Thông cáo báo chí tình hình Kinh tế - Xã hội 6 tháng đầu năm 2024 thành phố Hải Phòng

Thứ năm - 27/06/2024 20:00

THÔNG CÁO BÁO CHÍ
TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2024
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG



Kinh tế Hải Phòng 6 tháng đầu năm 2024 diễn ra trong bối cảnh kinh tế trong nước tăng trưởng tích cực ở cả ba lĩnh vực chính là nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ; xuất khẩu đang phục hồi, tiêu dùng và đầu tư tư nhân trong nước cũng trên đà tăng dần. Tuy nhiên, kinh tế Việt Nam vẫn còn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, căng thẳng địa chính trị và thiên tai liên quan đến khí hậu gia tăng, tốc độ phục hồi của thị trường bất động sản không được như dự báo; khu vực doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn khi tìm kiếm thị trường đầu ra, thiếu đơn hàng, thiếu nguồn lao động có kỹ năng...
Ngay từ đầu năm Lãnh đạo thành phố đã triển khai quyết liệt các Nghị quyết của Trung ương và Thành phố về các nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội; chỉ đạo các cấp ngành, địa phương thực hiện hiệu quả các giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho sản xuất, kinh doanh; thúc đẩy đầu tư, tiêu dùng nội địa và xuất khẩu; thực hiện tốt công tác an sinh xã hội, cải thiện đời sống người dân. Nhờ đó, kinh tế - xã hội thành phố Hải Phòng 6 tháng đầu năm 2024  tiếp tục duy trì đà tăng trưởng, an sinh, xã hội được bảo đảm. 
Kết quả của các ngành, lĩnh vực đạt được như sau:

1. Về tăng trưởng kinh tế

Tổng sản phẩm trên địa bàn 6 tháng đầu năm năm 2024 ước tăng 10,32% so với cùng kỳ năm trước (kế hoạch năm 2024 tăng 11,50%-12%), đứng thứ 5 cả nước và thứ 2 vùng đồng bằng Sông Hồng. Trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 0,86%, đóng góp 0,03 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 12,76%, đóng góp 6,68 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 8,54%, đóng góp 3,25 điểm phần trăm; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 5,77%, đóng góp 0,35 điểm phần trăm.
Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng trưởng ổn định, giá trị tăng thêm 6 tháng năm 2024 tăng 0,86%, đóng góp 0,03 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung. Diện tích đất gieo trồng và sản lượng cây hàng năm vụ Đông Xuân có xu hướng giảm do diện tích đất gieo trồng giảm ở hầu hết các nhóm cây trồng; năng suất cây trồng giữ được ổn định. Chăn nuôi lợn tăng nhẹ chủ yếu ở các hộ chăn nuôi quy mô lớn, nuôi gia công cho doanh nghiệp đảm bảo được đầu ra của sản phẩm. Giá trị tăng thêm ngành nông nghiệp tăng 0,3%, đóng góp 0,01 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung. Ngành thủy sản tiếp tục là điểm sáng trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản; giá trị tăng thêm ngành thủy sản tăng 1,82%, đóng góp 0,02 điểm phần trăm vào mức tăng chung. Sản lượng nuôi trồng và khai thác thủy tăng 1,78% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khai thác thủy sản tăng 1,36%, nuôi trồng thủy sản tăng 2,41%. 
Khu vực công nghiệp và xây dựng, sản xuất công nghiệp khởi sắc và cho thấy xu hướng phục hồi rõ nét. Giá trị tăng thêm toàn ngành công nghiệp tăng 13,1% so với cùng kỳ năm trước (trong đó quý I tăng 11,95%; quý II tăng 14,21%), cao hơn mức tăng 11,13% của cùng kỳ năm 2023, đóng góp 6,27 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là động lực tăng trưởng của kinh tế thành phố với tốc độ tăng 12,93%, đóng góp 5,81 điểm phần trăm; trong đó một số ngành công nghiệp trọng điểm đạt mức tăng trưởng cao như sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 20,87%; sản xuất xe có động cơ tăng 21,4 %; sản xuất thiết bị điện tăng 14,38 %; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 13,09%;... ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng tăng 17,31%, đóng góp 0,43 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung. Hoạt động xây dựng ổn định, ước tăng 9,09%, đóng góp 0,41 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung.
Các hoạt động xúc tiến thương mại, quảng bá du lịch, kích cầu tiêu dùng, hoạt động vận tải, dịch vụ hỗ trợ vận tải tiếp tục được đẩy mạnh đã góp phần duy trì tăng trưởng của khu vực dịch vụ. Giá trị tăng thêm khu vực dịch vụ 6 tháng đầu năm 2024 tăng 8,54% so với cùng kỳ năm trước, đứng thứ 6 cả nước. Trong khu vực dịch vụ, đóng góp của một số ngành có tỷ trọng lớn vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm kinh tế thành phố như sau: ngành thương mại tăng 10,3%, đóng góp 0,64 điểm phần trăm; ngành vận tải, kho bãi tăng 10,51%, đóng góp 1,88 điểm phần trăm; dịch vụ lưu trú ăn uống tăng 9,58%, đóng góp 0,16 điểm phần trăm, hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 6,66%, đóng góp 0,13 điểm phần trăm; hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 8,68%, đóng góp 0,08 điểm phần trăm; ...
Về cơ cấu kinh tế trên địa bàn 6 tháng đầu năm 2024, khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm tỷ trọng 3,7%, khu vực công nghiệp - xây dựng chiếm 50,49%; khu vực dịch vụ chiếm 40,06%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 5,75%.

2. Sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản

Sản xuất nông nghiệp 6 tháng đầu năm 2024 trên địa bàn thành phố duy trì sự ổn định so với cùng kỳ năm trước. Chăn nuôi lợn và gia cầm tăng nhẹ. Hoạt động nuôi trồng và khai thác thủy sản tăng khá so với cùng kỳ.
a) Nông nghiệp
Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ Đông Xuân năm 2024 toàn thành phố đạt 41.592,2 ha, bằng 99,01% so với vụ Đông Xuân năm trước. Diện tích gieo trồng cây hàng năm có xu hướng giảm ở tất cả các nhóm cây trồng, trong đó cây lúa có mức giảm mạnh nhất.
Diện tích cây lúa đạt 27.326 ha, bằng 99,05% so với cùng kỳ năm trước. Năng suất lúa ước đạt 70,18 tạ/ha, bằng 100,04% so với vụ Đông Xuân năm trước; sản lượng lúa ước đạt 191,7 nghìn tấn, bằng 99,09%. Diện tích nhóm cây hàng năm khác đạt 14.266,2 ha, bằng 98,93% so với cùng kỳ năm trước. 
Ước tính tháng 6/2024, chăn nuôi gia súc, gia cầm trên địa bàn thành phố hiện có như sau: đàn trâu, bò tiếp tục có xu hướng giảm do diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp; hình thức chăn nuôi chủ yếu nhỏ, lẻ khó mở rộng quy mô; .... Tổng đàn trâu hiện có đạt 4.156 con, bằng 98,53% so với cùng kỳ năm trước; đàn bò ước đạt 7.078 con, bằng 95,87%. 
Chăn nuôi lợn tiếp tục có xu hướng tăng ở các hộ chăn nuôi lớn, nuôi gia công cho các doanh nghiệp, tỉ lệ tái đàn trong dân chậm, nhiều hộ chăn nuôi quy mô nhỏ bỏ nuôi. Tổng đàn lợn hiện có ước đạt 140.992 con, tăng 0,3% so cùng kỳ năm trước. 
Tổng đàn gia cầm ước đạt 8.289,6 nghìn con, tăng 0,73% so cùng kỳ năm trước, trong đó, đàn gà ước đạt 6.772,3 nghìn con, tăng 3,9%.
* Công tác phòng chống dịch bệnh
Ngày 30/5/2024 bệnh Dịch tả lợn Châu Phi xảy ra tại xã Ngũ Đoan, huyện Kiến Thụy; tính đến 17h ngày 26/6/2024 trên địa bàn xã Ngũ Đoan huyện Kiến Thụy dịch bệnh đã xảy ra tại 22 hộ; số lợn tiêu hủy bắt buộc do mắc bệnh Dịch tả lợn Châu Phi: 287 con (11 con lợn nái và 276 con lợn nuôi thịt), trọng lượng tiêu hủy 11.061 kg.
b) Lâm nghiệp
Tháng 6 năm 2024, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 147,4 m3, bằng 121,82% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng củi khai thác ước đạt 2.653,4 ste, bằng 121,18%. Diện tích rừng trồng mới ước đạt 6,66 ha; số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 18,5 nghìn cây.
Tính chung 6 tháng đầu năm 2024, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 727,6 m3, bằng 100,98% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng củi khai thác ước đạt 17.145 ste, bằng 99,85%. Diện tích rừng trồng mới đạt 92,19 ha.
c) Thủy sản
Tính chung 6 tháng đầu năm 2024, sản lượng nuôi trồng và khai thác thủy sản đạt 101.355,6 tấn, tăng 1,78% so với cùng kỳ năm trước. Diện tích nuôi trồng thủy sản 6 tháng năm 2024 ước đạt 9.089,8 ha, tăng 0,96% so với cùng kỳ năm trước.
Sản lượng thủy sản nuôi trồng thu hoạch 6 tháng/2024 ước đạt 40.518,2 tấn, bao gồm: các các loại đạt 24.874,3 tấn, tăng 2,72%; tôm các loại đạt 3.475,2 tấn, tăng 3,11%; thủy sản khác đạt 12.168,7 tấn, tăng 1,63%. 
Sản lượng khai thác thủy sản 6 tháng đầu năm 2024 ước đạt 60.837,4 tấn, tăng 1,36% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: cá các loại đạt 36.451,1 tấn, tăng 1,75%; tôm các loại đạt 4.705,1 tấn, tăng 0,77%; thủy sản khác đạt 19.681,2 tấn, tăng 0,78%.

3. Sản xuất công nghiệp

Sáu tháng đầu năm 2024, sản xuất công nghiệp trên địa bàn khởi sắc và đạt được kết quả tích cực, quý sau cao hơn quý trước (quý I tăng 13,31%, quý II tăng 17,12%), trong đó ngành chế biến chế tạo tiếp tục là động lực chính thúc đẩy tăng trưởng chung của toàn ngành với mức tăng 15,59%, đóng góp 14,5 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 9,28%, là mức tăng tích cực sau các năm 2021-2023 tăng trưởng âm, đóng góp 0,67 điểm phần trăm trong mức tăng chung toàn ngành.
Chỉ số phát triển sản xuất toàn ngành công nghiệp thành phố (IIP) 6 tháng đầu năm 2024 ước tăng 15,24% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành khai khoáng giảm 5,99%, làm giảm 0,01 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 15,59%, đóng góp 14,5 điểm phần trăm; ngành sản xuất, phân phối điện tăng 9,28%, đóng góp 0,67 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải tăng 4,60%, đóng góp 0,05 điểm phần trăm vào mức tăng chung.
Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo 6 tháng đầu năm 2024 ước tăng 9,98% so với cùng kỳ. Trong đó, một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao như: sản xuất thủy tinh và sản phẩm từ thủy tinh tăng 242,08%; sản xuất gỗ dán, gỗ lạng, ván ép tăng 109,03%; sản xuất đồ chơi, trò chơi tăng 75,52%; ...
Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tại thời điểm 30/6/2024 dự kiến tăng 11,14% so với tháng 5/2024, tăng 10,03% so với cùng kỳ, trong đó một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao so cùng kỳ: sản xuất sản phẩm thuốc lá tăng 534,88%; sản xuất bia các loại tăng 355,62%; sản xuất máy móc và thiết bị văn phòng tăng 173,63%; sản xuất mô tơ, máy biến thế điện tăng 153,14%; sản xuất xe có động cơ tăng 42,38%; sản xuất xi măng, vôi, thạch cao tăng 42,10%;...
Số lao động làm việc trong doanh nghiệp công nghiệp ước tại thời điểm 01/6/2024 tăng tăng 1,60% so với tháng 5/2024 và tăng 5,48% so cùng thời điểm năm trước. Trong đó lao động khu vực doanh nghiệp nhà nước tăng 0,71%; lao động doanh nghiệp ngoài nhà nước giảm 4,29%; lao động doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 9,26%. 
Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu 6 tháng đầu năm 2024 tăng cao so với cùng kỳ năm trước: máy tính xách tay sản xuất đạt 307,9 nghìn cái, tăng 181,97% so với cùng kỳ; thiết bị ngoại vi của máy vi tính sản xuất đạt 18,2 triệu cái, tăng 117,35% so với cùng kỳ; bao bì và túi bằng giấy sản xuất đạt 93,4 triệu chiếc, tăng 112,54%; tủ lạnh sản xuất đạt 352.369 chiếc, tăng 101,19%; thuốc lá có đầu lọc sản xuất đạt 43,7 triệu bao, tăng 15,74%;... Một số sản phẩm chủ yếu giảm so với cùng kỳ: máy chơi game sản xuất đạt 415,6 nghìn cái, giảm 33,95%; lốp cao su sản xuất đạt 1.235,9 nghìn chiếc, giảm 22,88%; cà phê hỗn hợp hòa tan sản xuất đạt 168,3 tấn, giảm 22,39%; máy in văn phòng sản xuất đạt 542.977 chiếc, giảm 17,25%; giấy làm vàng mã sản xuất đạt 8.545,7 tấn, giảm 7,29%;...

4. Thương mại, dịch vụ

Sáu tháng đầu năm 2024, hoạt động thương mại, dịch vụ trên địa bàn thành phố duy trì đà tăng trưởng tích cực từ năm 2023, trong đó một số ngành tăng cao so cùng kỳ, đóng góp nhiều vào tăng trưởng chung của thành phố như: tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 13,46% kỳ; tổng lượt khách do các cơ sở lưu trú và lữ hành thành phố phục vụ ước đạt 4,27 triệu lượt, tăng 16,25%; doanh thu vận tải hành khách tăng 25%, sản lượng hàng qua cảng tăng 11,64% . 
* Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ 
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ 6 tháng năm 2024 ước đạt 108.895,1 tỷ đồng, tăng 13,46% so với cùng kỳ năm trước, bằng 48,93% kế hoạch (kế hoạch năm 2024 đạt 222.550 tỷ đồng). 
Chia theo ngành hoạt động: Doanh thu hoạt động bán lẻ 6 tháng năm 2024 ước đạt 90.920,3 tỷ đồng, tăng 13,87% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 1.212,6 tỷ đồng, tăng 15,07%; dịch vụ ăn uống ước đạt 11.173,7 tỷ đồng, tăng 15,02%; hoạt động du lịch lữ hành 124,7 tỷ đồng, tăng 10,50% và hoạt động dịch vụ khác 5.463,8 tỷ đồng, tăng 4,13% so với cùng kỳ năm 2023.
* Hoạt động du lịch
Lũy kế 6 tháng đầu năm 2024, tổng lượt khách do các cơ sở lưu trú và lữ hành thành phố phục vụ ước đạt 4,27 triệu lượt, tăng 16,25% so với cùng kỳ, trong đó, khách quốc tế ước đạt 502,6 nghìn lượt, tăng 1,91% so với cùng kỳ. 
* Dịch vụ vận tải
Hoạt động vận tải trên địa bàn thành phố trong tháng 6 và 6 tháng đầu năm tiếp tục duy trì được đà tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm trước. 
Ước tính lũy kế 6 tháng đầu năm 2024, doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 31.294,3 tỷ đồng, tăng 12,40%; khối lượng hàng hóa vận chuyển đạt 157,7 triệu tấn, tăng 11,11%; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 66.773,9 triệu tấn.km, tăng 14,81% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu vận tải hành khách ước đạt 2.225,1 tỷ đồng, tăng 24,85%; số lượt hành khách vận chuyển đạt 42,3 triệu lượt hành khách, tăng 25,89%; số lượt hành khách luân chuyển đạt 1.867,7 triệu lượt hành khách.km, tăng 26,84% so với cùng kỳ năm trước. 
* Sản lượng hàng hóa thông qua cảng 
Hàng hóa thông qua cảng biển trên địa bàn thành phố 6 tháng đầu năm 2024 đạt 77,5 triệu TTQ, tăng 11,64% so với cùng kỳ năm 2023 trong đó: Khối cảng thuộc kinh tế Nhà nước đạt 26,191 triệu TTQ tăng 5,8% so với cùng kỳ; Các cảng thuộc khu vực kinh tế ngoài nhà nước đạt 51,309 triệu TTQ tăng 14,87% so với cùng kỳ năm trước.

