công tác quản lý nhà nước về văn hóa tiếp tục được triển khai đồng bộ, bám sát chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 và chỉ đạo của Trung ương, Thành phố. Tập trung thực hiện các nhiệm vụ bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa; xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, phát triển công nghiệp văn hóa và tổ chức các hoạt động văn hóa phục vụ Nhân dân, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và kinh tế đêm.
Công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa được quan tâm triển khai. Tham mưu ban hành Quy chế quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh trên địa bàn thành phố; tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ tu bổ, tôn tạo di tích, chuẩn hóa dữ liệu di sản và chuẩn bị tổ chức Lễ hội mùa Thu Côn Sơn - Kiếp Bạc năm 2026; xây dựng hồ sơ khoa học đề nghị UNESCO vinh danh các danh nhân, di sản của thành phố. Trong tháng, Bảo tàng Hải Phòng đón khoảng 19.273 lượt khách; Ban Quản lý di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc đón khoảng 23.442 lượt khách.
Các đơn vị nghệ thuật tổ chức nhiều chương trình biểu diễn phục vụ Nhân dân, trọng tâm là các hoạt động chào mừng 81 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9; tổ chức 70 buổi chiếu phim lưu động tại Đặc khu Bạch Long Vỹ và các xã, phường, đặc khu. Triển khai các hoạt động trưng bày, triển lãm mỹ thuật, nhiếp ảnh và tuyên truyền, cổ động trực quan trên địa bàn thành phố.
* Thể thao
Công tác quản lý nhà nước về thể dục, thể thao tiếp tục được triển khai theo chương trình, kế hoạch năm 2026; tập trung hoàn thiện các đề án phát triển bóng đá, thể dục, thể thao thành phố đến năm 2030, định hướng đến năm 2045; xây dựng dự thảo Nghị quyết của HĐND thành phố về chế độ, chính sách đối với huấn luyện viên, vận động viên và chế độ chi tiêu tài chính đối với các giải thể thao trên địa bàn.
Phong trào thể dục, thể thao quần chúng tiếp tục được duy trì, góp phần nâng cao sức khỏe Nhân dân. Tổ chức, phối hợp tổ chức các giải và hoạt động thể thao quần chúng, tiêu biểu như Giải Bơi thiếu niên, nhi đồng và Bơi cứu đuối phòng, chống tai nạn, thương tích cho trẻ em; Giải Cầu lông thiếu niên, nhi đồng thành phố Hải Phòng; Chương trình đi bộ “Cùng Việt Nam tiến bước năm 2026”; đồng thời tăng cường hướng dẫn, quản lý việc tổ chức các hoạt động thể thao trên địa bàn.
Trong 8 tháng năm 2026, vận động viên của thành phố tham gia 122 giải quốc gia, quốc tế, đạt 1.130 huy chương, gồm 306 Huy chương Vàng, 313 Huy chương Bạc và 511 Huy chương Đồng; phá 03 kỷ lục vô địch nhóm tuổi quốc gia. Có 111 huấn luyện viên, vận động viên được triệu tập tập huấn tại các đội tuyển quốc gia và đội tuyển trẻ.
4.  Tình hình tai nạn giao thông, phòng chống cháy nổ
4.1. Tình hình tai nạn giao thông
Theo báo cáo của Phòng Cảnh sát giao thông, Công an thành phố Hải Phòng, trong thời gian từ ngày 15/7/2026 đến ngày 14/8/2026, trên địa bàn thành phố xảy ra 58 vụ tai nạn giao thông, làm 38 người chết và 29 người bị thương. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông giảm 10 vụ (tương ứng giảm 14,71%), số người chết tăng 06 người (tương ứng tăng 18,75%), số người bị thương giảm 20 người (tương ứng giảm 40,82%).
Tính chung 8 tháng đầu năm 2026, trên địa bàn thành phố xảy ra 539 vụ tai nạn giao thông, làm 281 người chết và 339 người bị thương. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông giảm 61 vụ (tương ứng giảm 10,17%); số người chết giảm 37 người (tương ứng giảm 11,64%) và số người bị thương giảm 65 người (tương ứng giảm 16,09%).
4.2. Công tác phòng chống cháy, nổ
Trong thời gian từ ngày 15/7/2026 đến ngày 14/8/2026, theo số liệu tổng hợp từ Công an thành phố Hải Phòng, trên địa bàn thành phố xảy ra 06 vụ cháy, nổ, không gây thiệt hại về người; thiệt hại về tài sản ước tính khoảng 224 triệu đồng.
Tính chung 8 tháng đầu năm 2026, trên địa bàn thành phố xảy ra 41 vụ cháy, nổ, giảm 132 vụ so với cùng kỳ năm trước; làm 06 người bị thương, tăng 01 người so với cùng kỳ năm trước; thiệt hại về tài sản ước tính khoảng 855,9 triệu đồng, giảm 255,15 triệu đồng so với cùng kỳ năm trước./.
 

Tác giả: THỐNG KÊ TP HẢI PHÒNG

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây