Tình hình kinh tế - xã hội tháng 9, 9 tháng năm 2026 thành phố Hải Phòng
TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI THÁNG 9, 9 THÁNG NĂM 2026
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ
1. Tốc độ tăng tổng sản phẩm trên địa bàn thành phố
Tổng sản phẩm trên địa bàn thành phố (GRDP) quý III/2026 theo giá so sánh năm 2020 ước tính tăng 13,09% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,45%, đóng góp 0,09 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 14,74%, đóng góp 8,26 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 11,91%, đóng góp 4,09 điểm phần trăm.
Tính chung 9 tháng năm 2026, trong bối cảnh kinh tế thế giới và trong nước còn nhiều khó khăn, thách thức, kinh tế thành phố tiếp tục duy trì đà tăng trưởng, quý sau cao hơn quý trước (GRDP quý I tăng 11,44%; quý II tăng 11,63%). GRDP theo giá so sánh năm 2020 ước tăng 12,08% so với cùng kỳ năm trước, đứng thứ hai trong 09 thành phố trực thuộc Trung ương, thứ ba cả nước và thứ hai vùng Đồng bằng sông Hồng.
Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản duy trì tăng trưởng ổn định, giá trị tăng thêm theo giá so sánh ước tăng 2,44%, đóng góp 0,13 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung.
Khu vực công nghiệp và xây dựng tiếp tục là động lực tăng trưởng chủ yếu của kinh tế thành phố. Giá trị tăng thêm ước tính tăng 13,98% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 7,5 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung.
Khu vực dịch vụ 9 tháng năm 2026 ghi nhận sự phát triển vượt mong đợi, tiếp tục đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế của thành phố. Giá trị tăng thêm của khu vực dịch vụ 9 tháng năm 2026 ước tăng 10,99% so với cùng kỳ năm trước (vượt kế hoạch đề ra) đóng góp 3,82 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung.
Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm 9 tháng năm 2026 ước tăng 10,02% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 0,63 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng GRDP của thành phố.
Cơ cấu GRDP 9 tháng năm 2026 của thành phố gồm: khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 4,66%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 53,61%; khu vực dịch vụ chiếm 35,55%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 6,19%.
2. Hoạt động tài chính, ngân hàng
Hoạt động tài chính, ngân hàng, bảo hiểm trên địa bàn thành phố cơ bản ổn định, bảo đảm đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn cho nền kinh tế. Các tổ chức tín dụng tiếp tục triển khai hiệu quả các chương trình tín dụng phục vụ sản xuất kinh doanh, ưu tiên các lĩnh vực động lực tăng trưởng của thành phố như công nghiệp, xuất khẩu, logistics và doanh nghiệp nhỏ và vừa; huy động vốn và dư nợ tín dụng duy trì mức tăng trưởng khá, thanh khoản hệ thống được bảo đảm, tỷ lệ nợ xấu được kiểm soát, cùng với kết quả tích cực trong công tác bảo hiểm xã hội, y tế, thất nghiệp đã góp phần hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi, mở rộng sản xuất và tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn.
2.1 Tài chính
Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn thành phố 9 tháng ước đạt 162.173 tỷ đồng, đạt 83,2% dự toán Trung ương và Hội đồng nhân dân thành phố giao, tăng 11,7% so với cùng kỳ, vượt 5,9% so với kế hoạch thu (153.131,342 tỷ đồng).
Lũy kế 9 tháng năm 2026 tổng chi ngân sách ước thực hiện 60.981 tỷ đồng, đạt 67,3% dự toán giao. Trong đó: Chi đầu tư phát triển ước đạt 24.610 tỷ đồng, đạt 63,4% kế hoạch vốn giao; Chi thường xuyên ước đạt 33.547 tỷ đồng, đạt 86,5% dự toán giao.
2.2 Ngân hàng
* Công tác huy động vốn
Tổng nguồn vốn huy động trên địa bàn thành phố ước đến 30/9/2026 đạt 713.139 tỷ đồng, tăng 9,85% so với cuối năm 2025, tăng 13,70% so với cùng kỳ.
Huy động bằng VND ước đạt 667.540 tỷ đồng, tăng 9,59% so với cuối năm 2025, chiếm tỷ trọng 93,61%; ngoại tệ (quy đổi VND) ước đạt 39.826 tỷ đồng, tăng 12,14% so với cuối năm 2025, chiếm tỷ trọng 5,58%.
* Công tác tín dụng
Tổng dư nợ cho vay trên địa bàn ước đến 30/9/2026 đạt 555.845 tỷ đồng; tăng 9,5% so với cuối năm 2025, tăng 16,27% so với cùng kỳ. Nợ xấu toàn địa bàn ở mức dưới 2%/tổng dư nợ.
Cho vay bằng VND ước đạt 529.285 tỷ đồng, tăng 7,27% so với cuối năm 2025, chiếm tỷ trọng 95,22%. Cho vay ngoại tệ (quy đổi VND) ước đạt 26.561 tỷ đồng, tăng 86,92% so với cuối năm 2025, chiếm tỷ trọng 4,78%.
3. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
Chín tháng đầu năm 2026, mặt bằng giá trên địa bàn thành phố chịu áp lực tăng nhưng cơ bản vẫn được kiểm soát. CPI bình quân 9 tháng tăng 4,30% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do giá xăng dầu và gas đun duy trì ở mức cao trong nhiều thời điểm theo diễn biến thị trường thế giới, làm gia tăng chi phí vận tải, sản xuất; cùng với đó, giá một số nguyên, nhiên, vật liệu đầu vào và chi phí nhân công tăng, tác động đến giá thành sản phẩm và dịch vụ.
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 9 năm 2026 là 101,18%, tăng 1,18% so với tháng trước; so với cùng kỳ năm trước CPI tăng 5,71% và tăng 5,57% so với tháng 12 năm 2025. Bình quân quý III tăng 0,91% so với cùng quý năm trước và bình quân 9 tháng năm 2026 tăng 4,3% so với cùng kỳ năm trước.
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 9 năm 2026 so với cùng kỳ năm trước tăng 5,71%. Trong đó: Khu vực thành thị tăng 6,52%, khu vực nông thôn tăng 4,98%; 11/11 nhóm hàng đều có chỉ số giá tăng.
Tính chung 9 tháng, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng, 11/11 nhóm đều có chỉ số giá tăng so với cùng kỳ năm trước. Mức tăng cao nhất thuộc nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng, tăng 8,23%, chủ yếu do giá dầu hỏa, gas đun, tiền thuê nhà và vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng. Nhóm giao thông tăng 6,30%, chủ yếu do giá xăng, dầu diezel tăng, qua đó tác động đến chi phí vận tải và giá một số dịch vụ liên quan.
Giá vàng: Chín tháng năm 2026, giá vàng trong nước biến động tăng theo xu hướng của giá vàng thế giới và duy trì ở mức cao so với cùng kỳ. Chỉ số giá vàng bình quân 9 tháng tăng 41,55% so với cùng kỳ năm trước. Riêng tháng 9, chỉ số giá vàng tăng 2,70% so với tháng trước; giá vàng bình quân đạt 14.395 nghìn đồng/chỉ, tăng 379 nghìn đồng/chỉ.
Giá đô la Mỹ: Trái với diễn biến của giá vàng, giá đô la Mỹ trong tháng 9 có xu hướng giảm nhẹ. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 9 giảm 0,70% so với tháng trước; giá bình quân đạt 2.619,0 nghìn đồng/100 USD, giảm 18.528 đồng/100 USD. Tính chung 9 tháng, chỉ số giá đô la Mỹ tăng 1,19% so với cùng kỳ năm trước.
4. Đầu tư
Trong quý III và 9 tháng năm 2026, hoạt động đầu tư trên địa bàn thành phố tiếp tục duy trì xu hướng tăng, với động lực tăng trưởng tập trung chủ yếu ở khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và khu vực ngoài nhà nước. Tổng vốn đầu tư thực hiện 9 tháng tăng 13,71% so với cùng kỳ năm trước; trong đó vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 20,69%, cao hơn mức tăng chung, vốn ngoài nhà nước tăng 10,59%, trong khi vốn nhà nước tăng 3,65%. Cùng với sự gia tăng về vốn thực hiện, thu hút đầu tư nước ngoài tiếp tục đạt kết quả khá, tổng vốn đăng ký thu hút đến ngày 20/9/2026 tăng khoảng 64% so với cùng kỳ năm 2025.
Quý III năm 2026, tổng vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn thành phố ước đạt 96.519,1 tỷ đồng, tăng 13,37% so với cùng kỳ năm 2025 và tăng 10,47% so với quý II. Tính chung 9 tháng đầu năm, tổng vốn đầu tư thực hiện ước đạt 254.975,6 tỷ đồng, tăng 13,71% so với cùng kỳ. Kết quả này phản ánh quy mô đầu tư tiếp tục được mở rộng, trong đó khu vực FDI và khu vực ngoài nhà nước chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn đầu tư thực hiện của thành phố. Quy mô vốn tiếp tục tăng ở cả ba khu vực, trong đó vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 110.348,0 tỷ đồng, tăng 20,69%; vốn ngoài nhà nước đạt 111.408,8 tỷ đồng, tăng 10,59%; vốn nhà nước trên địa bàn đạt 33.218,8 tỷ đồng, tăng 3,65%. Cơ cấu vốn 9 tháng tương ứng là 43,28%, 43,69% và 13,03%.
Riêng vốn đầu tư thuộc nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý, quý III ước đạt 10.807,9 tỷ đồng, tăng 12,02% so với cùng kỳ; tính chung 9 tháng đạt 24.262,7 tỷ đồng, tăng 13,90% và bằng 66,4% kế hoạch năm
Vốn đầu tư ngoài nhà nước quý III ước đạt 42.868,5 tỷ đồng, tăng 10,42% so với cùng kỳ; 9 tháng đạt 111.408,8 tỷ đồng, tăng 10,59%. Trong đó, vốn của tổ chức và doanh nghiệp ngoài nhà nước đạt 71.974,7 tỷ đồng, tăng 11,00%; vốn đầu tư của dân cư đạt 39.434,1 tỷ đồng, tăng 9,84%.
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện quý III ước đạt 39.243,7 tỷ đồng, tăng 19,99% so với cùng kỳ; tính chung 9 tháng đạt 110.348,0 tỷ đồng, tăng 20,69%.
* Thu hút đầu tư nước ngoài
Tính đến ngày 20/9/2026, tổng vốn đầu tư nước ngoài thu hút trên địa bàn thành phố ước đạt 3.638,32 triệu USD, tăng khoảng 64,4% so với cùng kỳ năm 2025. Vốn thu hút vào các khu công nghiệp, khu kinh tế đạt 3.303,59 triệu USD, chiếm 90,8% tổng vốn thu hút; khu vực ngoài khu công nghiệp, khu kinh tế đạt 334,73 triệu USD, chiếm 9,2%.
Trong tổng vốn thu hút, cấp mới 151 dự án với số vốn đăng ký 2.003,95 triệu USD, chiếm khoảng 55,1%; 98 lượt dự án điều chỉnh tăng vốn với số vốn tăng thêm 1.437,59 triệu USD, chiếm 39,5%; vốn đăng ký thông qua góp vốn, mua cổ phần và phần vốn góp đạt 196,79 triệu USD, chiếm 5,4%. Vốn cấp mới và vốn tăng thêm chiếm khoảng 94,6% tổng vốn thu hút 9 tháng, phản ánh nguồn vốn bổ sung cho các dự án sản xuất, kinh doanh tiếp tục giữ vai trò chủ yếu trong kết quả thu hút đầu tư nước ngoài.
5. Hoạt động của doanh nghiệp
Trong 9 tháng năm 2026, thành phố tập trung chỉ đạo các sở, ngành, địa phương và đơn vị liên quan tăng cường hỗ trợ, nghiên cứu giải pháp và tạo điều kiện nhằm giúp các doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn, tiếp tục thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh, góp phần ổn định tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn.
5.1. Tình hình đăng ký doanh nghiệp
Dự tính 9 tháng năm 2026, toàn thành phố có 5.759 doanh nghiệp thành lập mới (tăng 2,64% so với cùng kỳ), với tổng số vốn đăng ký ước đạt 52.509,62 tỷ đồng (giảm 68,33% so với cùng kỳ). Bên cạnh đó, số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh là 3.940 doanh nghiệp (tăng 7,71% so với cùng kỳ); 2.230 doanh nghiệp giải thể (tăng 96,48% so với cùng kỳ).
5.2. Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp
Kết quả khảo sát 384 doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo cho thấy, quý III/2026 có 40,36% doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất tăng so với quý II, 38,54% giữ ổn định và 21,09% giảm; chỉ số cân bằng đạt 19,27%. Về đơn hàng mới, 37,36% doanh nghiệp cho biết tăng, 43,41% giữ ổn định và 19,23% giảm; chỉ số cân bằng đạt 18,13%.
Dự báo quý IV/2026, 35,16% doanh nghiệp nhận định tình hình sản xuất kinh doanh thuận lợi hơn quý III, 49,48% giữ ổn định và 15,36% khó khăn hơn. Có 35,94% doanh nghiệp dự báo khối lượng sản xuất tăng, 50,52% giữ ổn định và 13,54% giảm; chỉ số cân bằng đạt 22,40%. Đối với đơn hàng mới, tỷ lệ tương ứng là 35,54%, 50,41% và 14,05%; chỉ số cân bằng đạt 21,49%.
Các yếu tố bất lợi chủ yếu trong quý III/2026 gồm cạnh tranh hàng trong nước cao (40,80% doanh nghiệp), không tuyển dụng được lao động theo yêu cầu (39,30%), nhu cầu thị trường trong nước thấp (39,30%) và nhu cầu thị trường quốc tế thấp (31,84%).
6. Sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản
Trong 9 tháng năm 2026, sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn thành phố cơ bản duy trì ổn định. Sản xuất trồng trọt chịu tác động của việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất, chi phí đầu vào tăng và tình trạng bỏ ruộng ở một số địa phương; chăn nuôi gia súc có xu hướng giảm, trong khi chăn nuôi gia cầm tiếp tục tăng. Lâm nghiệp duy trì ổn định công tác trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng. Hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy sản tiếp tục tăng trưởng, góp phần duy trì sản xuất khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản.
6.1. Nông nghiệp
* Trồng trọt
Vụ Đông xuân, diện tích gieo trồng đạt 76.940 ha, giảm 3,89% (-3.117 ha) so với vụ Đông xuân năm 2025, chủ yếu do một phần diện tích đất nông nghiệp được chuyển đổi mục đích sử dụng, ưu tiên đất cho các dự án, công trình trọng điểm của thành phố; đồng thời, một số diện tích bị bỏ trống, không gieo trồng. Lúa vụ Mùa, diện tích gieo trồng ước đạt 77.675 ha, giảm 2,04% (-1.620 ha) so với cùng kỳ, chủ yếu do năng suất lúa vụ Mùa thấp, tình hình sâu bệnh gây hại nhiều, trong khi chi phí sản xuất cao, dẫn đến tâm lý hạn chế đầu tư sản xuất ở một số địa phương; tình trạng bỏ vụ, bỏ ruộng, không gieo cấy lúa vẫn còn xảy ra.
Đối với một số cây hàng năm khác (ngô, khoai lang, lạc, đậu tương, rau, đậu), do tiến độ gieo trồng vụ Mùa sớm hơn so với cùng kỳ năm trước nên đến nay, diện tích gieo trồng một số loại cây hoa màu cơ bản đã kết thúc. Tính chung, diện tích cây hàng năm đã kết thúc gieo trồng 3 vụ; diện tích một số loại cây trồng chủ yếu giảm so với cùng kỳ năm trước, trong đó: cây ngô giảm 1,48% (-68 ha), khoai lang giảm 9,73% (-138 ha), đậu tương giảm 12,02% (-22 ha), rau các loại giảm 0,96% (-427,0 ha).
* Chăn nuôi
Chăn nuôi trâu, bò vẫn có xu hướng giảm mạnh do hiệu quả kinh tế thấp và giá tiêu thụ thiếu ổn định, trong khi chi phí đầu vào như thức ăn, con giống và công chăm sóc tăng cao, sản lượng trâu quý III ước đạt 263,56 tấn giảm 20,77% so với quý trước và giảm 8,97% so với cùng kỳ; bò ước đạt 444,39 tấn giảm 26,70% so với quý trước và giảm 9,26% so với cùng kỳ năm 2025. Chăn nuôi lợn ước đạt 27,45 nghìn tấn giảm 1,09% so với cùng kỳ. Sản lượng chăn nuôi gia cầm ước đạt 40,05 nghìn tấn tăng 5,50%; trong đó sản lượng gà ước đạt 33,11 nghìn tấn tăng 7,45% so với cùng kỳ.
Trong 9 tháng, sản lượng lợn hơi xuất chuồng ước đạt 75,04 nghìn tấn giảm 7,71%; sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng 9 tháng ước đạt 937,81 tấn, giảm 14,4%; sản lượng bò ước đạt 1.613,89 tấn giảm 7,14% so với cùng kỳ năm trước. Đối với chăn nuôi gia cầm, trong 9 tháng năm 2026 cũng gặp không ít khó khăn do tình hình giá cả không ổn định. Sản lượng gia cầm hơi xuất chuồng 9 tháng ước đạt 121,03 nghìn tấn, tăng 9,60%; sản lượng trứng gia cầm 9 tháng ước đạt gần 476,87 triệu quả, giảm 2,37% so với cùng kỳ năm trước.
6.2. Lâm nghiệp
Công tác trồng, chăm sóc, bảo vệ và phát triển rừng tiếp tục được quan tâm; các địa phương chủ động chuẩn bị hiện trường, cây giống và thực hiện trồng rừng theo kế hoạch, đồng thời tăng cường phòng cháy, chữa cháy và quản lý, sử dụng rừng bền vững.
Trong tháng 9, diện tích rừng trồng mới đạt 41,1 ha, lũy kế 9 tháng đạt 228 ha, bằng 99,13% so với cùng kỳ năm trước. Công tác phòng cháy, chữa cháy rừng được tăng cường; lũy kế 9 tháng xảy ra 01 vụ cháy rừng với diện tích 3,74 ha, các lực lượng chức năng đã kịp thời xử lý, hạn chế thiệt hại. Sản lượng gỗ khai thác tháng 9 đạt 905 m³, lũy kế 9 tháng đạt 9.905 m³, bằng 99,14% so với cùng kỳ năm trước.
6.3. Thủy sản
* Nuôi trồng thủy sản
Hoạt động nuôi trồng thủy sản từ đầu năm 2026 đến nay cơ bản ổn định và có bước phát triển. Tổng sản lượng thủy sản nuôi trồng 9 tháng ước đạt 156,95 nghìn tấn, tăng 5,84% so với cùng kỳ; trong đó sản lượng nuôi trồng cá đạt 147,58 nghìn tấn, tăng 5,92%. Riêng tháng 9, sản lượng nuôi trồng ước đạt 16,58 nghìn tấn, tăng 6,14% so với cùng kỳ.
Sản lượng nuôi trồng tăng khá chủ yếu do người nuôi tiếp tục đầu tư thâm canh, sử dụng con giống chất lượng, tăng cường áp dụng kỹ thuật trong chăm sóc và quản lý môi trường nuôi; đồng thời chú trọng cải tạo, nạo vét ao, đầm, nâng cao hiệu quả sử dụng diện tích. Bên cạnh đó, các mô hình liên kết sản xuất, tổ hợp tác, hợp tác xã thủy sản từng bước được mở rộng, góp phần hỗ trợ kỹ thuật, tổ chức sản xuất, tiêu thụ và nâng cao giá trị sản phẩm.
* Khai thác thủy sản
Trong 9 tháng năm 2026, hoạt động khai thác thủy sản biển trên địa bàn thành phố nhìn chung duy trì ổn định và tăng khá so với cùng kỳ. Sáu tháng đầu năm, thời tiết tương đối thuận lợi, giá bán một số sản phẩm thủy sản ổn định, hiệu quả sản xuất được cải thiện, tạo điều kiện để ngư dân duy trì cường độ khai thác và thời gian bám biển. Sang quý III, mặc dù thời tiết có thời điểm diễn biến phức tạp, ảnh hưởng nhất định đến hoạt động khai thác, song nguồn lợi tại một số ngư trường, nhất là khu vực gần bờ, vẫn tương đối thuận lợi. Sản lượng khai thác 9 tháng ước đạt 93.900,7 tấn, tăng 2,27% so với cùng kỳ năm trước; trong đó sản lượng cá đạt 59.836,6 tấn, tăng 2,66%; tôm đạt 7.343,4 tấn, tăng 3,68%; thủy sản khác đạt 26.720,7 tấn, tăng 1,04%.
7. Sản xuất công nghiệp
Trong 9 tháng năm 2026, sản xuất công nghiệp thành phố Hải Phòng tiếp tục duy trì mức tăng khá. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tăng 15,23% so với cùng kỳ năm trước. Công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vai trò chủ đạo, đặc biệt là các ngành điện tử, kim loại, sản phẩm từ kim loại và phương tiện vận tải. Tuy nhiên, tăng trưởng giữa các ngành chưa đồng đều; da giày và một số ngành phụ thuộc nhiều vào đơn hàng xuất khẩu còn gặp khó khăn.
* Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 9/2026
Tháng 9/2026, IIP ước tăng 5,22% so với tháng trước và tăng 15,01% so với cùng kỳ năm trước. So với tháng trước, khai khoáng tăng 10,50%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,41%; sản xuất và phân phối điện tăng 2,10%; cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,88%.
Trong khu vực chế biến, chế tạo, một số ngành tăng đáng chú ý so với tháng trước gồm: sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 13,30%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc, thiết bị tăng 19,66%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 2,53%. Ở chiều ngược lại, sản xuất sản phẩm thuốc lá giảm 14,94%; dệt giảm 3,67%; da và các sản phẩm có liên quan giảm 3,80%; sản xuất kim loại giảm 2,65%; sản xuất thiết bị điện giảm 4,28%.
So với cùng kỳ năm trước, sản xuất sản phẩm thuốc lá tăng 105,5%; sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 30,25%; phương tiện vận tải khác tăng 29,54%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 18,13%; sản xuất kim loại tăng 14,47%. Một số ngành giảm gồm da và các sản phẩm có liên quan giảm 20,85%; đồ uống giảm 0,28%; chế biến gỗ và sản phẩm từ gỗ giảm 0,86%; sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế giảm 1,48%
* Chỉ số sản xuất công nghiệp quý III và 9 tháng năm 2026
Quý III/2026, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tăng 15,98% so với cùng kỳ năm trước và tăng 5,5% so với quý II/2026, cho thấy hoạt động sản xuất công nghiệp tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực.
So với quý trước, một số ngành ghi nhận mức tăng khá cao, gồm: sản xuất sản phẩm thuốc lá tăng 29,97%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 26,23%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 21,66%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 12,64%; sản xuất trang phục tăng 6,15%; sản xuất, chế biến thực phẩm tăng 5,16%. Ở chiều ngược lại, một số ngành giảm so với quý II/2026, gồm: sản xuất và phân phối điện giảm 26,54%; sản xuất đồ uống giảm 10,42%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác giảm 8,48%; sản xuất kim loại giảm 8,33%; sản xuất xe có động cơ giảm 4,99%; khai khoáng giảm 1,87%.
Tính chung 9 tháng, IIP tăng 15,23%. Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 15,47%, đóng góp 14,31 điểm phần trăm; sản xuất và phân phối điện tăng 12,75%, đóng góp 0,87 điểm phần trăm; cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 4,94%, đóng góp 0,05 điểm phần trăm; khai khoáng tăng 0,33%, đóng góp 0,003 điểm phần trăm.
* Các ngành đóng góp chủ yếu
Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 24,37%, đóng góp 8,61 điểm phần trăm vào mức tăng chung. Một số sản phẩm tăng mạnh gồm cụm camera điện thoại tăng 48,38%; loa tăng 3,7 lần; bảng điều khiển trò chơi video tăng 4,9 lần.
Sản xuất kim loại tăng 25,21% và sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 22,33%, tổng cộng đóng góp 1,43 điểm phần trăm. Sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 68,88%, đóng góp 1,01 điểm phần trăm; trong đó xe đạp, xe máy điện tăng 177,48% và flycam tăng 338,07%. Sản xuất xe có động cơ tăng 9,44%, đóng góp 1,39 điểm phần trăm.
Ngành da và các sản phẩm có liên quan giảm 11,07%, làm giảm 0,15 điểm phần trăm của IIP chung. Sản xuất trang phục tăng 4,84%; đồ uống tăng 3,27%; sản phẩm từ cao su và plastic tăng 4,39%; sản xuất thuốc tăng 3,27%.
* Sản phẩm công nghiệp chủ yếu
Một số sản phẩm tăng cao: bảng điều khiển trò chơi video đạt 8.289,9 nghìn cái, 4,9 lần; bộ mô-đun camera điện thoại đạt 272,4 triệu sản phẩm, tăng 48,38%; bộ sản phẩm tổ hợp kim loại đạt 117,9 triệu sản phẩm, tăng 118,28%; loa đạt 6,9 triệu sản phẩm, tăng 3,7 lần; ô tô điện dòng cao cấp đạt 6.967 chiếc, tăng 40,04%; xe đạp, xe máy điện đạt 676,1 nghìn chiếc, tăng 2,7 lần.
Một số sản phẩm giảm: áo phông, áo may ô đạt 165,1 triệu chiếc, giảm 6,27%; giày dép có mũ bằng nguyên liệu dệt và có đế ngoài đạt 2,9 triệu đôi, giảm 46,04%; bột giặt và các chế phẩm dùng để tẩy rửa đạt 25.042 tấn, giảm 24,33%; thuốc kháng sinh giảm 3,52%; máy tính xách tay đạt 1,8 triệu chiếc, giảm 14%; tủ lạnh giảm 7,27%.
* Lao động trong doanh nghiệp công nghiệp
Tại thời điểm 01/9/2026, lao động đang làm việc tại các doanh nghiệp công nghiệp tăng 0,76% so với tháng trước và tăng 2,97% so với cùng thời điểm năm trước. So với cùng kỳ, lao động khu vực doanh nghiệp nhà nước tăng 8,06%; doanh nghiệp FDI tăng 10,76%; doanh nghiệp ngoài nhà nước giảm 31,18%.
Theo ngành, lao động sản xuất thiết bị điện tăng 64,86%; sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 12,38%; phương tiện vận tải khác tăng 1,66%; sản xuất kim loại tăng 8,55%. Một số ngành giảm gồm chế biến thực phẩm giảm 5,73%; sản xuất máy móc, thiết bị giảm 5,59%; sản phẩm thuốc lá giảm 53,73%; da và các sản phẩm liên quan giảm 11,94%; sản phẩm từ cao su và plastic giảm 3,29%.
8. Thương mại, dịch vụ
Trong tháng 9, thành phố tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động kích cầu tiêu dùng, kết nối cung cầu và hỗ trợ tiêu thụ hàng hóa, tổ chức 03 phiên chợ đưa hàng Việt về nông thôn và tham gia Tuần Văn hóa, Du lịch và Xúc tiến thương mại Lễ hội Côn Sơn, Kiếp Bạc - mùa Thu năm 2026, góp phần quảng bá sản phẩm và mở rộng thị trường. Bên cạnh đó, từ ngày 28/8, phố đi bộ tại Trung tâm thành phố được tổ chức định kỳ vào tối thứ Sáu và thứ Bảy hàng tuần, thu hút người dân và du khách, góp phần thúc đẩy các hoạt động dịch vụ và kinh tế đêm.
Tính chung 9 tháng năm 2026, hoạt động thương mại, dịch vụ tiếp tục duy trì đà tăng trưởng, thị trường hàng hóa cơ bản ổn định, đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 16,08% so với cùng kỳ; trong đó doanh thu bán lẻ hàng hóa tăng 16,06%, doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 17,87%.
8.1. Tổng mức lưu chuyển hàng hóa và doanh thu dịch vụ
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tháng 9 năm 2026 ước đạt 37.860,3 tỷ đồng, tăng 0,34% so với tháng trước, tăng 17,47% so với cùng kỳ năm trước. Ước tính 9 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ đạt 320.890,0 tỷ đồng, tăng 16,08% so với cùng kỳ năm trước.
8.1.1. Hoạt động bán lẻ
* Tháng 9 năm 2026
Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 9/2026 ước đạt 31.628,1 tỷ đồng, tăng 1,99% so với tháng trước và tăng 17,22% so với cùng kỳ năm trước. Phần lớn các nhóm ngành hàng đều ghi nhận mức tăng, trong đó lương thực, thực phẩm đạt 8.519,7 tỷ đồng, tăng 2,72% so với tháng trước và 16,99% so với cùng kỳ; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình đạt 7.695,1 tỷ đồng, tăng 1,45% và 19,16%; xăng, dầu các loại đạt 5.212,0 tỷ đồng, tăng 0,68% và 15,67%.
Hoạt động bán lẻ tháng 9 tiếp tục duy trì xu hướng tăng, chủ yếu do nhu cầu tiêu dùng gia tăng trong dịp Quốc khánh 2/9, Tết Trung thu và các hoạt động kích cầu tiêu dùng của thành phố.
* Quý III năm 2026
Doanh thu bán lẻ hàng hóa quý III năm 2026 ước đạt 93.316,5 tỷ đồng, tăng 8,51% so với quý trước và tăng 17,72% so với cùng kỳ năm trước; mức tăng được ghi nhận ở hầu hết các nhóm ngành hàng. Hoạt động bán lẻ tiếp tục duy trì đà tăng, phản ánh nhu cầu tiêu dùng, mua sắm và đi lại của người dân trong quý III, nhất là vào các dịp nghỉ lễ 2/9, Tết Trung thu và các hoạt động lễ hội, du lịch trên địa bàn.
Một số nhóm ngành hàng có mức tăng so với cùng kỳ như: vật phẩm văn hóa, giáo dục tăng 20,06%; đồ dùng gia đình tăng 18,01%; hàng may mặc tăng 17,47%; lương thực, thực phẩm tăng 17,22%; xăng dầu các loại tăng 17,01% và đá quý, kim loại quý tăng 16,13%. Doanh thu vật phẩm văn hóa, giáo dục tăng do nhu cầu mua sách vở, đồ dùng học tập phục vụ năm học mới; nhóm đồ dùng gia đình tăng do thời tiết nắng nóng kéo dài làm gia tăng nhu cầu sử dụng các sản phẩm điện tử, điện lạnh, cùng với nhu cầu hoàn thiện nhà ở của người dân.
* Chín tháng năm 2026
Doanh thu hoạt động bán lẻ 9 tháng năm 2026 ước đạt 266.025,3 tỷ đồng, tăng 16,06% so với cùng kỳ và tăng ở hầu hết các nhóm ngành hàng. Trong đó, doanh thu đá quý, kim loại quý tăng 17,05%; xăng, dầu các loại tăng 16,99%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 15,84%; hàng may mặc tăng 15,76%; lương thực, thực phẩm tăng 15,58% so với cùng kỳ.
Trong 9 tháng các hoạt động ăn uống, du lịch, vui chơi giải trí, lễ hội và các dịp nghỉ lễ như 30/4-1/5, Quốc khánh 2/9, Tết Trung thu, Lễ hội chọi trâu Đồ Sơn năm 2026 và các sự kiện văn hóa, du lịch lớn trên địa bàn đã góp phần thúc đẩy nhu cầu mua sắm, tiêu dùng và tăng doanh thu bán lẻ.
8.1.2. Hoạt động dịch vụ
* Tháng 9 năm 2026
Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 3.721,7 tỷ đồng, tăng 20,78% so với cùng kỳ nhưng giảm 12,36% so với tháng trước. Trong đó, doanh thu dịch vụ lưu trú tăng 23,74% so với cùng kỳ, song giảm 34,47% so với tháng trước do thời điểm chuyển giao giữa mùa du lịch nội địa và quốc tế, cùng với điều kiện thời tiết chuyển mùa làm nhu cầu du lịch biển của khách nội địa giảm. Doanh thu dịch vụ khác ước đạt 2.401,67 tỷ đồng, tăng 2,72% so với tháng trước và tăng 15,86% so với cùng kỳ.
* Quý III năm 2026
Quý III năm 2026, doanh thu lưu trú, ăn uống ước đạt 1.217,48 tỷ đồng, tăng 18,86%; doanh thu dịch vụ khác đạt 7.330,36 tỷ đồng, tăng 15,39% so với cùng kỳ.
* Chín tháng năm 2026
Lũy kế 9 tháng năm 2026, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 33.432,22 tỷ đồng, tăng 17,87% so với cùng kỳ; trong đó dịch vụ lưu trú tăng 18,00%, dịch vụ ăn uống tăng 17,86%. Doanh thu dịch vụ khác ước đạt 20.937,3 tỷ đồng, tăng 13,41%. Nhìn chung, hoạt động dịch vụ tiếp tục tăng trưởng khá, được hỗ trợ bởi nhu cầu tiêu dùng, du lịch, nghỉ dưỡng và các hoạt động văn hóa, lễ hội trên địa bàn.
8.2. Số lượt khách do các cơ sở lưu trú và lữ hành thành phố phục vụ
* Tháng 9 năm 2026
Tổng lượt khách do các cơ sở lưu trú và lữ hành thành phố phục vụ ước đạt 1.084,6 nghìn lượt, giảm 36,43% so với tháng trước và tăng 22,07% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khách quốc tế ước đạt 101,5 nghìn lượt, giảm 25,47% so với tháng trước và tăng 18,86% so với cùng kỳ năm trước.
* Chín tháng năm 2026
Tính chung 9 tháng năm 2026, hoạt động du lịch tiếp tục duy trì xu hướng tăng trưởng tích cực, góp phần thúc đẩy các ngành dịch vụ liên quan. Tổng lượt khách do các cơ sở lưu trú và lữ hành thành phố phục vụ ước đạt 12.105 nghìn lượt, tăng 17,22% so với cùng kỳ năm trước; trong đó khách quốc tế ước đạt 985 nghìn lượt, tăng 16,04%.
8.3. Giao thông vận tải, bưu chính, viễn thông
Hoạt động vận tải tháng 9 năm 2026 trên địa bàn thành phố Hải Phòng diễn ra khá nhộn nhịp, nhu cầu đi lại của người dân, du khách và vận chuyển hàng hóa đều tăng.
Ước tính tổng doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và dịch vụ bưu chính, chuyển phát tháng 9 năm 2026 đạt 17.819,6 tỷ đồng, tăng 26,21% so với cùng kỳ năm trước.
Ước tính 9 tháng năm 2026, doanh thu hoạt động kinh doanh vận tải và dịch vụ hỗ trợ vận tải trên địa bàn thành phố đạt 153.366,6 tỷ đồng, tăng 20,28% so với cùng kỳ năm trước.
8.3.1. Vận tải hàng hoá
* Tháng 9 năm 2026
Doanh thu ước tính đạt 8.174,6 tỷ đồng, tương ứng giảm 2,86% so với tháng trước và tăng 23,69% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng hàng hóa vận chuyển trong tháng ước đạt 44,2 triệu tấn, giảm 1,67% so với tháng trước và tăng 20,96% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước tính 15.970,3 triệu tấn.km, giảm 5,19% so với tháng trước và tăng 14,1% so với cùng kỳ năm trước.
* Quý III năm 2026
Doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 25.407,5 tỷ đồng, tăng 24,9% so với cùng kỳ. Khối lượng hàng hóa vận chuyển đạt 135,3 triệu tấn, tăng 22,47%; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 50.382,3 triệu tấn.km, tăng 18,45% so với cùng kỳ năm trước.
* Chín tháng năm 2026
Hoạt động vận tải hàng hóa tiếp tục có triển vọng duy trì đà tăng trưởng, được hỗ trợ bởi sự phát triển của hoạt động thương mại trong nước và xuất nhập khẩu. Vận tải đường bộ và đường biển dự kiến tiếp tục tăng, trong khi việc đầu tư, nâng cấp kết cấu hạ tầng giao thông góp phần nâng cao năng lực vận chuyển và đáp ứng tốt hơn nhu cầu lưu thông hàng hóa.
Doanh thu vận tải hàng hóa 9 tháng năm ước đạt 73.734,3 tỷ đồng, tăng 20,43%; khối lượng hàng hóa vận chuyển đạt 392,8 triệu tấn, tăng 18,74%; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 149.461 triệu tấn.km, tăng 18,10% so với cùng kỳ năm trước.
8.3.2. Vận tải hành khách
* Tháng 9 năm 2026
Trong tháng 9 năm 2026, doanh thu ước tính đạt 810,9 tỷ đồng, tăng 0,37% so với tháng trước và tăng 21,04% so với cùng kỳ năm trước; số lượt hành khách vận chuyển ước đạt 13,8 triệu lượt hành khách, tương ứng giảm 0,33% so với tháng trước và tăng 12,4% so với cùng kỳ năm trước; số lượt hành khách luân chuyển ước đạt 607,2 triệu lượt hành khách.km, tương ứng tăng 0,22% so với tháng trước và tăng 18,25% so với cùng kỳ năm trước.
* Quý III năm 2026
Doanh thu vận tải hành khách ước đạt 2.416,97 tỷ đồng, tăng 20,07% so với cùng kỳ năm trước. Số lượt hành khách vận chuyển đạt 41,12 triệu lượt khách, tăng 11,41%. Số lượt hành khách luân chuyển đạt 1.798,8 triệu lượt hành khách.km, tăng 17,16% so với cùng kỳ năm trước.
* Chín tháng năm 2026
Doanh thu ước đạt 6.950,7 tỷ đồng, tăng 18,38%; số lượt hành khách vận chuyển đạt 121,2 triệu lượt hành khách, tăng 15,06%; số lượt hành khách luân chuyển đạt 5.257 triệu lượt hành khách.km, tăng 17% so với cùng kỳ năm trước.
8.3.3. Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải
* Tháng 9 năm 2026
Doanh thu hoạt động hỗ trợ vận tải (cảng, bốc xếp, đại lý vận tải,…) tháng 9 năm 2026 ước tính đạt 8.777,7 tỷ đồng, tăng 5,09% so với tháng trước và tăng 29,2% so với cùng kỳ năm trước.
* Quý III năm 2026
Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 25.213,8 tỷ đồng, tăng 24,5% so với cùng kỳ.
* Chín tháng năm 2026
Doanh thu ước đạt 72.192,7 tỷ đồng, tăng 20,28% so với cùng kỳ năm trước.
Hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải 9 tháng năm 2026 tiếp tục ghi nhận xu hướng tăng trưởng cao. Sự phát triển của thương mại điện tử ở thị trường trong nước đã đem tới những cơ hội tích cực trong lĩnh vực logistics.
8.4. Hàng hóa thông qua cảng
Sản lượng hàng hóa thông qua cảng dự kiến tháng 9 năm 2026 ước đạt 22,1 triệu TTQ, tăng 16,25% so với tháng trước và tăng 12,99% so với cùng kỳ năm 2025. Cụ thể:
- Khối cảng thuộc kinh tế nhà nước ước tháng 9 năm 2026 đạt 4,6 triệu TTQ, tăng 3,21% so với tháng trước, tăng 17,77% so với cùng kỳ năm trước.
- Các cảng thuộc khu vực kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 17,5 triệu TTQ, tăng 20,24% so với tháng trước, tăng 11,79% so với cùng kỳ năm 2025.
Hàng hóa thông qua cảng biển trên địa bàn thành phố 9 tháng năm 2026 đạt 156,44 triệu TTQ, tăng 11,92% so với cùng kỳ năm 2025.
II. VĂN HÓA - XÃ HỘI
Trong 9 tháng năm 2026, các lĩnh vực văn hóa - xã hội trên địa bàn thành phố Hải Phòng tiếp tục phát triển ổn định và đạt nhiều kết quả tích cực. Thị trường lao động duy trì xu hướng phục hồi, công tác an sinh xã hội, chăm lo người có công và các đối tượng yếu thế được thực hiện đầy đủ, kịp thời. Giáo dục, y tế tiếp tục được quan tâm đầu tư, chất lượng dịch vụ từng bước được nâng cao; công tác phòng, chống dịch bệnh được triển khai hiệu quả. Hoạt động văn hóa, thể thao diễn ra sôi nổi, góp phần nâng cao đời sống tinh thần của Nhân dân.
1. Tình hình lao động, việc làm
Công tác lao động, việc làm trên địa bàn thành phố tiếp tục được triển khai hiệu quả, đáp ứng nhu cầu của người lao động và doanh nghiệp.
Trong tháng 9 năm 2026, thành phố dự kiến tổ chức 11 phiên giao dịch việc làm, gồm 07 phiên trực tiếp, 03 phiên trực tuyến và 01 Ngày hội việc làm tại Trường Cao đẳng Kỹ thuật Hải Phòng. Có 75 lượt doanh nghiệp tham gia tuyển dụng, với nhu cầu khoảng 25.314 lượt lao động; tổng số lao động tham gia tại các sàn giao dịch việc làm đạt khoảng 13.940 lượt người.
Quý III năm 2026, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của thành phố ước đạt 2.028,9 nghìn người, tăng 4,48% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, lực lượng lao động khu vực thành thị đạt 1.053 nghìn người, chiếm 51,9%; khu vực nông thôn đạt 975,9 nghìn người, chiếm 48,1%. Lực lượng lao động nam đạt 1.051 nghìn người, chiếm 51,8%; nữ đạt 977,9 nghìn người, chiếm 48,2%.
Trong 9 tháng năm 2026, thành phố dự kiến đã tổ chức 96 phiên giao dịch việc làm (tăng 43,28% so với cùng kỳ năm 2025), gồm 57 phiên giao dịch việc làm định kỳ tại Trung tâm, 31 phiên trực tuyến liên tỉnh và 08 Ngày hội việc làm, với 931 lượt doanh nghiệp tham gia. Nhu cầu tuyển dụng đạt khoảng 298.003 lượt lao động (tăng 14,02% so với cùng kỳ năm 2025); tổng số lao động tham gia đạt khoảng 156.206 lượt người, (tăng 2,68% so với cùng kỳ năm 2025). Số lao động tham gia đáp ứng khoảng 52,42% nhu cầu tuyển dụng về số lượng của doanh nghiệp. Số người đăng ký hưởng bảo hiểm thất nghiệp khoảng 21.390 người (tăng 3,01% so với cùng kỳ năm 2025); đã giải quyết hưởng bảo hiểm thất nghiệp cho 21.256 người (tăng 8,04% so với cùng kỳ), với tổng số tiền chi trả khoảng 711,94 tỷ đồng (tăng 19,39% so với cùng kỳ). Thông qua giải quyết chế độ bảo hiểm thất nghiệp, đã tư vấn, giới thiệu việc làm cho 21.390 lao động.
Bên cạnh kết quả đạt được, tình hình tai nạn lao động chết người có chiều hướng gia tăng. Đến thời điểm báo cáo, trên địa bàn xảy ra 25 vụ tai nạn lao động làm chết 25 người, tăng 38,89% so với cùng kỳ năm 2025.
2. Công tác an sinh xã hội
2.1. Công tác người có công
Trong tháng 9, Sở Nội vụ đã ban hành các văn bản thực hiện chính sách, công nhận và quản lý đối tượng đối với 3.181 trường hợp; giải quyết chế độ, chính sách và phục vụ công tác quản lý 1.616 trường hợp, trợ cấp ưu đãi một lần 262 trường hợp; đồng thời giải quyết điều dưỡng cho 1.303 người có công và thân nhân, với kinh phí 5.607,34 triệu đồng.
Tính chung 9 tháng, thành phố đã thực hiện các chính sách, công nhận và quản lý đối tượng người có công và thân nhân đối với 25.112 trường hợp; giải quyết chế độ, chính sách 15.917 trường hợp, trợ cấp ưu đãi một lần 2.106 trường hợp; thực hiện điều dưỡng cho 11.089 người, với tổng kinh phí 41.123,84 triệu đồng. Chính sách hỗ trợ xóa nhà tạm, nhà dột nát cho con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học được triển khai, với 127 hộ được phê duyệt hỗ trợ, gồm 73 hộ xây mới và 54 hộ sửa chữa.
2.2. Công tác bảo trợ xã hội
Công tác bảo trợ xã hội được triển khai kịp thời, đồng bộ; các chế độ, chính sách trợ giúp xã hội, bảo hiểm y tế, hỗ trợ người khuyết tật, người lang thang và các đối tượng yếu thế được tổ chức thực hiện theo quy định. Trong 9 tháng năm 2026, thành phố triển khai 16 kế hoạch trong lĩnh vực bảo trợ xã hội; hướng dẫn thực hiện phương thức chi trả trợ giúp xã hội tại cộng đồng từ ngày 01/7/2026; cấp Giấy chứng nhận đăng ký thành lập cho các Trung tâm Công tác xã hội và Can thiệp sớm.
Công tác chăm lo người khuyết tật, người cao tuổi và các đối tượng yếu thế được quan tâm; thành phố trao 30 suất quà trị giá 36 triệu đồng và 520 xe lăn trị giá khoảng 1 tỷ đồng cho người khuyết tật có hoàn cảnh khó khăn. Công tác quản lý, hỗ trợ người lang thang được thực hiện thường xuyên; từ ngày 15/12/2025 đến 14/9/2026 đã tập trung 136 đối tượng để phân loại, xác minh và hỗ trợ theo quy định.
Công tác quản lý, hỗ trợ người lang thang được tăng cường; từ ngày 15/12/2025 đến 14/9/2026, Đoàn liên ngành đã tập trung 136 đối tượng, trong đó 87 đối tượng được đưa vào Trung tâm Công tác xã hội và Bảo trợ trẻ em Hoa Phượng, 49 đối tượng vào Trung tâm Nuôi dưỡng Bảo trợ xã hội Hải Dương để phân loại, xác minh và giải quyết theo quy định. Đồng thời, kịp thời hướng dẫn, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thực hiện chính sách.
Việc chi trả trợ giúp xã hội được thực hiện đầy đủ, đúng quy định. Theo Nghị định số 20/2021/NĐ-CP, tổng kinh phí chi trả đạt 1.231.681,7 triệu đồng; theo Nghị định số 176/2025/NĐ-CP, kinh phí trợ cấp xã hội hằng tháng đạt 627.801,7 triệu đồng; đồng thời hỗ trợ 20,84 tấn gạo cho các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn. Tại thời điểm 14/9/2026, có 1.797 đối tượng đang được nuôi dưỡng tập trung tại các cơ sở trợ giúp xã hội trên địa bàn thành phố, góp phần bảo đảm an sinh xã hội và ổn định đời sống Nhân dân.
3. Công tác giáo dục, y tế, văn hóa và thể thao
3.1. Công tác giáo dục
Trong tháng 9 và 9 tháng năm 2026, ngành Giáo dục và Đào tạo tập trung triển khai các nhiệm vụ năm học 2025-2026 và chuẩn bị các điều kiện tổ chức năm học 2026-2027; tiếp tục sắp xếp mạng lưới cơ sở giáo dục, nâng cao chất lượng giáo dục, phát triển đội ngũ, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất và đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý, dạy và học.
Quy mô giáo dục tiếp tục được duy trì ổn định, với 1.112.432 người học tại các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, giáo dục thường xuyên và giáo dục đại học.
Chất lượng giáo dục tiếp tục được duy trì và nâng cao. Tính đến tháng 8/2026, tỷ lệ trường mầm non, phổ thông công lập đạt chuẩn quốc gia đạt 69,87%; 100% xã, phường, đặc khu đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 3, trung học cơ sở mức độ 3 và xóa mù chữ mức độ 2. Kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia năm học 2025-2026, học sinh thành phố đạt 208 giải, xếp thứ 4 toàn quốc về số lượng giải; Cuộc thi khoa học kỹ thuật cấp quốc gia đạt 01 giải Nhất, 04 giải Ba; Đoàn Hải Phòng đạt 82 huy chương tại Giải Thể thao học sinh phổ thông toàn quốc.
Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026 được tổ chức an toàn, nghiêm túc, đúng quy chế; điểm trung bình chung các môn thi đạt 6,171 điểm, xếp thứ 3 toàn quốc, tăng 03 bậc so với năm 2025. Công tác tuyển sinh lớp 10 năm học 2026-2027 được triển khai đúng kế hoạch.
3.2. Công tác y tế
Công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân được triển khai đồng bộ; chất lượng khám, chữa bệnh, phòng, chống dịch bệnh và chuyển đổi số trong ngành Y tế tiếp tục được quan tâm. Trong tháng 9, toàn thành phố tổ chức khám sức khỏe cho 137.232 người; lũy kế đến ngày 10/9 đạt 2.413.504 người, bằng 57,3% dân số; 9 tháng thực hiện 5.722.200 lượt khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế, với tổng chi phí 4.917.600 triệu đồng; 100% cơ sở khám, chữa bệnh đã triển khai tiếp nhận người bệnh bằng căn cước công dân/VNeID. Công tác phòng, chống dịch bệnh được chủ động, tập trung giám sát các bệnh truyền nhiễm, duy trì tiêm chủng và chuẩn bị các điều kiện đáp ứng khi có dịch. Công tác phòng, chống HIV/AIDS và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone được duy trì; 9 tháng ghi nhận 115 ca nhiễm HIV mới, giảm 32 ca so với cùng kỳ và 49 ca tử vong, giảm 15 ca; duy trì điều trị Methadone cho 3.032 bệnh nhân và ARV cho 7.433 bệnh nhân.
3.3. Công tác văn hóa, thể thao
* Văn hóa
Trong tháng 9 và 9 tháng năm 2026, công tác văn hóa trên địa bàn thành phố được triển khai đồng bộ, bám sát nhiệm vụ chính trị và phát triển kinh tế - xã hội. Công tác quản lý nhà nước, bảo tồn và phát huy giá trị di sản, xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, phát triển văn hóa đọc và tổ chức các hoạt động văn hóa, nghệ thuật tiếp tục được quan tâm.
Công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản được tăng cường; thành phố tiếp tục hoàn thiện hồ sơ đề nghị UNESCO vinh danh các danh nhân, triển khai số hóa, tu bổ, tôn tạo di tích và nhiệm vụ quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc. Hoạt động của các thiết chế văn hóa được duy trì, trong đó Bảo tàng Hải Phòng ước đón 110.669 lượt khách, Ban Quản lý di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc ước đón 1,288 triệu lượt khách.
Bên cạnh đó, thành phố tiếp tục tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao, ẩm thực, âm nhạc gắn với phát triển kinh tế đêm; duy trì biểu diễn nghệ thuật tại không gian phố đi bộ ẩm thực Hải Phòng và tổ chức quảng diễn ẩm thực, góp phần đa dạng hóa các sản phẩm văn hóa, phục vụ Nhân dân và du khách.
* Thể thao
Trong tháng 9 và 9 tháng năm 2026, công tác thể dục, thể thao được triển khai tích cực; phong trào thể dục thể thao quần chúng tiếp tục phát triển, thể thao thành tích cao đạt nhiều kết quả. Thành phố tiếp tục hoàn thiện các Đề án “Phát triển Bóng đá thành phố Hải Phòng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” và “Phát triển thể dục, thể thao thành phố Hải Phòng đến năm 2030, định hướng đến năm 2045”.
Đối với thể thao thành tích cao và thể thao chuyên nghiệp, thành phố tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách đối với huấn luyện viên, vận động viên; triển khai đào tạo vận động viên bóng đá trẻ và tổ chức, đăng cai các giải đấu. Trong 9 tháng, tổ chức thi đấu 25 môn trong Chương trình Đại hội Thể dục thể thao thành phố lần thứ X; đăng cai 06 giải thể thao cấp quốc gia và cử vận động viên tham gia 12 giải thể thao quốc tế, khu vực. Vận động viên Hải Phòng tham gia 140 giải quốc gia, quốc tế, giành 1.343 huy chương, gồm 375 Huy chương Vàng, 371 Huy chương Bạc và 597 Huy chương Đồng, đồng thời phá 20 kỷ lục, phản ánh kết quả tích cực của thể thao thành tích cao thành phố.
4. Tình hình tai nạn giao thông; phòng, chống cháy nổ
4.1. Tình hình tai nạn giao thông
Theo báo cáo của Phòng Cảnh sát giao thông, Công an thành phố Hải Phòng (từ ngày 15/8/2026 đến ngày 14/9/2026) trên địa bàn thành phố xảy ra 64 vụ tai nạn giao thông, làm 45 người chết, 36 người bị thương. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông giảm 04 vụ (tương ứng -5,88%), số người chết tăng 04 người (tương ứng 9,7%) và số người bị thương giảm 10 người (tương ứng -21,4%).
Trong 9 tháng năm 2026, trên địa bàn thành phố đã xảy ra 603 vụ tai nạn giao thông, làm chết 326 người và bị thương 375 người. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông giảm 65 vụ (tương ứng -9,73%); số người chết giảm 33 người (tương ứng -9,19%) và số người bị thương giảm 75 người (tương ứng -16,67%).
4.2. Công tác phòng chống cháy, nổ
Từ ngày 15/8/2026 đến ngày 14/9/2026, theo số liệu tổng hợp của Công an thành phố Hải Phòng, trên địa bàn thành phố xảy ra 08 vụ cháy, nổ; làm 01 người chết. Thiệt hại về tài sản ước tính khoảng 211 triệu đồng.
Trong 9 tháng năm 2026, trên địa bàn thành phố đã xảy ra 48 vụ cháy nổ, giảm 129 vụ so với cùng kỳ năm trước; làm 02 người chết, giảm 2 người so với cùng kỳ năm trước; 05 người bị thương, giảm 02 người so với cùng kỳ năm trước. Thiệt hại về tài sản ước tính khoảng 1.391,9 triệu đồng, giảm 138,6 triệu đồng so với cùng kỳ năm trước./.
Tác giả: THỐNG KÊ TP HẢI PHÒNG
-
Infographic kinh tế - xã hội 9 tháng năm 2026
29/09/2026 -
Infographic kinh tế - xã hội tháng 8, 8 tháng năm 2026
11/09/2026 -
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 8, 8 tháng năm 2026 thành phố Hải Phòng
31/08/2026 -
Infographic tình hình kinh tế - xã hội tháng tháng 7, 7 tháng năm 2026 thành phố Hải Phòng
03/08/2026 -
Infographic tình hình kinh tế - xã hội tháng tháng 6, 6 tháng năm 2026 thành phố Hải Phòng
06/07/2026
-
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 9, 9 tháng năm 2026 thành phố Hải Phòng
-
Infographic kinh tế - xã hội 9 tháng năm 2026
-
Infographic kinh tế - xã hội tháng 8, 8 tháng năm 2026
-
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 8, 8 tháng năm 2026 thành phố Hải Phòng
-
Đoàn giám sát số 8 của Cục Thống kê làm việc tại thành phố Hải Phòng về điều tra IO năm 2026