5. Tài chính và ngân hàng

Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn thành phố 6 tháng đầu năm 2024 ước đạt 62.716,4 tỷ đồng, đạt 58,74% Dự toán Hội đồng nhân nhân thành phố giao và bằng 138,99% so với cùng kỳ năm trước.
Trong đó: Thu nội địa đạt đạt 30.761,3 tỷ đồng, đạt 68,36% Dự toán Hội đồng nhân dân thành phố giao và bằng 206,12% so với cùng kỳ năm trước; thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu ước đạt 31.011,4 tỷ đồng, đạt 51,69% Dự toán Hội đồng nhân dân thành phố và bằng 107,56% so với cùng kỳ năm trước. 
Tổng chi ngân sách địa phương ước đạt 2.314,9 tỷ đồng. Ước 6 tháng/2024 tổng chi ngân sách địa phương đạt 12.140,3 tỷ đồng, đạt 30,53% Dự toán Hội đồng nhân dân thành phố giao và bằng 82,34% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó tổng chi đầu tư phát triển ước đạt 5.582,9 tỷ đồng, đạt 27,8% Dự toán Hội đồng nhân dân thành phố giao và bằng 63,37% so với cùng kỳ năm trước; chi thường xuyên đạt 6.393,5 tỷ đồng, đạt 39,77% Dự toán Hội đồng nhân dân thành phố giao và bằng 110,37% so với cùng kỳ năm trước. 
Tổng nguồn vốn huy động trên địa bàn ước thực hiện đến 30/6/2024 đạt 337.082 tỷ đồng, tăng 9,33% so với cùng kỳ năm trước. 
Tổng dư nợ cho vay đến 30/6/2024 ước đạt 219.009 tỷ đồng, tăng 15,21% so với cùng kỳ năm trước. 

6. Đầu tư

Trong 6 tháng đầu năm 2024, thành phố Hải Phòng tiếp tục là địa phương bứt phá mạnh mẽ trong thu hút vốn đầu tư, nhiều dự án được đăng ký đầu tư mới, mở rộng với số vốn hơn 1,1 tỷ USD, đây là động lực quan trọng góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của thành phố. Vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn  theo giá hiện hành ước đạt 90,53 nghìn tỷ đồng, tăng 10,28% so với cùng kỳ năm trước, nhiều dự án khởi công mới đã hoàn thành thủ tục đầu tư, đi vào triển khai; các dự án lớn, công trình trọng điểm được đẩy mạnh tiến độ thực hiện trong quý II năm 2024. 
Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trên địa bàn thành phố trong 6 tháng đầu năm 2024 ước đạt 90.530,5 tỷ đồng, tăng 10,28% so với cùng kỳ, trong đó, khu vực vốn nhà nước có mức tăng cao nhất, tăng 11,68%, chiếm cơ cấu 11,03%; khu vực ngoài nhà nước tăng 10,80% so với cùng kỳ, chiếm cơ cấu 33,36%; khu vực vốn đầu tư nước ngoài tăng 9,70%, đây là khu vực có đóng góp nhiều nhất trong mức tăng trưởng chung với cơ cấu chiếm 55,61%.  
Vốn đầu tư khu vực Nhà nước ước 6 tháng đầu năm 2024 ước đạt 9.983,5 tỷ đồng, tăng 11,68% so với cùng kỳ.
Vốn đầu tư khu vực ngoài nhà nước ước 6 tháng năm 2024 đạt 30.200,2 tỷ đồng, tăng 10,80% so với cùng kỳ. 
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chiếm tỷ trọng trên 50% tổng vốn, tính chung 6 tháng đầu năm 2024 ước đạt 50.346,8 tỷ đồng, tăng 9,70% so với cùng kỳ. 
* Tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngoài
Tính đến ngày 20/6/2024 Hải Phòng có 970 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư 30,47 tỷ USD.Trong đó, trong khu công nghiệp, khu kinh tế: 561 dự án, vốn đầu tư 26,78 tỷ USD; ngoài khu công nghiệp, khu kinh tế: 409 dự án, vốn đầu tư 3,69 tỷ USD.
Tổng thu hút vốn đầu tư nước ngoài trên toàn thành phố tính từ đầu năm đến ngày 20/6/2024 bao gồm vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh tăng và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 1.117,71 triệu USD
Cũng từ đầu năm đến 20/6/2024, có 19 dự án thu hồi/chấm dứt hoạt động, trong đó có 8 dự án nằm trong khu công nghiệp, 11 dự án ngoài khu công nghiệp.

7. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)

Trong 6 tháng đầu năm 2024, giá các mặt hàng lương thực, thực phẩm thiết yếu trên địa bàn thành phố ổn định. Tại các chợ, siêu thị và các cửa hàng trên địa bàn thành phố, hàng hóa dồi dào, bảo đảm phục vụ nhu cầu tiêu dùng của người dân. 
Tính chung 6 tháng đầu năm 2024, CPI tăng 3,34% so với cùng kỳ. So với tháng trước, CPI thành phố Hải Phòng tháng 6/2024 tăng 0,28% (khu vực thành thị tăng 0,37%; khu vực nông thôn tăng 0,16%). Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 07 nhóm có chỉ số giá tăng, 03 nhóm có chỉ số giá giảm, 01 nhóm có chỉ số giá không đổi so với tháng trước.
So với tháng 12/2023, CPI tháng 6/2024 tăng 1,49%, trong 11 nhóm hàng tiêu dùng chính có 9 nhóm hàng tăng giá và 2 nhóm giảm giá.
So cùng kỳ năm trước, CPI tháng 06/2024 tăng 3,64%, trong 11 nhóm hàng tiêu dùng chính có 9 nhóm hàng tăng giá.
Chỉ số giá tiêu dùng bình quân quý II năm 2024 tăng 3,31% so với cùng kỳ.
Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 6 tháng năm 2024 tăng 3,34% so với cùng kỳ.
- Chỉ số giá vàng tháng 6/2024 giảm 0,54% so với tháng trước, tăng 21,48% so với tháng 12/2023 và tăng 33,91% so với cùng kỳ. Bình quân 6 tháng đầu năm 2024, giá vàng trong nước tăng 26,46% so với cùng kỳ năm trước.
- Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 6/2024 giảm 0,02% so với tháng trước, tăng 3,99% so với tháng 12/2023 và tăng 7,47% so với cùng tháng năm trước. Tỷ giá USD/VND bình quân tháng 6/2024 dao động ở mức 25.462 đồng/USD, giảm 6,21 đồng/USD. Bình quân 6 tháng đầu năm 2024, chỉ số giá đô la Mỹ trong nước tăng 5,49% so với cùng kỳ.

8. Một số vấn đề xã hội

Trong 6 tháng năm 2024, tăng trưởng kinh tế thành phố duy trì được tốc độ trong nhóm các địa phương dẫn đầu cả nước, là nguồn lực cơ bản để thành phố đầu tư phát triển, chăm lo an sinh xã hội; mức sống của các gia đình chính sách, người có công ngày càng được nâng cao; công tác giải quyết chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đảm bảo đầy đủ, kịp thời, qua đó đã góp phần hỗ trợ, ổn định cuộc sống của nhân dân và người lao động. 
a) Lao động việc làm
Trong 6 tháng đầu năm 2024, ước giải quyết việc làm được 31.360 lượt lao động, bằng 54,16% kế hoạch năm và bằng 101,36% so với cùng kỳ năm 2023. Ước tổ chức 33 phiên giao dịch việc làm với sự tham gia tuyển dụng của trên 590 lượt doanh nghiệp tham gia với nhu cầu tuyển dụng khoảng 89.010 lượt lao động; cung lao động tại Sàn khoảng 49.610 lượt người, đáp ứng được 55,74% nhu cầu tuyển dụng. Ước cấp mới 1.940 giấy phép lao động, cấp lại 85 giấy phép lao động, gia hạn 460 giấy phép lao động, xác nhận không thuộc diện cấp 25 giấy phép lao động cho người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam. 
 b) Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội
Trong 6 tháng đầu năm 2024, tổ chức quản lý, cai nghiện ma túy tập trung tại các Cơ sở cai nghiện ma túy cho 1.959 lượt người, bằng 155,3% so với cùng kỳ năm trước 1.959/1.261). Điều trị Methadone toàn thành phố (16 cơ sở) cho 3.564 người, trong đó 05 cơ sở thuộc ngành Lao động - Thương binh và Xã hội điều trị cho 1.223 người, bằng 91,7% so với cùng kỳ năm trước. Cai nghiện tại gia đình và cộng đồng cho 133 người, bằng 79,2% so với cùng kỳ năm trước.
c) Giáo dục, y tế, văn hóa và thể thao
Công tác giáo dục: Trong tháng 6/2024, thành phố đã tổ chức thành công kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT năm học 2024-2025. Tại kỳ thi tuyển sinh vào Lớp 10 công lập năm nay, Sở Giáo dục và Đào tạo đã thành lập 44 Hội đồng thi đại trà với 1.062 phòng thi, đồng thời huy động khoảng 3.150 cán bộ giáo viên tham gia coi thi, với sự tham dự của gần 25.700 thí sinh. 
Hoàn thành việc đăng ký thông tin dự thi tốt nghiệp THPT năm 2024; chuẩn bị tốt cho Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2024 diễn ra từ ngày 26-29/6/2024.
Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Trong tháng 6/2024, tiến hành kiểm tra 15 cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống đối với các bếp ăn tập thể, nhà ăn, căng tin ăn uống và các cơ sở kinh doanh suất ăn sẵn năm 2024 trên địa bàn thành phố Hải Phòng. Kiểm tra đột xuất 03 cơ sở theo đơn thư phản ánh, kết quả 03 cơ sở không đạt yêu cầu. Trong đó, đề nghị xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm đối với 01 cơ sở không đạt, mức xử phạt là 25 triệu đồng; 01 cơ sở dự kiến xử phạt 12 triệu đồng; 01 cơ sở đang xác minh, xử lý. 
Công tác phòng chống HIV/AIDS: Số người nhiễm HIV đang còn sống đến thời điểm báo cáo là 6.433 trường hợp; Số người nhiễm HIV tử vong lũy tích là 5.463 trường hợp. Hiện tại điều trị ARV cho 5.488 người; điều trị PreP cho 1.374 người. 
Tổng số cơ sở điều trị Methadone 16 cơ sở tổng số bệnh nhân, điều trị 3.551 người, đạt 89% chỉ tiêu được giao, số bệnh nhân đạt liều duy trì 95%. Ngành Y tế điều trị cho 2.486 bệnh nhân đạt 70%. Cấp phát thuốc Methadone nhiều ngày cho 1.060 bệnh nhân tại 12 cơ sở điều trị.
Công tác văn hóa - thể thao: Trong 6 tháng đầu năm 2024, thành phố tổ chức Giải Cầu lông, Bóng bàn ngày Thể thao Việt Nam thành phố Hải Phòng năm 2024; Giải Vô địch Vật Tự do - Vật Dân tộc (mở rộng) Cúp Báo Hải Phòng lần thứ 31 năm 2024; Ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân thành phố Hải Phòng năm 2024. Phối hợp tổ chức giải vật dân tộc Vương triều Mạc 2024; Giải Thể thao người khuyết tật thành phố năm 2024; tổ chức thành công Lễ hội Hoa Phượng Đỏ - Hải Phòng 2024 các giải đấu và các chương trình biểu diễn thể văn hóa, thao hưởng ứng Lễ hội.
d) Tai nạn giao thông
Trong 6 tháng đầu năm 2024, trên địa bàn thành phố đã xảy ra 292 vụ tai nạn giao thông đường bộ, 04 vụ tai nạn giao thông đường sắt và 01 vụ tai nạn giao thông đường thủy. Các vụ tai nạn giao thông làm chết 128 người và bị thương 207 người. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông tăng 59 vụ (tương ứng tăng 24,79%); số người chết tăng 02 người (tương ứng tăng 1,59%) và số người bị thương tăng 52 người (tương ứng tăng 33,55%).
e) Thiệt hại do thiên tai, bảo vệ môi trường và phòng chống cháy nổ
Trong 6 tháng đầu năm 2024, trên địa bàn thành phố đã xảy ra 121 vụ cháy, tăng 87 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết là 04 người, giảm 01 người so với cùng kỳ năm trước và bị thương 01 người, bằng cùng kỳ năm trước; nguyên nhân các vụ cháy chủ yếu do tình trạng bất cẩn trong cách sử dụng các thiết bị có nguy cơ cháy, nổ cao tại một số nhà dân và cơ quan, doanh nghiệp; một số vụ cháy thảm thực bì rừng; các vụ cháy khác đang trong quá trình điều tra, xác định giá trị thiệt hại về tài sản. Trong thời gian tới, thành phố tiếp tục chú trọng tăng cường phối hợp liên ngành để kiểm tra công tác phòng cháy chữa cháy tại các địa bàn, cơ sở trọng điểm dễ xảy ra cháy nổ, xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm quy định về phòng cháy chữa cháy./.
 

Tác giả: CTK Hải Phòng

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây