Tình hình kinh tế - xã hội tháng 10, 10 tháng năm 2025 thành phố Hải Phòng

Thứ năm - 06/11/2025 16:16

TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI THÁNG 10, 10 THÁNG NĂM 2025

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

 

I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ
1. Hoạt động tài chính, ngân hàng
1.1 Tài chính
Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn thành phố tháng 10/2025 ước đạt 17.418,8 tỷ đồng, trong đó: Thu nội địa đạt 9.079,2 tỷ đồng; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 6.725 tỷ đồng. Ước 10 tháng/2025 thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn thành phố đạt 162.875,7 tỷ đồng, đạt 109,68% dự toán Hội đồng nhân dân thành phố giao và tăng 32,02% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Thu nội địa đạt 89.283,4 tỷ đồng, đạt 119,55% và tăng 43,33%; thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu ước đạt 69.116 tỷ đồng, đạt 103,78% và tăng 19,29%.  
Tổng chi ngân sách địa phương tháng 10/2025 ước đạt 5.529,9 tỷ đồng, trong đó: Tổng chi đầu tư phát triển đạt 2.402,6 tỷ đồng; chi thường xuyên đạt 3.105,6 tỷ đồng. Ước 10 tháng/2025, tổng chi ngân sách địa phương đạt 58.808,5 tỷ đồng, đạt 82,05% dự toán Hội đồng nhân dân thành phố giao, trong đó: Tổng chi đầu tư phát triển đạt 26.384,6 tỷ đồng, đạt 73,85%; chi thường xuyên đạt 31.021,9 tỷ đồng, đạt 91,16%. 
1.2. Ngân hàng
* Tình hình thực hiện lãi suất 
Trong tháng 10, các chi nhánh tổ chức tín dụng trên địa bàn thành phố tiếp tục điều chỉnh giảm lãi suất huy động, mặt bằng lãi suất nhìn chung phù hợp với định hướng điều hành của Ngân hàng Nhà nước. Cụ thể: Tiền gửi không kỳ hạn và kỳ hạn dưới 1 tháng, lãi suất 0,1% - 0,4%/năm; tiền gửi kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng, lãi suất 4,5% - 5,1%; tiền gửi kỳ hạn từ 12 tháng trở lên, lãi suất ổn định ở mức 5,8% - 6,0%/năm. Lãi suất cho vay tiếp tục giảm, nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, hỗ trợ người dân phục hồi sản xuất - kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Lãi suất cho vay bằng VND ngắn hạn từ 4,0% - 7,3%; lãi suất cho vay VND trung và dài hạn từ 7,5% - 10,8%.
* Công tác huy động vốn
Tổng nguồn vốn huy động trên địa bàn ước thực hiện đến 31/10/2025 đạt 632.289 tỷ đồng, tăng 10,82% so với 31/12/2024. Chia ra: Huy động tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi có kỳ hạn ước đạt 400.828 tỷ đồng, tăng 5,49% so với 31/12/2024, chiếm tỷ trọng 63,39%; tiền gửi thanh toán ước đạt 227.037 tỷ đồng, tăng 21,40%, chiếm tỷ trọng 35,91%; phát hành giấy tờ có giá ước đạt 4.424 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 0,7%.
* Công tác tín dụng
Tổng dư nợ cho vay đến 31/10/2025 ước đạt 482.645 tỷ đồng, tăng 17,65% so với 31/12/2024. Chia ra: Cho vay ngắn hạn ước đạt 290.705 tỷ đồng, tăng 11,11% so với 31/12/2024, chiếm tỷ trọng 60,23%; cho vay trung, dài hạn ước đạt 191.940 tỷ đồng, tăng 27,92%, chiếm tỷ trọng 39,77%. 
2. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
Tình hình giá cả thị trường tháng 10 năm 2025 có xu hướng giảm nhẹ so với tháng trước. Sự giảm giá chủ yếu  đến từ một số mặt hàng trong nhóm lương thực, thực phẩm; ngược lại, giá một số mặt hàng rau, củ, quả tăng mạnh do ảnh hưởng tiêu cực từ mưa bão gây ngập úng. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 10 năm 2025 giảm 0,03% so với tháng trước; so với cùng kỳ năm trước CPI tăng 1,97% và tăng 2,76% so với tháng 12 năm 2024. Bình quân 10 tháng năm 2025 tăng 3,24% so với cùng kỳ năm trước. 
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 10 năm 2025  giảm 0,03%, xu hướng biến động có sự khác biệt giữa các khu vực: Khu vực thành thị giảm 0,08% nhưng khu vực nông thôn tăng nhẹ, tăng 0,02%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng, có 06 nhóm hàng có xu hướng tăng giávà 05 nhóm hàng có xu hướng giảm giá, tất cả đều duy trì ở mức biến động nhẹ.Chỉ số giá tiêu dùng tháng 10 so với cùng kỳ năm trước tăng 1,97%. Trong đó: Khu vực thành thị tăng 1,8%, khu vực nông thôn tăng 2,13%; trong 11 nhóm hàng chính, có 06 nhóm tăng giá, và 05 nhóm có chỉ số giá giảm.
Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 10 tháng năm 2025 tăng 3,24% so với cùng kỳ năm trước; trong 11 nhóm hàng tiêu dùng chính, có 07 nhóm tăng giá và có 04 nhóm giảm giá.
2.1. Các yếu tố làm tăng CPI 10 tháng năm 2025
- Chỉ số nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 13,04%, hầu hết các mặt hàng trong nhóm đều có xu hướng tăng như: Thuốc các loại tăng 1,94%, dụng cụ y tế tăng 0,8%, riêng nhóm dịch vụ y tế tăng 17,13%, trong đó: khám chữa bệnh ngoại trú tăng 9,59% và khám chữa bệnh nội trú tăng 22,03%, chủ yếu do áp dụng Nghị quyết của Hội đồng nhân dân thành phố về áp dụng giá dịch vụ y tế;
- Chỉ số giá nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 6,69% tăng chủ yếu do giá nguyên nhiên vật liệu đầu vào và giá nhà thuê tăng. Trong đó, chỉ số nhóm vật liệu bảo dưỡng nhà ở chính tăng 11,2%, do giá nguyên vật liệu đầu vào và chi phí nhân công tăng; điện sinh hoạt tăng 7,19%, tăng do nhu cầu sử dụng điện tăng; than tăng 3,3%; Tuy nhiên, do Nhà nước điều chỉnh giá xăng, dầu các loại nên mặt hàng dầu hỏa giảm 7,95%, ga đun giảm 2,31% và nước sinh hoạt giảm 0,36%;
- Chỉ số giá nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 4,57%, chủ yếu tăng ở nhóm hàng như: Đồ dùng cá nhân tăng 3,88%, do giá nhóm đồ trang sức tăng 25,93% tăng theo giá vàng; dịch vụ phục vụ cá nhân tăng 2,45%; 
- Chỉ số giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,47%, một số mặt hàng trong nhóm đều có xu hướng tăng như: Gạo các loại tăng 4,12%; bột mì và ngũ cốc khác tăng 4,97%; lương thực chế biến tăng 2,40%, thịt gia súc tăng 8,04%; thịt gia cầm tăng 1,26%; thịt chế biến tăng 6,77%; thủy sản tươi sống tăng 3,03%; thủy sản chế biến tăng 2,79%; các loại đậu và hạt tăng 4,36%; nước mắm nước chấm tăng 3,83%; quả tươi và chế biến tăng 3,53%, đường mật tăng 3,85%, đồ gia vị tăng 1,38%, ăn uống ngoài gia đình tăng 5,2%, riêng nhóm ăn ngoài gia đình tăng 6,12% do chi phí đầu vào tăng;
- Chỉ số giá nhóm giáo dục tăng 1,83%, tăng chủ yếu do một số mặt hàng dịch vụ giáo dục tăng 2,09%; một số cơ sở giáo dục ngoài công lập tăng học phí năm học 2024-2025 và Trường Đại học Quản lý và Công nghệ Hải Phòng, Trường Cao đẳng Y dược Hải Phòng và Trường ĐH Hàng Hải điều chỉnh tăng học phí năm học 2025 -2026;
- Chỉ số giá nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,17%, tăng chủ yếu do một số mặt hàng trong nhóm thiết bị đồ dùng trong gia đình như: máy điều hòa tăng 1,4%, đồ điện tăng 0,55%, nhóm đồ dùng trong nhà tăng 1,39%, đồ dùng nấu ăn tăng 0,37%, đồng hồ treo tường và để bàn tăng 1,07%, giường tủ bàn ghế tăng 0,76%, đồ dùng bằng kim loại tăng 1,11%, đồ nhựa và cao su tăng 1,84%; hàng dệt trong nhà tăng 0,85%...
- Chỉ số giá nhóm nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,55%, tăng chủ yếu ở một số nhóm hàng thiết yếu như: Nước khoáng và nước có ga tăng 1,17%, bia các loại tăng 0,24% và thuốc hút các loại tăng 1,25%.
2.2. Các yếu tố làm giảm CPI 10 tháng năm 2025
- Chỉ số nhóm giao thông giảm 3,21%, chủ yếu do tác động của giá xăng, dầu diezel do Nhà nước điều chỉnh giảm, riêng chỉ số giá nhóm xăng các loại giảm 9,87%, dầu diezel 0,05S giảm 6,99%. Tuy nhiên, nhóm bảo dưỡng phương tiện đi lại có chỉ số giá tăng 2,3% do chi phí nhân công và giá điện tăng; dịch vụ giao thông công cộng tăng 11,18% và nhóm phụ tùng xe ô tô, xe máy và xe đạp tăng 0,96% do giá nhập tăng;
- Chỉ số nhóm văn hóa, giải trí và du lịch có xu hướng giảm, giảm 0,43%, giảm chủ yếu do các nhóm hàng như: Thiết bị văn hóa giảm 3,1%, giảm chủ yếu ở mặt hàng tivi giảm 3,23%; thiết bị thể dục thể thao giảm 0,52%; đồ chơi trẻ em giảm 0,17%; vé xem phim, ca nhạc giảm 4,25%, giảm chủ yếu do các đơn vị có chương trình khuyến mại nên giảm giá vé xem phim;
- Chỉ số 02 nhóm còn lại có xu hướng giảm nhẹ: May mặc, mũ nón và giầy dép giảm 0,16% và nhóm bưu chính viễn thông có xu hướng giảm 0,14%, giảm chủ yếu là do những mặt hàng may mặc cuối vụ giảm giá, nhiều cửa hàng có nhiều chương trình sale chào mừng những ngày lễ lớn của đất nước.
2.3. Chỉ số giá Vàng và đô la Mỹ
Chỉ số giá Vàng tháng 10 tăng mạnh do ảnh hưởng của Vàng thế giới tăng cao, chỉ số giá Vàng tháng này là 110,37%, tăng 10,37% so với tháng trước; giá vàng bình quân tháng 10 là 13.948 ngàn đồng/chỉ, tăng 1.285 ngàn đồng/chỉ so với tháng trước; Ngược với giá Vàng, chỉ số giá Đô la Mỹ tháng này có xu hướng giảm, với mức giảm 0,21%, và giảm 2.546 đồng/USD so với tháng trước.
3. Đầu tư
Mười tháng năm 2025, công tác giải ngân vốn đầu tư công của thành phố Hải Phòng ghi nhận những kết quả tích cực và đạt mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm 2024. Thành phố đã chủ động phân bổ nguồn lực cho các công trình trọng điểm ngay từ đầu năm, khắc phục tình trạng dồn vốn vào các tháng cuối năm. Tổng vốn đầu tư thuộc nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý thực hiện 10 tháng ước đạt 24.968,2 tỷ đồng, tăng 27,20% so với cùng kỳ năm trước, đạt 70,93% so với kế hoạch năm 2025 (trong đó: khu vực phía Đông Hải Phòng ước đạt 16.259,7 tỷ đồng, tăng 9,34% so với cùng kỳ; khu vực phía Tây Hải Phòng ước đạt 8.708,5 tỷ đồng, tăng 1,83 lần so với cùng kỳ).
Trong tháng 10/2025, tổng vốn đầu tư thực hiện ước đạt 3.709,3 tỷ đồng, tăng 4,69% so với cùng kỳ năm 2024. Trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp thành phố ước đạt 3.607,9 tỷ đồng, tăng 8,44%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã uớc đạt 101,4 tỷ đồng, giảm mạnh 53,08%. Nguyên nhân của sự sụt giảm này là do một số dự án thuộc chương trình xây dựng nông thôn mới tạm dừng để thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã.

*Tình hình thu hút vốn nước ngoài
Tính đến 20/10/2025, thành phố Hải Phòng có 1.761 dự án (bao gồm cả các dự án từ tỉnh Hải Dương cũ) còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư 50,64 tỷ USD. Trong đó: trong khu công nghiệp, khu kinh tế: 1.017 dự án, vốn đầu tư 42,80 tỷ USD; ngoài khu công nghiệp, khu kinh tế: 744 dự án, vốn đầu tư 7,84 tỷ USD.
 Tổng thu hút vốn đầu tư nước ngoài đạt 2.308,1 triệu USD. Trong đó, trong khu công nghiệp, khu kinh tế: 2.153,3 triệu USD (chiếm 93,3%); ngoài khu công nghiệp, khu kinh tế: 154,8 triệu USD (chiếm 6,71%). Cụ thể:
- Vốn đăng ký cấp mới có 161 dự án với số vốn cấp mới là 1.247,7 triệu USD. Trong đó: trong khu công nghiệp, khu kinh tế 88 dự án, đạt 1.143,5 triệu USD (chiếm 91,64%); ngoài khu công nghiệp, khu kinh tế 73 dự án đạt 104,3 triệu USD (chiếm 8,36%). 
- Điều chỉnh tăng vốn đầu tư: có 120 dự án với số vốn đầu tư tăng thêm 990,4 triệu USD. Trong đó: Trong khu công nghiệp, khu kinh tế 106 dự án, vốn đầu tư tăng 961,2 triệu USD; ngoài khu công nghiệp, khu kinh tế có 14 dự án, vốn đầu tư tăng là 29,2 triệu USD. 
- Thu hút thông qua hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp: có 25 lượt, số vốn đầu tư đăng ký 69,9 triệu USD. Trong đó: trong khu công nghiệp, khu kinh tế: có 04 lượt, số vốn đầu tư đăng ký là 48,6 triệu USD; ngoài khu công nghiệp, khu kinh tế: có 21 lượt, số vốn đầu tư đăng ký là 21,3 triệu USD. 
Từ đầu năm đến 20/10/2025, có 27 dự án thu hồi/chấm dứt hoạt động (ngoài khu công nghiệp: 20 dự án; trong khu công nghiệp: 07 dự án).
4. Sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản
Trong tháng 10 năm 2025, tình hình sản xuất nông nghiệp trên địa bàn thành phố Hải Phòng duy trì ổn định và đạt mức tăng trưởng khá; các lĩnh vực sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản đều giữ được nhịp độ ổn định và phát triển tích cực. Thời tiết thuận lợi tạo điều kiện cho cây trồng sinh trưởng, phát triển tốt; công tác phòng, chống dịch bệnh được triển khai hiệu quả, không phát sinh dịch bệnh nguy hiểm gây hại trên diện rộng. Hoạt động chăn nuôi tiếp tục được mở rộng nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng tăng cao vào những tháng cuối năm. 
4.1. Nông nghiệp
* Trồng trọt
Tổng diện tích gieo trồng vụ Mùa năm 2025 toàn thành phố đạt 95.413 ha, giảm 2,56% (-2.405 ha) so với vụ Mùa năm 2024. Nguyên nhân chủ yếu là do một phần diện tích đất trồng cây hàng năm được chuyển sang đất phi nông nghiệp (mở rộng khu công nghiệp, xây dựng đường giao thông, khu đô thị ...) ở các xã, phường thuộc đơn vị huyện cũ như Cẩm Giàng, Bình Giang, Thanh Miện, Vĩnh Bảo, Kiến Thụy, Tiên Lãng...; một phần diện tích khác chuyển sang trồng cây lâu năm hoặc nuôi trồng thủy sản tập trung tại một số xã, phường trên thuộc các huyện cũ như Thanh Hà, Tứ Kỳ, Ninh Giang.
Năng suất lúa vụ Mùa 2025 ước đạt 59,22 tạ/ha, tăng 14,54% so với cùng kỳ năm 2024. Sự tăng cao này chủ yếu do vụ Mùa 2024 bị ảnh hưởng bởi bão số 3, khiến hơn 6.800 ha lúa bị mất trắng. Năm nay, điều kiện thời tiết thuận lợi, nông dân tích cực chăm bón, lúa sinh trưởng tốt, đồng đều; năng suất ngô ước đạt 57,15 tạ/ha, tăng 2,04%; rau màu vụ Mùa năng suất trung bình 219,96 tạ/ha, tăng 2,91%; sản lượng ước đạt 249.830 tấn, tăng 6,8%. 
* Chăn nuôi
Tính đến thời điểm 31/10/2025, tổng đàn trâu toàn thành phố ước đạt 9.368 con, giảm 3,31% (-321 con) so với cùng kỳ năm trước; tổng đàn bò ước đạt 20.357 con, giảm 1,40% (-289 con). Nguyên nhân chủ yếu do hiệu quả kinh tế của chăn nuôi trâu, bò thấp hơn so với các vật nuôi khác (lợi nhuận/chu kỳ thấp, vốn đầu tư lớn, thời gian nuôi dài). Bên cạnh đó, giá trâu, bò hơi không tăng tương ứng với chi phí thức ăn và công chăm sóc; nguồn thức ăn tự nhiên (bãi chăn thả) tiếp tục giảm do chuyển đổi đất nông nghiệp sang công nghiệp, đô thị; nhiều địa phương không còn vùng chăn thả tập trung. Các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ có xu hướng chuyển sang chăn nuôi lợn hoặc gia cầm do quay vòng vốn nhanh và ít rủi ro hơn.
Tổng đàn lợn của thành phố tiếp tục duy trì mức tăng trưởng khá, ước đạt 518.266 con, tăng 3,68% (+18.375 con) so với cùng kỳ năm trước. Đàn lợn duy trì đà tăng ổn định nhờ giá thịt hơi ở mức cao, dịch bệnh được kiểm soát tốt, và mô hình chăn nuôi an toàn sinh học được nhân rộng tại nhiều địa phương. Một số trang trại, gia trại quy mô vừa và lớn tiếp tục mở rộng đầu tư, ứng dụng công nghệ cao trong chăn nuôi, góp phần nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế.
Đàn gia cầm toàn thành phố ước đạt 25.043 nghìn con, tăng 2,53% (+617 nghìn con) so với cùng kỳ năm trước; trong đó đàn gà đạt 20.712 nghìn con, tăng 3,10% (+623 nghìn con). Chăn nuôi gia cầm tiếp tục phát triển ổn định, không có dịch bệnh xảy ra; vốn đầu tư thấp, thời gian quay vòng nhanh, phù hợp với điều kiện kinh tế của nhiều hộ chăn nuôi. Ngoài ra, sự ổn định của thị trường tiêu thụ và giá bán thịt hơi, sản phẩm gia cầm giúp người chăn nuôi yên tâm đầu tư mở rộng quy mô, góp phần thúc đẩy phát triển chăn nuôi gia cầm tại nhiều địa phương.
4.2. Lâm nghiệp
Trong tháng, thời tiết mát mẻ đã tạo điều kiện thuận lợi cho người dân khai thác, trồng và chăm sóc rừng trồng mới. Diện tích rừng trồng mới toàn thành phố ước đạt 73 ha.
Sản lượng gỗ khai thác lũy kế từ đầu năm đến tháng 10/2025 ước đạt 14.542 m³, trong đó riêng tháng 10 ước đạt 3.282 m³.
Tính từ đầu năm đến hết tháng 10/2025, toàn thành phố xảy ra 35 vụ cháy rừng, với tổng diện tích rừng bị thiệt hại 45,62 ha. Nguyên nhân chủ yếu là do ảnh hưởng của lớp thực bì còn lại sau bão số 3 (Yagi) cuối năm 2024. Các vụ cháy đều được phát hiện sớm, lực lượng Kiểm lâm đã kịp thời tham mưu chính quyền địa phương huy động lực lượng tại chỗ dập tắt, nên thiệt hại được hạn chế ở mức thấp nhất.
4.3. Thủy sản
* Khai thác thủy sản
Sản lượng khai thác thủy sản tháng 10 năm 2025 ước đạt 9.258 tấn, bằng 103,88% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: sản lượng cá các loại ước đạt 5.399 tấn; tôm các loại đạt 775 tấn; thủy sản khác đạt 3.085 tấn. Tính chung 10 tháng năm 2025, tổng sản lượng khai thác thủy sản toàn thành phố ước đạt 95.321 tấn, bằng 101,21% so với cùng kỳ năm 2024.
* Nuôi trồng thủy sản
Sản lượng nuôi trồng thủy sản tháng 10 năm 2025 ước đạt 16.300 tấn, bằng 101,87% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 10 tháng năm 2025, tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản đạt 168.298 tấn, tăng 6,01% so với cùng kỳ năm 2024. Trong đó: Cá các loại: 159.698 tấn, tăng 6,15%; Tôm các loại: 6.346 tấn, tăng 3,73%; Thủy sản khác: 2.255 tấn, tăng 3,04%.
5. Sản xuất công nghiệp
Nhờ triển khai nhiều biện pháp thúc đẩy sản xuất kinh doanh, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và mở rộng thị trường, , sản xuất công nghiệp trên địa bàn thành phố Hải Phòng đã duy trì ở mức tăng trưởng khá trong tháng 10 và 10 tháng năm 2025 . Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vai trò là động lực chính, là trụ cột tăng trưởng của toàn ngành công nghiệp.
5.1. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP)
Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 10/2025 ước tính tăng 3,81% so với tháng trước và tăng 12,78% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giữ vững vai trò đầu tầu dẫn dắt tăng trưởng của toàn ngành. Một số ngành công nghiệp chủ lực đạt mức tăng trưởng khá cao phải kể đến như: ngành sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 22,54%; ngành sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 27,69%; ngành sản xuất trang phục tăng 26,26%; ngành sản xuất các sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 16,02%; ngành sản xuất xe có động cơ tăng 13,77%... 
Khu vực phía Đông Hải Phòng ước tính IIP tháng 10/2025 tăng 12,71% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành khai khoáng giảm 89,25%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,94%; ngành sản xuất, phân phối điện tăng 7,57%; ngành cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải giảm 0,24%.
Khu vực phía Tây Hải Phòng ước tính IIP tháng 10/2025 tăng 12,88% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành khai khoáng giảm 1,99%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,13%; ngành sản xuất, phân phối điện tăng 37,91%; ngành cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải tăng 1,92%.
Ước tính chung 10 tháng năm 2025, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 15,02% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, ngành khai khoáng giảm 20,64%, tác động làm giảm 0,06 điểm phần trăm vào mức tăng chung toàn ngành; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 16,61%, đóng góp 15,34 điểm phần trăm; ngành sản xuất, phân phối điện giảm 4,58%, tác động làm giảm 0,32 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải tăng 6,19%, đóng góp 0,06 điểm phần trăm vào mức tăng chung toàn ngành.
Bên cạnh đó, một số ngành gặp khó khăn do nhu cầu thị trường phục hồi chậm, sản lượng sản xuất 10 tháng so với cùng kỳ giảm, tác động xấu đến tốc độ tăng trưởng chung của toàn ngành như: ngành sản xuất và phân phối điện giảm 4,58%; ngành khai khoáng giảm 20,64%; ngành sản xuất sản phẩm thuốc lá giảm 14,01%.
5.2. Chỉ số sử dụng lao động
Tại thời điểm 01/10/2025 số lao động đang làm việc các doanh nghiệp công nghiệp tăng 1,07 % so cùng thời điểm tháng 9/2025 và tăng 2,50% so cùng thời điểm năm trước.
Một số ngành công nghiệp cấp II có chỉ số sử dụng lao động tăng so với cùng kỳ gồm: sản xuất phương tiện vận tải khác (đóng tàu) tăng 30,65%; Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 11,35%; Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 6,05%; Sản xuất đồ uống tăng 2,77%...
Bên cạnh đó một số ngành công nghiệp cấp II có chỉ số lao động giảm so với cùng kỳ như: Sản xuất sản phẩm thuốc lá giảm 5,59%; Sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu giảm 8,46%; sản xuất thiết bị điện giảm 5,72%; Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy giảm 4,26%...
6. Thương mại, dịch vụ
Hoạt động thương mại và dịch vụ trên địa bàn thành phố tiếp tục duy trì mức tăng khá. Trong tháng 10, nhiều sự kiện nổi bật diễn ra đã tạo điểm nhấn: Lễ hội mùa Thu Côn Sơn - Kiếp Bạc năm 2025; sự kiện khai trương Trung tâm thương mại Vincom Mega Mall và siêu thị Co.opmart tại Vũ Yên. Các sự kiện này không chỉ mở rộng kênh bán lẻ hiện đại mà còn  thu hút đông đảo người dân và khách du lịch đến trải nghiệm mua sắm và tham quan, góp phần quan trọng vào sự phát triển của hạ tầng phân phối.  
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu tiêu dùng tháng 10 ước tính tăng 2,9% so với tháng trước, tăng 15,63% so với cùng kỳ.T ính chung 10 tháng năm 2025 tăng 15,12% so với cùng kỳ năm 2024.
6.1. Tổng mức lưu chuyển hàng hóa và doanh thu dịch vụ
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tháng 10 năm 2025 ước đạt 33.184,8 tỷ đồng, tăng 2,90% so với tháng trước, tăng 15,63% so với cùng kỳ năm trước. Ước tính 10 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ đạt 309.633,5 tỷ đồng, tăng 15,12% so với cùng kỳ năm trước.
Trong đó: khu vực phía Đông Hải Phòng tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ 10 tháng/2025 ước đạt 212.934,3 tỷ đồng (tăng 14,63% so với cùng kỳ, chiếm 68,77% tổng mức chung); khu vực Tây Hải Phòng ước đạt 96.699,2 tỷ đồng (tăng 16,20% so với cùng kỳ, chiếm 31,23% tổng mức chung).
6.1.1. Hoạt động bán lẻ
Doanh thu tháng 10/2025 ước đạt 27.453,3 tỷ đồng, tăng 1,67% so với tháng trước, tăng 15,98% so với cùng kỳ. Hoạt động bán lẻ hàng hóa duy trì đà tăng trưởng ổn định, các nhóm ngành hàng tiếp tục tăng trưởng so với tháng trước. Tuy nhiên hiện nay do tình hình hàng giả, hàng không rõ nguồn gốc tràn lan nên người tiêu dùng có xu hướng thận trọng và khắt khe hơn trong việc chọn lựa và chi tiêu. Ngành hàng đá quý kim loại quý và sản phẩm có xu hướng tăng do giá vàng liên tục tăng trong thời gian gần đây, nhóm ngành hàng thiết yếu như lương thực, thực phẩm, đồ dùng gia đình, nhiên liệu tăng trưởng ổn định, nhóm ngành hàng gỗ và vật liệu xây dựng tăng cao do nhu cầu xây dựng..
Doanh thu hoạt động bán lẻ 10 tháng năm 2025 ước đạt 256.660,2 tỷ đồng, tăng 15,45% so với cùng kỳ và tăng ở hầu hết các ngành hàng. Hoạt động thương mại bán lẻ 10 tháng năm 2025 tiếp tục tăng trưởng so với cùng kỳ năm 2024, các hoạt động ăn uống, du lịch, vui chơi giải trí, lễ hội, nghỉ lễ 30/4-1/5, nghỉ hè góp phần thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động mua sắm, tiêu dùng. 
6.1.2. Hoạt động dịch vụ  
Hoạt động các ngành lưu trú ăn uống và dịch vụ khác trong tháng vẫn tăng trưởng ổn định và có nhiều khởi sắc. Doanh thu các ngành dịch vụ ước tính tháng 10 và 10 tháng năm 2025 như sau:
- Doanh thu dịch vụ lưu trú tháng 10 năm 2025 ước đạt 280,0 tỷ đồng, tăng 17,43% so với tháng trước và tăng 14,72% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng/2025, doanh thu lưu trú đạt 2.884,6 tỷ đồng, tăng 17,22% so với cùng kỳ năm trước. 
- Doanh thu dịch vụ ăn uống tháng 10 năm 2025 ước đạt 3.266,5 tỷ đồng, tăng 14,90% so với tháng trước và tăng 15,83% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng/2025, doanh thu ăn uống đạt 29.025,5 tỷ đồng, tăng 15,19% so với cùng kỳ năm trước. 
- Doanh thu du lịch lữ hành tháng 10 năm 2025 ước đạt 31,7 tỷ đồng, giảm 10,75% so với tháng trước, và tăng 16,80% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng/2025, dịch vụ du lịch lữ hành đạt 447,9 tỷ đồng, tăng 14,69% so với cùng kỳ năm trước.
- Doanh thu dịch vụ khác tháng 10 năm 2025 ước đạt 2.153,2 tỷ đồng, tăng 1,12% so với tháng trước, tăng 11,21% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng/2025, dịch vụ khác ước đạt 20.615,4 tỷ đồng, tăng 10,80% so với cùng kỳ năm trước.
6.2. Số lượt khách đến thành phố
Tổng lượt khách tháng 10 đến thành phố ước đạt 990 nghìn lượt, tăng 7,76% tăng so với cùng kỳ, trong đó khách quốc tế ước đạt 97,1 nghìn lượt, tăng 17,55% so với  cùng kỳ. Cộng dồn 10 tháng năm 2025, tổng lượt khách thành phố phục vụ ước đạt 12,87 triệu lượt, tăng 27,06% so với cùng kỳ, trong đó khách quốc tế ước đạt 763,37 nghìn lượt, tăng 8,71% so với  cùng kỳ.
6.3. Giao thông vận tải, bưu chính, viễn thông
Hoạt động vận tải tháng 10 năm 2025 trên địa bàn thành phố Hải Phòng tiếp tục duy trì đà tăng cao so với cùng kỳ năm trước.
Ước tính tổng doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và dịch vụ bưu chính, chuyển phát tháng 10 năm 2025 đạt 14.601,9 tỷ đồng, tăng 14,43% so với cùng kỳ năm trước. 
Ước tính 10 tháng năm 2025, doanh thu hoạt động kinh doanh vận tải và dịch vụ hỗ trợ vận tải trên địa bàn thành phố đạt 142.113 tỷ đồng, tăng 14,61% so với cùng kỳ năm trước. 
Kết quả 10 tháng cho thấy sản lượng các loại hình vận tải đều tăng trưởng, phát triển vượt bậc; chất lượng phương tiện, chất lượng phục vụ, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, cung cấp dịch vụ được đẩy mạnh; đáp ứng tốt nhu cầu đi lại của người dân và vận chuyển hàng hóa, tiết kiệm chi phí xã hội. Cụ thể, hoạt động từng loại hình như sau:
6.3.1. Vận tải hàng hoá
- Tháng 10 năm 2025
Doanh thu ước tính đạt 7.003,3 tỷ đồng, tương ứng tăng 11,79% so cùng kỳ năm trước; khối lượng hàng hóa vận chuyển trong tháng ước đạt 38,5 triệu tấn, tăng 11,27% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước tính 14.859,8 triệu tấn.km, tăng 12,71% so cùng kỳ năm trước. 
- Mười tháng năm 2025
Doanh thu vận tải hàng hóa 10 tháng ước đạt 68.226,9 tỷ đồng, tăng 12,91%; khối lượng hàng hóa vận chuyển đạt 369,2 triệu tấn, tăng 10,77%; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 141.409,7 triệu tấn.km, tăng 14,78% so với cùng kỳ năm trước.
6.3.2. Vận tải hành khách    
- Tháng 10 năm 2025
Doanh thu ước tính đạt 679,5 tỷ đồng, tăng 19,17% so với cùng kỳ năm trước; số lượt hành khách vận chuyển ước đạt 12,4 triệu lượt hành khách, tương ứng tăng 23,1% so cùng kỳ năm trước; số lượt hành khách luân chuyển ước đạt 518,6 triệu lượt hành khách.km, tương ứng tăng 18,95% so với cùng kỳ năm trước. 
- Mười tháng năm 2025
Doanh thu ước đạt 6.550,96 tỷ đồng, tăng 14,4%; số lượt hành khách vận chuyển đạt 117,77 triệu lượt hành khách, tăng 16,62%; số lượt hành khách luân chuyển đạt 5.011,66 triệu lượt hành khách.km, tăng 12,98% so với cùng kỳ năm trước. 
6.3.3. Hoạt động hỗ trợ vận tải
- Tháng 10 năm 2025
Doanh thu hoạt động hỗ trợ vận tải (cảng, bốc xếp, đại lý vận tải,…) tháng 10 năm 2025 ước tính đạt 6.872,5 tỷ đồng, tăng 16,79% so với cùng kỳ năm trước. 
- Mười tháng năm 2025
Hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải 10 tháng năm 2025 tiếp tục ghi nhận xu hướng tăng trưởng cao. Doanh thu ước đạt 66.891,4 tỷ đồng, tăng 16,41% so cùng kỳ năm trước. 
6.3.4. Vận tải hàng không
Tháng 10 năm 2025, tổng doanh thu của Sân bay Cát Bi ước đạt 21,1 tỷ đồng giảm 0,09% so với cùng tháng năm trước. Cộng dồn 10 tháng, tổng doanh thu của Sân bay Cát Bi ước đạt 246,9 tỷ đồng, tăng 13,47% so với cùng kỳ.
Số lần máy bay hạ, cất cánh tháng 10 năm 2025 ước đạt 980 chuyến, giảm 3,64% so với cùng tháng năm trước. Ước tháng 10 có 80 chuyến bay ngoài nước. Cộng dồn 10 tháng, số lần máy bay hạ, cất cánh ước đạt 12.228 chuyến, tăng 11,45% so với cùng kỳ.
Tổng số hành khách tháng 10 năm 2025 ước đạt 180,0 nghìn lượt người. Cộng dồn 10 tháng, tổng số hành khách vận chuyển ước đạt 2.071,2 nghìn lượt người, tăng 8,75% so với cùng kỳ năm trước.
Tổng số hàng hóa tháng 10 năm 2025 ước đạt 830 tấn. Cộng dồn 10 tháng, tổng số hàng hóa ước đạt 10.258 tấn.
6.4. Hàng hoá thông qua cảng 
Sản lượng hàng hóa thông qua cảng dự kiến tháng 10 năm 2025 ước đạt 22,95 triệu TTQ, tăng 7,37% so với cùng kỳ năm 2024. Cụ thể: 
- Khối cảng thuộc kinh tế Nhà nước ước tháng 10 năm 2025 đạt 4,852 triệu TTQ, đạt 99,0% so với cùng kỳ năm 2024.
- Các cảng thuộc khu vực kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 18,098 triệu TTQ, tăng 9,86% so với cùng kỳ năm 2024.
Hàng hóa thông qua cảng biển trên địa bàn thành phố 10 tháng năm 2025 đạt 162,734 triệu TTQ, tăng 11,67% so với cùng kỳ năm 2024.
* Doanh thu cảng biển 10 tháng năm 2025 đạt 6.849,5 tỷ đồng, tăng 9,95% so với cùng kỳ năm 2024.
II. VĂN HÓA - XÃ HỘI
Đời sống dân cư và công tác an sinh xã hội trên địa bàn thành phố trong tháng 10/2025 tiếp tục được chính quyền các cấp quan tâm. Các chính sách an sinh xã hội được triển khai kịp thời, hiệu quả, đảm bảo đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân.
1. Tình hình lao động việc làm
Tháng 10 năm 2025, ước tổ chức 12 phiên giao dịch việc làm thu hút 130 lượt doanh nghiệp tham gia tuyển dụng với nhu cầu tuyển dụng là 20.300 lượt lao động; Cung lao động tại Sàn được 21.900 lượt lao động (đáp ứng tốt nhu cầu tuyển dụng). Đăng kí bảo hiểm thất nghiệp ước 2.060 người, đã giải quyết chế độ bảo hiểm thất nghiệp cho 2.140 người với kinh phí là 64,3 tỷ đồng. Qua giải quyết chế độ thất nghiệp đã tư vấn, giới thiệu việc làm cho 2.060 người. Ước cấp mới khoảng 800 giấy phép lao động, cấp lại khoảng 20 giấy phép lao động, gia hạn gần 160 giấy phép lao động, xác nhận 05 lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam không thuộc diện cấp giấy phép lao động. 
Trong 10 tháng năm 2025, ước tổ chức 82 phiên giao dịch việc làm thu hút 1.220 lượt doanh nghiệp tham gia tuyển dụng với nhu cầu tuyển dụng là 282.200 lượt lao động; Cung lao động tại Sàn được 188.400 lượt (đáp ứng 66,76% nhu cầu tuyển dụng). Đăng kí bảo hiểm thất nghiệp ước 22.110 người, giải quyết chế độ bảo hiểm thất nghiệp cho 21.580 người với kinh phí là 655,3 tỷ đồng. Qua giải quyết chế độ thất nghiệp đã tư vấn, giới thiệu việc làm cho 22.110 người. Ước cấp mới khoảng 7.750 giấy phép lao động, cấp lại khoảng 490 giấy phép lao động, gia hạn khoảng 2.000 giấy phép lao động, xác nhận khoảng 150 lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam không thuộc diện cấp giấy phép lao động. 
Tính đến thời điểm báo cáo, trên địa bàn thành phố xảy ra 02 cuộc đình công với trên 1,1 nghìn người tham gia; xảy ra 20 vụ tai nạn lao động chết người làm 20 người chết. 
2. Công tác an sinh xã hội
2.1. Công tác người có công
Trong 10 tháng năm 2025, Quỹ Đền ơn đáp nghĩa thành phố thực hiện trích kinh phí hỗ trợ người có công với cách mạng, thân nhân liệt sĩ với tổng số tiền 4.765 triệu đồng
2.2. Công tác bảo trợ xã hội
Trong tháng, Đoàn liên ngành tập trung người lang thang tổ chức đi kiểm tra, rà soát, tập trung người lang thang trên địa bàn thành phố, kết quả: 7 đợt tập trung đưa được 11 người lang thang vào Trường Lao động Xã hội Thanh Xuân (nay là Trung tâm CTXH và BT trẻ em Hoa Phượng) thực hiện phân loại, quản lý theo quy định. 
Số liệu đối tượng tại các cơ sở nuôi dưỡng BTXH: Tại thời điểm ngày 14/10/2025, tổng số đối tượng bảo trợ xã hội đang nuôi dưỡng tập trung tại các cơ sở trợ giúp xã hội là 1.729 người.
3. Công tác giáo dục, y tế, văn hóa thể thao
3.1. Công tác giáo dục
Tháng 10 năm 2025, quy mô giáo dục trên địa bàn thành phố Hải Phòng được mở rộng, đa cấp học, đa lĩnh vực, tạo tiền đề đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân trong thành phố. Thành phố đầu tư phát triển hạ tầng giáo dục, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục; đồng thời, củng cố và hoàn thiện mạng lưới trường, lớp học theo quy hoạch; xây dựng cơ sở vật chất, thiết bị trường học theo hướng đạt chuẩn quốc gia. Tính đến tháng 10/2025, toàn thành phố có 77,42% số trường đạt chuẩn quốc gia. 
3.2. Công tác y tế
Tháng 10 năm 2025, thành phố thường xuyên cập nhật các thông tin về các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, mới nổi được ghi nhận gần đây, có nguy cơ xâm nhập vào nước ta để chủ động áp dụng các biện pháp giám sát, phối hợp với các đơn vị y tế khác xử lý ổ dịch không để bùng phát tại cộng đồng. Tổ chức tập huấn “Ứng dụng công nghệ thông tin trong phòng, chống dịch bệnh Sốt xuất huyết Dengue năm 2025” cho 50 cán bộ y tế tuyến TTYT khu vực.
Trong tháng ghi nhận 5 ca nhiễm HIV mới; Số người nhiễm HIV đang còn sống đến thời điểm báo cáo là 6.558 trường hợp; Số người nhiễm HIV tử vong lũy tích là 5.527 trường hợp. Hiện tại điều trị ARV cho 5.455 người; điều trị PreP cho 700 người. 
Hiện có 13 cơ sở điều trị Methadone, điều trị 2.848 người, cấp phát thuốc Methadone nhiều ngày cho 962 bệnh nhân tại 12 cơ sở điều trị. Đảm bảo dự trù thuốc Methadone cho tất cả các cơ sở điều trị trên địa bàn thành phố. 
3.3. Công tác văn hóa, thể thao
* Văn hóa: Trong tháng 10 năm 2025, Toàn Ngành tập trung tổ chức các hoạt động tuyên truyền, cổ động trực quan, các hoạt động văn hóa, văn nghệ, gia đình, thể dục thể thao và du lịch, phong phú, đa dạng, tạo được không khí vui tươi, sôi nổi, rộng khắp trên toàn thành phố, thiết thực chào mừng kỷ niệm các ngày lễ lớn, các sự kiện chính trị của đất nước và thành phố; đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa tinh thần của Nhân dân thành phố .
* Thể thao: Tính đến thời điểm báo cáo, các vận động viên thành tích cao Hải Phòng tham gia thi đấu 186 giải trong nước và quốc tế, giành được tổng cộng 1280 huy chương các loại, trong đó có 342 Huy chương Vàng, 386 Huy chương Bạc, 552 Huy chương Đồng). Phá kỷ lục tại 5 giải vô địch quốc gia. 
Tổng số HLV, VĐV tham gia đội tuyển quốc gia và tuyển trẻ quốc gia là 102 người (trong đó, tập huấn đội tuyển quốc gia 48 người, tập huấn đội tuyển trẻ Quốc gia 54 người).
4. Tình hình tai nạn giao thông, phòng chống cháy nổ
4.1. Tình hình tai nạn giao thông
Từ ngày 15/9/2025 đến ngày 14/10/2025, toàn thành phố xảy ra 66 vụ tai nạn giao thông, làm 32 người chết và 48 người bị thương. So với cùng kỳ năm ngoái, số vụ tai nạn giao thông giảm 19 vụ (tương ứng -22,4%), số người chết tăng 04 người (tương ứng 14,29%) và số người bị thương giảm 25 người (tương ứng -34,2%). Các vụ tai nạn chủ yếu từ va chạm cá nhân, do người dân chưa chấp hành đúng luật, không tuân thủ các biện pháp đảm bảo an toàn giao thông.  
Trong 10 tháng năm 2025, trên địa bàn thành phố đã xảy ra 733 vụ tai nạn giao thông; làm chết 391 người và bị thương 497 người. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông giảm 297 vụ (tương ứng -28,83%); số người chết tăng 05 người (tương ứng 1,3%) và số người bị thương giảm 335 người (tương ứng -40,26%).
4.2. Công tác phòng chống cháy nổ
Từ ngày 15/9/2025 đến ngày 14/10/2025, trên địa bàn thành phố Hải Phòng đã xảy ra 02 vụ cháy (01 vụ cháy nhà dân, 01 vụ cháy cơ quan doanh nghiệp); vụ cháy không gây thiệt hại về người, thiệt hại về tài sản đang được cơ quan chức năng thống kê.
Trong 10 tháng năm 2025, trên địa bàn thành phố đã xảy ra 160 vụ cháy, giảm 16 vụ so với cùng kỳ năm trước; làm 02 người chết; 05 người bị thương; ước tính giá trị thiệt hại về tài sản khoảng 1.971,2 triệu đồng và 8,162 ha diện tích rừng. Nguyên nhân các vụ cháy chủ yếu do tình trạng bất cẩn trong cách sử dụng các thiết bị có nguy cơ cháy, nổ cao tại một số nhà dân và cơ quan, doanh nghiệp; một số vụ cháy thảm thực bì rừng; các vụ cháy khác đang trong quá trình điều tra, xác định giá trị thiệt hại về tài sản. Để đảm bảo công tác an sinh xã hội, ổn định đời sống nhân dân, trong thời gian tới thành phố cần chú trọng công tác kiểm tra phòng cháy chữa cháy, nâng cao ý thức người dân và doanh nghiệp, xử lý nghiêm vi phạm để hạn chế rủi ro trong công tác phòng chống cháy nổ./.
    

Tác giả: THỐNG KÊ THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây