Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 10, 10 tháng năm 2023 thành phố Hải Phòng

Thứ sáu - 27/10/2023 04:09

I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ

1. Hoạt động tài chính, ngân hàng

1.1 Tài chính

Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn thành phố tháng 10 năm 2023 ước đạt 9.138,5 tỷ đồng, bằng 95,59% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: thu nội địa đạt 4.236,8 tỷ đồng, bằng 114,57% so với cùng kỳ năm trước; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 4.767,1 tỷ đồng, bằng 79,11% so với cùng kỳ năm trước. Ước 10 tháng/2023 thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn thành phố đạt 74.512,5 tỷ đồng, đạt 63,99% Dự toán Hội đồng nhân nhân thành phố giao và bằng 84,39% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: thu nội địa đạt 26.050,2 tỷ đồng, đạt 61,29% Dự toán Hội đồng nhân dân thành phố giao và bằng 85,59% so với cùng kỳ năm trước; thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu ước đạt 46.723,3 tỷ đồng, đạt 66,84% Dự toán Hội đồng nhân dân thành phố và bằng 82,51% so với cùng kỳ năm trước.

Tổng chi ngân sách địa phương tháng 10 năm 2023 ước đạt 1.990,4 tỷ đồng, bằng 119,59% so với cùng kỳ năm trước. Ước 10 tháng/2023 tổng chi ngân sách địa phương đạt 22.638 tỷ đồng, đạt 57,23% Dự toán Hội đồng nhân dân thành phố giao và bằng 121,24% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Tổng chi đầu tư phát triển đạt 11.582,4 tỷ đồng, đạt 52,61% Dự toán Hội đồng nhân dân thành phố giao và bằng 135,82% so với cùng kỳ năm trước; chi thường xuyên đạt 10.431,3 tỷ đồng, đạt 71,81% Dự toán Hội đồng nhân dân thành phố giao và bằng 110,58% so với cùng kỳ năm trước. 

1.2. Ngân hàng

* Công tác huy động vốn

Tổng nguồn vốn huy động trên địa bàn ước thực hiện đến 31/10/2023 đạt 317.950 tỷ đồng, tăng 16,03% so với cùng kỳ năm trước. 

* Công tác tín dụng

Tổng dư nợ cho vay đến 31/10/2023 ước đạt 194.065 tỷ đồng, tăng 9,84% so với cùng kỳ năm trước. 

2. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)

Giá xăng, dầu giảm theo giá nguyên liệu thế giới; nhu cầu sử dụng điện, nước giảm; giá thịt lợn giảm là những nguyên nhân chủ yếu làm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 10/2023 giảm 0,03% so với tháng trước; tăng 3,82% so với tháng 12/2021 và tăng 3,76% so với cùng kỳ năm trước. 

Bình quân 10 tháng năm 2023, CPI tăng 3,56% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng 3,39% của 10 tháng năm 2022.

So với tháng trước, CPI thành phố Hải Phòng tháng 10/2023 giảm 0,03% (khu vực thành thị tăng 0,01%; khu vực nông thôn giảm 0,08%). Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 06 nhóm có chỉ số giá giảm, 04 nhóm giá tăng so với tháng trước. 

So với cùng kỳ năm trước, CPI tháng 10/2023 tăng 3,76%. Trong 11 nhóm hàng tiêu dùng chính có 09 nhóm tăng giá và 02 nhóm giảm giá.

So với tháng 12/2022, CPI tháng 10/2023 tăng 3,82%, trong 11 nhóm hàng tiêu dùng chính có 09 nhóm hàng tăng giá.

Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 10 tháng năm 2023 tăng 3,56% so với cùng kỳ năm trước.

Một số nguyên nhân làm tăng CPI 10 tháng năm 2023

- Dịch vụ du lịch tăng 13,66% so với cùng kỳ, làm CPI chung tăng 0,14 điểm phần trăm do nhu cầu du lịch trong nước và ngoài nước của người dân tăng.

- Dịch vụ sửa chữa nhà ở tăng 12,24% do giá nhân công tăng;

- Giá dịch vụ giáo dục tăng 6,08% góp phần làm CPI chung tăng 0,34 điểm phần trăm do một số trường tăng học phí năm học 2023-2024.

- Giá thực phẩm tăng công với nhu cầu ăn uống tại các nhà hàng quán ăn tăng đã làm cho giá dịch vụ ăn uống ngoài gia đình tăng 5,54%, góp phần làm CPI chung tăng 0,48 điểm phần trăm.

- Giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 4,8% do giá sắt, thép, xi măng tăng theo giá nguyên liệu đầu vào làm CPI chung tăng 0,09 điểm phần trăm;

- Nhu cầu về gạo của các nước trên thế giới tăng trong bối cảnh một số nước có chính sách hạn chế xuất khẩu lương thực đã tác động đến giá gạo trong nước. Theo đó, giá gạo tăng 4,31% làm CPI chung tăng 0,09 điểm phần tămg

- Giá điện sinh hoạt tăng 2,4% do nhu cầu sử dụng tăng và do giá bán lẻ điện bình quân tăng 3%.

Một số nguyên nhân làm giảm CPI 10 tháng năm 2023

- Từ đầu năm đến nay, giá xăng dầu trong nước điều chỉnh 30 đợt, làm cho giá xăng bình quân giảm 12,96% và giá dầu diezel giảm 13,36%, tác động CPI chung giảm 0,4 điểm phần trăm;

- Giá gas trong nước từ đầu năm đến nay giảm 7,5% so với cùng kỳ, tác động làm CPI chung giảm 0,08 điểm phần trăm;

- Giá một số thiết bị đồ dùng trong gia đình giảm 4,35% so với cùng kỳ, tác động làm CPI chung giảm 0,08 điểm phần trăm.

* Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ:

- Chỉ số giá vàng tháng 10/2023 tăng 0,63% so với tháng trước, tăng 7,06% so với tháng 12/2022 và tăng 10,16% so với cùng tháng năm trước. Giá vàng bình quân tháng 10/2023 dao động ở mức 5,77 triệu đồng/chỉ.

- Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 10/2023 tăng 1,15% so với tháng trước, tăng 1,6% so với tháng 12/2022 và tăng 1,87% so với cùng tháng năm trước. Tỷ giá USD/VND bình quân tháng 10/2023 dao động ở mức 24.632 đồng/USD, tăng 280,6 đồng/USD. Bình quân 10 tháng đầu năm 2023, chỉ số giá đô la Mỹ trong nước tăng 2,46%.

3. Đầu tư

Tháng 10/2023, tình hình thực hiện vốn đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tiếp tục được tập trung đẩy mạnh thực hiện. Các cấp, các ngành phối hợp cùng các địa phương chủ động tháo gỡ vướng mắc, khó khăn trong công tác giải phóng mặt bằng, các dự án trọng điểm được quan tâm đầu tư, đôn đốc đẩy nhanh tiến độ. Vốn đầu tư thực hiện 10 tháng đầu năm 2023 ước tăng 36,64% so với cùng kỳ năm trước và đạt 69,52% kế hoạch năm.

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý tháng Mười ước đạt 2.573,8 tỷ đồng, tăng 13,43% (tương ứng tăng 304,8 tỷ đồng) so với cùng kỳ năm 2022. Chia ra: vốn ngân sách nhà nước cấp thành phố ước đạt 1.667,3 tỷ đồng, tăng 17,93%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước đạt 756,1 tỷ đồng, tăng 7,21%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 150,4 tỷ đồng, tăng 0,27% so với cùng kỳ năm 2022. 

Tính chung 10 tháng đầu năm 2023, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 15.039,2 tỷ đồng, tăng 36,64% (tương ứng với 4.033,1 tỷ đồng) so với cùng kỳ năm 2022. Chia ra: vốn ngân sách nhà nước cấp thành phố ước đạt 10.634,8 tỷ đồng, tăng 46,93% (tương ứng khoảng 3.696,9 tỷ đồng); vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước đạt 3.632,8 tỷ đồng, tăng 17,57% (tương ứng khoảng 542,8 tỷ đồng); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 771,6 tỷ đồng, tăng 13,76% (tương ứng khoảng 93,3 tỷ đồng) so với cùng kỳ năm 2022. 

* Tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngoài

Tính đến 20/10/2023 Hải Phòng có 904 dự án đầu tư có vốn đầu tư nước ngoài còn hiệu lực với tổng số vốn đầu tư đăng ký 29.383,15 triệu USD.

Tổng thu hút vốn đầu tư nước ngoài trên toàn thành phố tính từ đầu năm đến 20/10/2023 đạt 3.063,89 triệu USD, trong đó:

Cấp mới 87 dự án với số vốn cấp mới là 1.128,15 triệu USD. Cấp mới trong khu công nghiệp, khu kinh tế (KCN, KKT) 52 dự án, đạt 1.055,4 triệu USD, (chiếm 95,55%); cấp mới ngoài KCN, KKT 35 dự án, đạt 72,75 triệu USD (chiếm 6,45%).  

Điều chỉnh tăng vốn đầu tư 45 dự án với số vốn đầu tư tăng thêm 1.922,53 triệu USD. Trong đó, trong KCN, KKT 35 dự án, vốn đầu tư tăng 1.856,43 triệu USD; ngoài KCN, KKT có 10 dự án, vốn đầu tư tăng là 66,09 triệu USD. 

Thu hút thông qua hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp: 24 lượt, số vốn đầu tư đăng ký: 13,21 triệu USD. Trong đó, trong KCN, KKT 02 lượt nhà đầu tư, vốn đầu tư đăng ký 2,89 triệu USD; ngoài KCN, KKT 22 lượt nhà đầu tư, vốn đầu tư đăng ký 10,32 triệu USD.

Tính từ đầu năm đến 20/10/2023 có 33 dự án thu hồi/chấm dứt hoạt động, trong đó có 10 dự án nằm trong khu công nghiệp và 23 dự án nằm ngoài khu công nghiệp.

4. Sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản

Sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản trong tháng phát triển ổn định. Thời tiết thuận lợi cho sự phát triển và sinh trưởng của cây trồng và đàn vật nuôi, sản xuất thủy sản tăng khá; công tác phòng chống dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi tiếp tục được triển khai trên toàn thành phố.

4.1. Nông nghiệp

* Trồng trọt

- Sản xuất vụ mùa

Vụ Mùa năm 2023 tình hình thời tiết tương đối thuận lợi cho sự phát triển, sinh trưởng của cây trồng. Các mô hình sản xuất lúa theo hướng hữu cơ và ứng dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác lúa cải tiến tiếp tục được ngành nông nghiệp đưa vào triển khai thực hiện đã góp phần giảm thiểu sử dụng các loại phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật hóa học nhằm bảo vệ và phát triển bền vững đất trồng lúa trên địa bàn thành phố. 

Tính đến trung tuần tháng 10, tổng diện tích cây hàng năm đã thu hoạch ước đạt 13.210,7 ha, bằng 38,48% so với vụ Mùa năm trước. Trong đó: Diện tích lúa đã thu hoạch ước đạt 7.752 ha, bằng 26,91% so với vụ Mùa năm trước (chủ yếu là những diện tích lúa Mùa sớm hoặc được gieo cấy trên những chân ruộng trồng cây vụ Đông); diện tích cây rau các loại đã thu hoạch ước đạt 3.484,7 ha, bằng 88,25%.

- Sản xuất vụ Đông 

Tính đến trung tuần tháng 10, diện tích cây vụ Đông toàn thành phố đã gieo trồng ước đạt 1.095.2 ha, bằng 16,73% so với vụ Đông năm trước. Trong đó: Diện tích cây ngô ước 55 ha, khoai lang 15,8 ha, ớt cay 96,6 ha, rau các loại 525,3 ha,... Sau khi diện tích lúa vụ Mùa được thu hoạch các địa phương sẽ chủ động công tác làm đất, đẩy mạnh mở rộng diện tích cây trồng vụ đông đảm bảo đúng tiến độ sản xuất. 

* Chăn nuôi 

Chăn nuôi tháng 10/2023 nhìn chung ổn định, không có dịch bệnh xảy ra trên đàn vật nuôi. Đàn trâu, bò vẫn có xu hướng giảm do diện tích chăn nuôi thả bị thu hẹp, thời gian chăn nuôi kéo dài, hiệu quả kinh tế không cao. Tổng đàn trâu ước đạt 4,2 nghìn con, giảm 3,79% so với cùng kỳ năm trước; đàn bò ước đạt 7,3 nghìn con, giảm 5,02%.

Tổng đàn lợn phát triển ổn định, mặc dù giá thịt lợn đã tăng so với những tháng đầu năm nhưng người chăn nuôi vẫn chưa tái đàn nhiều do lo ngại dịch tả lợn Châu Phi sẽ bùng phát trở lại. Tổng đàn lợn toàn thành ước đạt 146,5 nghìn con, giảm 3,11% so với cùng kỳ năm trước. Tổng đàn gia cầm ước đạt 8.878,6 nghìn con, giảm 0,29% so với cùng kỳ năm trước, trong đó đàn gà đạt 6.960,9 nghìn con, giảm 0,17%.

Giá các loại con giống vẫn giữ ổn định so với tháng trước; giá thức ăn chăn nuôi ổn định so với tháng trước và dần hạ nhiệt là cơ sở giúp cho các doanh nghiệp cũng như hộ chăn nuôi tiếp tục tái đàn, phát triển chăn nuôi trong thời gian tới.

Giá thịt lợn hơi lại có xu hướng giảm so với tháng trước dao động quanh mức 55,98 nghìn đồng/kg, giảm 4,9% so với cùng thời điểm tháng trước. Giá sản phẩm gia cầm các loại ổn định so với tháng trước và giảm nhẹ so với cùng kỳ năm trước. 

4.2. Lâm nghiệp

Ước tháng 10/2023, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 78,1 m3, bằng 99,61% so với cùng kỳ năm trước, sản lượng củi khai thác đạt 2.990,7 ste, bằng 96,91% (sản lượng gỗ củi chủ yếu được khai thác và thu nhặt từ cây lâm nghiệp trồng phân tán).

Ước 10 tháng/2023, tổng sản lượng gỗ khai thác đạt 1.038,5 m3, bằng 98,46% so với cùng kỳ năm trước, sản lượng củi khai thác đạt 30.074 ste, bằng 97,09%. 

4.3. Thủy sản

Sản lượng nuôi trồng và khai thác thủy sản tháng 10/2023 ước đạt 15.674,2 tấn, tăng 1,54% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng/2023, sản lượng nuôi trồng và khai thác thủy sản ước đạt 162.453,8 tấn, tăng 1,9% so với cùng kỳ năm trước.

* Nuôi trồng

Diện tích nuôi trồng thủy sản tháng 10/2023 ước đạt 6.727,2 ha, tăng 1,2% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng/2023, diện tích nuôi trồng thủy sản ước đạt 11.502,4 ha, tăng 1,23% so với cùng kỳ năm trước. 

Sản lượng nuôi trồng thủy sản thu hoạch tháng 10/2023 ước đạt 6.496,5 tấn, tăng 1,23% so với cùng kỳ năm trước. Ước 10 tháng/2023, sản lượng nuôi trồng thủy sản thu hoạch đạt 63.300,5 tấn, tăng 3,19%, chia ra: cá các loại đạt 42.114,6 tấn, tăng 3,22%; tôm các loại đạt 5.887,9 tấn, tăng 3,95%; thủy sản khác đạt 15.298 tấn, tăng 2,82%.

* Khai thác

Sản lượng khai thác thủy sản tháng 10/2023 ước đạt 9.177,7 tấn, tăng 1,77% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng thủy sản khai thác 10 tháng/năm 2023 ước đạt 99.153,3 tấn, tăng 1,09% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: cá các loại đạt 61.350,7 tấn, tăng 0,48%; tôm các loại đạt 7.721 tấn, tăng 0,64%; thủy sản khác đạt 30.081,6 tấn, tăng 2,47%.

5. Sản xuất công nghiệp

Tình hình sản xuất công nghiệp các tháng cuối năm 2023 trên địa bàn thành phố có xu hướng tăng trưởng tích cực hơn từ giữa quý III, duy trì với mức tăng của tháng sau cao hơn tháng trước. Một số ngành sản xuất trọng điểm tăng cao như sản xuất sản phẩm điện tử, sản xuất xe có động cơ, đóng tàu và cấu kiện nổi. Bên cạnh đó, một số doanh nghiệp đã đưa vào sản xuất đại trà các sản phẩm mới; mở rộng quy mô, gia tăng năng lực sản suất. Tính chung 10 tháng năm 2023, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp ước tính tăng 13,01% so với cùng kỳ năm trước .

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 10/2023 ước tính tăng 15,48% so với cùng kỳ năm trước và tăng 13,99% so với tháng 9/2023. Tính chung 10 tháng đầu năm 2023, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 13,01% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, các ngành kinh tế cấp 1 đều tăng trưởng dương: ngành khai khoáng tăng 45,23%, đóng góp 0,09 điểm phần trăm; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 13,52%, đóng góp 12,67 điểm phần trăm; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 2,35%, đóng góp 0,17 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải tăng 7,61%, đóng góp 0,08 điểm phần trăm vào mức tăng chung.

Trong 10 tháng đầu năm, một số ngành công nghiệp trọng điểm tăng trưởng cao so với cùng kỳ như: đóng tàu và cấu kiện nổi tăng 80,86%; sản xuất máy vi tính và thiết bị ngoại vi của máy vi tính tăng 79,10%; sản xuất xe có động cơ tăng 69,55%; sản xuất đồ chơi, trò chơi tăng 58,79%; sản xuất gỗ dán, gỗ lạng, ván ép tăng 45,19%; sản xuất bột giấy, giấy và bìa tăng 39,80%; sản xuất thiết bị truyền thông tăng 37,92%; sản xuất linh kiện điện tử tăng 35,83%;...

Ngược lại, một số ngành có chỉ số sản xuất giảm như: sản xuất pin và ắc quy giảm 69,57%; sản xuất sản phẩm thuốc lá giảm 42,87%; sản xuất máy nông nghiệp và lâm nghiệp giảm 33,7%; sản xuất mỹ phẩm, xà phòng, chất tẩy rửa và chế phẩm vệ sinh giảm 29,98%; sản xuất sắt thép gang giảm 29,61%; sản xuất máy móc và thiết bị văn phòng giảm 28,33%; sản xuất hóa chất cơ bản giảm 26,59%; sản xuất plastic và cao su tổng hợp dạng nguyên sinh giảm 24,64%;...

* Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 10/2023 ước tăng 8,43% so với tháng trước và tăng 9,98% so với cùng kỳ năm trước; cộng dồn 10 tháng đầu năm 2023, chỉ số tiêu thụ tăng 5,62%. Trong đó, một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao như: sản xuất phân bón và hợp chất ni tơ tăng 55,26%; sản xuất đồ chơi, trò chơi tăng 43,66%; sản xuất xe có động cơ tăng 35,29%; sản xuất sản phẩm điện tử dân dụng tăng 29,83%; sản xuất đồ điện dân dụng tăng 21,44%;...

Một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm như: sản xuất giấy nhăn, bìa nhăn, bao bì từ giấy và bìa giảm 57,92%; sản xuất đồ gỗ xây dựng giảm 35,05%; sản xuất sắt thép gang giảm 32,63%; sản xuất giày dép giảm 26,98%; sản xuất máy móc và thiết bị văn phòng giảm 29%; sản xuất giường tủ, bàn ghế giảm 21,77%; may trang phục giảm 15,83%;...

* Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 31/10/2023 dự kiến tăng 0,59% so với tháng trước và tăng 29,29% so với cùng thời điểm năm trước. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao so cùng kỳ: sản xuất gỗ dán, gỗ lạng, ván ép tăng 397,96%; chế biến và bảo quản thủy sản tăng 178,61%; sản xuất sản phẩm điện tử dân dụng tăng 170,30%; sản xuất xe có động cơ tăng 134,03%; sản xuất săm, lốp cao su, đắp và tái chế lốp cao su tăng 90,40%; sản xuất giày dép tăng 65,10%;...

Bên cạnh đó có một số ngành có chỉ số tồn kho giảm so với cùng kỳ như: sản xuất sản phẩm thuốc lá giảm 94,89%; sản xuất bia và mạch nha giảm 92,50%; sản xuất mô tơ máy phát giảm 83,31%; sản xuất phân bón và hợp chất ni tơ giảm 78,38%; sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm và thủy sản giảm 65,53%; sản xuất sản phẩm từ plastic giảm 38,53%; sản xuất máy móc và thiết bị văn phòng giảm 29,75%;...

* Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu 10 tháng năm 2023 dự kiến tăng cao so với cùng kỳ năm trước chủ yếu tập trung vào nhóm các sản phẩm công nghiệp công nghệ cao, sản phẩm điện tử như: tủ lạnh gia đình sản xuất đạt 384,8 nghìn chiếc, tăng 657,18%; thiết bị ngoại vi của máy vi tính (chuột, bút quang, bi xoay) đạt 15.820,8 nghìn cái, tăng 294,90%; máy chơi game đạt 881,6 nghìn cái, tăng 98,99% so với cùng kỳ;...

Một số sản phẩm chủ yếu giảm so với cùng kỳ: các loại ắc quy điện đạt 87,3 nghìn Kwh, giảm 69,57%; thuốc lá có đầu lọc sản xuất đạt 66,8 triệu bao, giảm 42,87%; màn hình tivi oled đạt 1,63 triệu chiếc, giảm 39,89%; máy cắt cỏ đạt 1.287,5 nghìn cái, giảm 33,70%; các loại nến cây đạt 70,8 triệu cây, giảm 22,65%...

* Số lao động làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/10/2023 dự kiến tăng 2,01% so với cùng thời điểm tháng 9/2023 và giảm 4,59% so với cùng thời điểm năm trước. Trong đó lao động khu vực doanh nghiệp nhà nước tăng 1,02%; lao động doanh nghiệp ngoài nhà nước giảm 10,64%; lao động doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giảm 2,95%.

Tại thời điểm trên, trong các ngành kinh tế cấp I chỉ số sử dụng lao động của ngành khai khoáng tăng 66,67% so với cùng thời điểm năm trước; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 4,77%; ngành sản xuất và phân phối điện giảm 1,77%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,93%.

6. Thương mại, dịch vụ

Tháng 10 năm 2023, hoạt động thương mại dịch vụ tiếp tục giữ đà tăng trưởng ổn định, công tác bình ổn giá và các hoạt động kích cầu thị trường đã phát huy hiệu quả. Dự kiến trong những tháng còn lại của năm 2023, nhu cầu mua sắm, đi lại của người dân tăng nên hoạt động thương mại dịch vụ sẽ có nhiều khởi sắc hơn.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tháng 10 năm 2023 ước đạt 16.960,1 tỷ đồng, giảm 0,03% so với tháng trước, tăng 13,82% so với cùng kỳ năm trước. Ước tính 10 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ đạt 163.486,9 tỷ đồng, tăng 13,63% so với cùng kỳ năm trước. 

- Hoạt động bán lẻ

Doanh thu tháng 10/2023 ước đạt 14.015,4 tỷ đồng, tăng 0,79% so với tháng trước, tăng 14,56% so với cùng kỳ. Trong đó hầu hết các nhóm ngành hàng đều có ước tính tăng so với tháng trước; cụ thể: 

Doanh thu ngành bán lẻ lương thực, thực phẩm tăng 0,48%; hàng may mặc tăng 1,75%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình tăng 0,81%; vật phẩm, văn hóa, giáo dục giảm 1,15%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 0,30%; ô tô con dưới 9 chỗ ngồi tăng 1,72%; phương tiện đi lại khác tăng 0,60%; xăng dầu các loại tăng 0,91%; nhiên liệu khác tăng 0,46%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 0,84%; hàng hóa khác tăng 1,61%, doanh thu dịch vụ sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác tăng 1,76%.

Tình hình hoạt động bán lẻ hàng hóa tháng 10 tiếp tục tăng trưởng ổn định, không có biến động lớn. Nguồn cung các mặt hàng lương thực, thực phẩm, đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình, hàng điện tử, điện lạnh, hàng may mặc, vật phẩm văn hóa giáo dục, xăng dầu, nhiên liệu… luôn được bảo đảm, giá cả ổn định, đáp ứng tốt nhu cầu phục vụ sản xuất, đời sống của người dân và doanh nghiệp.

Doanh thu hoạt động bán lẻ 10 tháng đầu năm 2023 ước đạt 135.205,5 tỷ đồng tăng 14,12% so với cùng kỳ, tăng ở hầu hết các ngành hàng. Trong đó: doanh thu ngành bán lẻ lương thực, thực phẩm tăng 14,12%; hàng may mặc tăng 14,16%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 14,04%; vật phẩm văn hóa giáo dục tăng 14,28%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 14,53%; ô tô con dưới 9 chỗ ngồi tăng 14,34%; phương tiện đi lại khác tăng 14,17%; xăng dầu các loại tăng 14,05%; nhiên liệu khác tăng 14,32%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 14,04%; hàng hóa khác tăng 14,10%; doanh thu dịch vụ sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác tăng 14,44%.

- Hoạt động dịch vụ 

Ước tính doanh thu một số ngành dịch vụ tháng 10 năm 2023 như sau: 

+ Doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 192,2 tỷ đồng, giảm 13,22% so với tháng trước và tăng 15,35% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng đầu năm 2023, doanh thu lưu trú đạt 1.954,3 tỷ đồng, tăng 13,41% so với cùng kỳ năm trước. 

+ Doanh thu dịch vụ ăn uống ước đạt 1.925,0 tỷ đồng, giảm 1,43% so với tháng trước và tăng 11,35% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng đầu năm, doanh thu ăn uống đạt 17.381,1 tỷ đồng, tăng 13,56% so với cùng kỳ năm trước. 

+ Doanh thu du lịch lữ hành ước đạt 12,4 tỷ đồng, giảm 21,76% so với tháng trước và tăng 4,09% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng đầu năm, doanh thu lữ hành ước đạt 230,1 tỷ đồng, tăng 47,35% so với cùng kỳ năm trước. 

+ Doanh thu dịch vụ khác ước đạt 815,1 tỷ đồng, giảm 6,13% so với tháng trước và tăng 7,36% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: một số ngành dịch vụ tăng so với kỳ năm trước: dịch vụ kinh doanh bất động sản tăng 6,03%; dịch vụ nghệ thuật, vui chơi giải trí tăng 2,09% và hoạt động dịch vụ khác tăng 5,60% so với cùng kỳ.

Tính chung 10 tháng năm 2023, doanh thu hoạt động dịch vụ khác ước đạt 8.715,9 tỷ đồng, tăng 6,15% so với cùng kỳ năm 2022.

7. Hoạt động lưu trú và lữ hành

Tổng lượt khách tháng 10 do các cơ sở lưu trú và lữ hành thành phố phục vụ ước đạt 601 nghìn lượt, giảm 13,25% so với tháng trước và tăng 9,87% so với cùng kỳ; trong đó khách quốc tế ước đạt 77,97 nghìn lượt, giảm 2,8% so với tháng trước và tăng 1,51% so với cùng tháng năm trước. 

Cộng dồn 10 tháng/2023, tổng lượt khách do các cơ sở lưu trú và lữ hành thành phố phục vụ ước đạt 6.845,9 nghìn lượt, tăng 13,44% so với cùng kỳ; trong đó khách quốc tế ước đạt 825 nghìn lượt, tăng 54,15% so với cùng kỳ năm trước. 

Đối với hoạt động lữ hành, tháng 10 lượt khách lữ hành của các cơ sở trên địa bàn thành phố phục vụ ước đạt 3,33 nghìn lượt giảm 35,13% so với tháng trước. Cộng dồn 10 tháng đầu năm 2023, lượt khách du lịch do các cơ sở lữ hành trên địa bàn thành phố phục vụ ước đạt 85,25 nghìn lượt tăng 16,20% so với cùng kỳ.

8. Giao thông vận tải

Nhìn chung, trong tháng 10 hoạt động vận tải trên địa bàn thành phố tiếp tục duy trì được đà tăng so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu hoạt động vận tải đường bộ và đường thủy tăng trưởng khả quan. Hoạt động kho bãi và dịch vụ vận tải đang ghi nhận đà tăng chậm lại so với các tháng trước đó, đạt mức tăng 2,86% so với cùng kỳ năm trước. 

Tổng doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và dịch vụ bưu chính, chuyển phát dự kiến tháng 10 đạt 10.226,0 tỷ đồng, tăng 6,44% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 10 tháng đầu năm đạt 97.746,2 tỷ đồng, tăng 14,11% so với 10 tháng cùng kỳ năm trước.

8.1. Vận tải hàng hoá

Khối lượng hàng hóa vận chuyển trong tháng 10 ước tính đạt 25,4 triệu tấn, tăng 0,88% so với tháng trước và tăng 8,20% so với tháng cùng kỳ năm trước; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước tính đạt 11.279,5 triệu tấn.km, tăng 2,29% so với tháng trước và tăng 14,15% so với tháng cùng kỳ năm trước; doanh thu ước tính đạt 4.972,2 tỷ đồng, tương ứng tăng 1,18% so tháng trước và tăng 8,32% so với tháng cùng kỳ năm trước.

Lũy kế 10 tháng đầu năm 2023, khối lượng hàng hóa vận chuyển đạt 241,3 triệu tấn, tăng 7,54%; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 101.335,8 triệu tấn.km, tăng 6,44%; doanh thu ước đạt 47.176,1 tỷ đồng, tăng 10,53% so với cùng kỳ năm trước.

8.2. Vận tải hành khách

Trong tháng 10, doanh thu ước tính đạt 332,9 tỷ đồng, tăng 0,84% so tháng trước và tăng 41,39% so với tháng cùng kỳ năm trước; số lượt hành khách vận chuyển ước đạt 6,4 triệu lượt hành khách, tương ứng tăng 1,02% so tháng trước và tăng 40,26% so với tháng cùng kỳ năm trước; số lượt hành khách luân chuyển ước đạt 273,6 triệu lượt hành khách.km, tương ứng tăng 1,24% so tháng trước và tăng 41,99% so với tháng cùng kỳ năm trước. 

Lũy kế 10 tháng đầu năm 2023, số lượt hành khách vận chuyển đạt 58,4 triệu lượt người, tăng 71,35%; số lượt hành khách luân chuyển đạt 2.532,8 triệu lượt người.km, tăng 80,86%; doanh thu ước đạt 3.086,8 tỷ đồng, tăng 73,63% so với 10 tháng cùng kỳ năm trước. 

8.3. Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải

Hoạt động dịch vụ hỗ trợ vận tải tiếp tục là mũi nhọn trong hoạt động vận tải của thành phố với điều kiện hạ tầng giao thông kết nối và cảng biển. Doanh thu hoạt động dịch vụ hỗ trợ vận tải (cảng, bốc xếp, đại lý vận tải,..) trong tháng 10/2023 ước tính đạt 4.898,1 tỷ đồng, tăng 4,61% so với tháng trước và tăng 2,86% so với tháng cùng kỳ năm trước; cộng dồn 10 tháng đầu năm ước đạt 47.273,4 tỷ đồng, tăng 15,25% so với 10 tháng cùng kỳ năm trước. 

8.4. Sân bay Cát Bi

Tháng 10 năm 2023, tổng doanh thu của Sân bay Cát Bi ước đạt 19,9 tỷ đồng, giảm 7,8% so với tháng trước; giảm 24,88% so với cùng tháng năm trước. Cộng dồn 10 tháng đầu năm, tổng doanh thu của Sân bay Cát Bi ước đạt 249,14 tỷ đồng, giảm 2,8% so với cùng kỳ.

Số lần máy bay hạ, cất cánh tháng 10 năm 2023 ước đạt 1.310 chuyến, tăng 16,34% so với tháng trước, giảm 16,77% so với cùng tháng năm trước. Tháng 10 có 60 chuyến bay ngoài nước. Cộng dồn 10 tháng đầu năm, số lần máy bay hạ, cất cánh ước đạt 14.197 chuyến, giảm 9,88% so với cùng kỳ.

Tổng số hành khách tháng 10 năm 2023 ước đạt 219,0 nghìn lượt người, tăng 14,43% so với tháng trước, giảm 9,86% so với cùng tháng năm trước. Cộng dồn 10 tháng đầu năm, tổng số hành khách vận chuyển ước đạt hơn 2.345,5 nghìn lượt người, giảm 6,44% so với cùng kỳ năm trước.

Tổng số hàng hóa tháng 10 năm 2023 ước đạt 1.120 tấn, giảm 9,68% so với tháng trước, tăng 1,45% so với cùng tháng năm trước. Cộng dồn 10 tháng đầu năm, tổng số hàng hóa ước đạt 12.823 tấn, tăng 35,36% so với cùng kỳ.

9. Hàng hoá thông qua cảng 

Sản lượng hàng hóa thông qua cảng dự kiến tháng 10 năm 2023 ước đạt 18,08 triệu TTQ, tăng 15,33% so với tháng trước và tăng 0,55% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể: 

- Khối cảng thuộc kinh tế Nhà nước ước tháng 10 năm 2023 đạt 4,7 triệu TTQ, tăng 5,31% so với tháng trước, giảm 0,15% so với cùng kỳ năm trước.

- Các cảng thuộc khu vực kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 13,38 triệu TTQ, tăng 19,33% so với tháng trước, tăng 0,8% so với cùng kỳ năm 2022.

Hàng hóa thông qua cảng biển trên địa bàn thành phố 10 tháng đầu năm 2023 đạt 130,94 triệu TTQ, giảm 0,2% so với cùng kỳ năm 2022 trong đó: Khối cảng thuộc kinh tế Nhà nước đạt 43,22 triệu TTQ giảm 9,3% so với cùng kỳ; Các cảng thuộc khu vực kinh tế ngoài nhà nước đạt 87,72 triệu TTQ, tăng 4,99% so với cùng kỳ năm trước.

* Doanh thu cảng biển 10 tháng đầu năm 2023 đạt 5.472,1 tỷ đồng, giảm 0,11% so với cùng kỳ năm 2022.

II. VĂN HÓA - XÃ HỘI

Trong tháng 10/2023, đời sống dân cư và công tác an sinh xã hội được chính quyền các cấp quan tâm, các chính sách an sinh xã hội được triển khai kịp thời, hiệu quả đảm bảo đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân.

1. Giải quyết việc làm, an sinh xã hội

* Công tác Lao động, việc làm

Tháng 10 năm 2023, Sàn giao dịch việc làm ước tổ chức 05 phiên giao dịch  với sự tham gia tuyển dụng của 90 lượt doanh nghiệp, nhu cầu tuyển dụng khoảng 12.330 lao động, cung lao động tại Sàn khoảng 9.930 lượt người; ước cấp mới 400 giấy phép lao động, cấp lại 80 giấy phép lao động, gia hạn 300 giấy phép lao động, xác nhận không thuộc diện cấp 10 giấy phép lao động cho người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam. Tiếp nhận và giải quyết 26 bộ hồ sơ đăng ký kiểm tra chất lượng sản phẩm hàng hóa gồm 11 bộ thiết bị nâng, 15 bộ thiết bị áp lực; tiếp nhận khai báo sử dụng máy, thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt là 29 bộ hồ sơ của 21 đơn vị, doanh nghiệp khai báo. Đã thực hiện thẩm định 18 hồ sơ nội quy lao động và ra thông báo thực hiện nội quy lao động cho 09 doanh nghiệp; đã tiếp nhận thỏa ước lao động tập thể của 12 doanh nghiệp. Trên địa bàn thành phố không xảy ra đình công, xảy ra 01vụ tai nạn lao động làm 01chết người (cùng kỳ năm 2022 không xảy ra vụ đình công nào, không xảy ra vụ tai nạn lao động làm chết người ).

Trong 10 tháng năm 2023, ước tổ chức 47 phiên giao dịch việc làm với sự tham gia tuyển dụng của 750 lượt doanh nghiệp tham gia với nhu cầu tuyển dụng là 86.600 lượt lao động; Cung lao động tại Sàn được 84.260 lượt người, đáp ứng được 97,3% nhu cầu tuyển dụng. Đăng kí bảo hiểm thất nghiệp ước là 20.610 người (tăng 31,31% so với cùng kỳ năm 2022), đã giải quyết chế độ bảo hiểm thất nghiệp 19.490 người (tăng 24,94% so với cùng kỳ năm 2022), với kinh phí khoảng 376,10 tỷ đồng (tăng 43,05% so với cùng kỳ năm 2022). Qua giải quyết chế độ thất nghiệp đã tư vấn, giới thiệu việc làm cho 20.610 người (tăng 31,31% so với cùng kỳ năm 2022).

Ước cấp mới 3.350 giấy phép lao động, cấp lại 275 giấy phép lao động, gia hạn 1.490 giấy phép lao động, xác nhận không thuộc diện cấp 30 giấy phép lao động cho người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam. 

Đến thời điểm báo cáo trên địa bàn thành phố xảy ra 03 cuộc đình công, ngừng việc tập thể, khoảng 282 lao động tham gia (cùng kỳ năm 2022 xảy ra 03 cuộc đình công, ngừng việc tập thể, khoảng 2.880 lao động tham gia); xảy ra 10 vụ tai nạn nghiêm trọng làm chết 11 người (giảm 03 vụ, 03 người chết so với cùng kỳ năm 2022).

* Công tác Giáo dục nghề nghiệp

Tháng 10 năm 2023, xây dựng hồ sơ Nghị quyết về cơ chế, chính sách “Đào tạo nghề trên địa bàn thành phố Hải Phòng đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành phố đến năm 2030” tại Tờ trình số 96/TTr-SLĐTBXH ngày 03/10/2023, Công văn số 4958/SLĐTBXH-GDNN ngày 05/10/2023. Báo cáo Ủy ban nhân dân thành phố, Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp góp ý Dự thảo Kế hoạch triển khai Quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp tại Công văn số 4769/SLĐTBXH-GDNN ngày 26/9/2023. Tham mưu Ủy ban nhân dân thành phố ban hành Văn bản chỉ đạo tổ chức các hoạt động hưởng ứng Ngày Kỹ năng lao động Việt Nam năm 2023 tại Tờ trình số 93/TTr-SLĐTBXH ngày 02/10/2023.

Trong 10 tháng năm 2023, tập trung tham mưu, xây dựng hồ sơ Nghị quyết về cơ chế, chính sách tăng cường đào tạo nghề trên địa bàn thành phố Hải Phòng đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành phố đến năm 2030. Chỉ đạo, hướng dẫn các cơ sở GDNN: thực hiện Nghị quyết số 165/NQ-CP của Chính phủ về học phí đối với các cơ sở giáo dục và đào tạo công lập năm học 2022-2023; tăng cường chỉ đạo, phối hợp tổ chức Kỳ thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học, giáo dục nghề nghiệp năm 2023; tổ chức Hội thao thể dục, thể thao, Hội thao giáo dục quốc phòng và an ninh cấp cơ sở; đăng ký tham gia Hội thao thể dục, thể thao, Hội thao giáo dục quốc phòng và an ninh cấp thành phố và toàn quốc.

* Công tác người có công

Tháng 10 năm 2023, giải quyết chế độ chính sách đối với 378 trường hợp, gồm: trợ cấp mai táng phí đối với 204 trường hợp; chế độ thờ cúng liệt sĩ: 99 trường hợp; Quyết định về việc hưởng thêm chế độ thương binh đồng thời là người hưởng chế độ mất sức lao động; thương binh đồng thời là bệnh binh: 21 trường hợp; Quyết định trợ cấp tuất hàng tháng đối với thân nhân người có công với cách mạng từ trần: 06 trường hợp; Quyết định giải quyết chế độ trợ cấp một lần đối với gia đình liệt sĩ báo tử lần đầu: 01 trường hợp; Đề nghị công nhận liệt sĩ theo Nghị định số 131/2021/NĐ-CP ngày 30/12/2021 của chính phủ: 47 trường hợp. Tiếp nhận, thẩm định để thực hiện chính sách và phục vụ công tác quản lý đối với 814 trường hợp. Quyết định về việc cấp giấy chứng nhận Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm Chất độc hoá học: 01 trường hợp.

Trong 10 tháng đầu năm 2023, giải quyết chế độ chính sách đối với 3.183 trường hợp, gồm: trợ cấp mai táng phí đối với 1.971 trường hợp; chế độ thờ cúng liệt sĩ: 712 trường hợp; Quyết định về việc hưởng thêm chế độ thương binh đồng thời là người hưởng chế độ mất sức lao động; thương binh đồng thời là bệnh binh: 358 trường hợp; Quyết định về việc phụ cấp hàng tháng và trợ cấp người phục vụ Bà Mẹ Việt Nam anh hùng: 02 trường hợp; Quyết định về việc trợ cấp một lần đối với đại diện thân nhân hoặc người thờ cúng Bà Mẹ được truy tặng danh hiệu Bà Mẹ Việt Nam anh Hùng: 09 trường hợp; Quyết định về việc trợ cấp hàng tháng đối với con liệt sĩ bị khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng: 04 trường hợp; Quyết định trợ cấp tuất hàng tháng đối với thân nhân người có công với cách mạng từ trần: 62 trường hợp; Quyết định điều chỉnh trợ cấp thương binh, bệnh binh: 09 trường hợp; Quyết định về việc phục hồi chế độ thương binh: 02 trường hợp; Quyết định hưởng lại chế độ đối với thân nhân liệt sĩ: 01 trường hợp; Quyết định khôi phục chế độ đối với con đẻ người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học: 01 trường hợp; Quyết định giải quyết chế độ trợ cấp một lần đối với gia đình liệt sĩ báo tử lần đầu: 01 trường hợp; Thủ tướng Chính phủ đã xác nhận liệt sĩ và cấp Bằng Tổ quốc ghi công đối với 04 liệt sĩ. Đề nghị công nhận liệt sĩ theo Nghị định số 131/2021/NĐ-CP ngày 30/12/2021 của chính phủ: 47 trường hợp. Tiếp nhận, thẩm định để thực hiện chính sách và phục vụ công tác quản lý đối với 16.907 trường hợp.

* Công tác giảm nghèo - Bảo trợ xã hội

Tháng 10 năm 2023, thực hiện Kế hoạch số 220/KH-UBND ngày 21/8/2023 của Ủy ban nhân dân thành phố về việc rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn thành phố năm 2023 theo chuẩn nghèo quốc gia áp dụng cho giai đoạn 2022 - 2025, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội đã tổ chức Hội nghị tập huấn rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn thành phố Hải Phòng năm 2023 theo chuẩn nghèo quốc gia trên địa bàn thành phố. Tổng số lượt người lang thang tập trung trong tháng là 34 lượt người lang thang (tăng 06 lượt so với cùng kỳ).

Trong 10 tháng năm 2023, tổng số đối tượng tại các cơ sở trợ giúp xã hội là 756 người (bằng 100,67% so với cùng kỳ). Tập trung người lang thang trên địa bàn thành phố đạt 300 lượt người (tăng 32 lượt người so với cùng kỳ). Sở Lao động - Thương binh và Xã hội đã thẩm định 418 hộ nghèo có nhu cầu xây mới, sửa chữa nhà ở theo Nghị quyết số 52/2019/NQ-HĐND ngày 09/12/2019 của Hội đồng nhân dân thành phố. 

* Công tác phòng, chống tệ nạn xã hội

Tháng 10 năm 2023, đã tổ chức tiếp nhận cai nghiện ma túy tập trung tại các Cơ sở cai nghiện ma túy cho 107 người. Cai nghiện tại gia đình và cộng đồng cho 33 người. Điều trị Methadone toàn thành phố 17 cơ sở cho 3.854 người, trong đó ngành Lao động - Thương binh và Xã hội đang quản lý 06 cơ sở điều trị cho 1.177 người. Đoàn kiểm tra liên ngành 178 thành phố đã tiến hành rà soát, nắm tình hình, kiểm tra 14 cơ sở kinh doanh dịch vụ: nhà nghỉ, khách sạn, karaoke, massage trên địa bàn thành phố...  

Trong 10 tháng năm 2023, tổ chức cai nghiện ma túy tập trung tại các cơ sở cai nghiện ma túy cho 1.691 lượt người, bằng 111,7% so với cùng kỳ năm trước (1.691/1.514), bằng 75,3% so với kế hoạch năm (1.691/2.245). Cai nghiện tại gia đình và cộng đồng cho 305 người, bằng 137,3% so với cùng kỳ năm trước (305/220), bằng 101,7% so với kế hoạch năm (305/300). Điều trị Methadone toàn thành phố (17 cơ sở) cho 3.854 người, trong đó 06 cơ sở thuộc ngành Lao động - Thương binh và Xã hội điều trị cho 1.438 người, bằng 100,7% so với cùng kỳ năm trước (1.438/1.428), bằng 115.97% so với kế hoạch năm (1.438/1.240). 

Tính đến thời điểm báo cáo, tỷ lệ người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý được điều trị, cai nghiện dưới mọi hình thức là 5.052, đạt 89,1% so với  tổng số người nghiện ma túy trên địa bàn thành phố được thống kê (5.052/5.670). Đoàn kiểm tra 178 thành phố đã tiến hành kiểm tra 87 cơ sở kinh doanh dịch vụ: nhà nghỉ, khách sạn, karaoke, massage, trong đó: 37 cơ sở kinh doanh dịch vụ trong kế hoạch đã được phê duyệt và tiến hành kiểm tra đột xuất 50 cơ sở kinh doanh dịch vụ. Qua kiểm tra, Đoàn đã lập biên bản chuyển thanh tra chuyên ngành xử phạt 02 cơ sở kinh doanh dịch vụ trên địa bàn quận Đồ Sơn với tổng số tiền là 7 triệu đồng nộp kho bạc Nhà nước. 

2. Giáo dục - Đào tạo

Trong tháng 10/2023, thành phố chỉ đạo các đơn vị giáo dục triển khai kế hoạch giáo dục năm học 2023- 2024, bảo đảm chất lượng giáo dục của từng cấp học, chương trình đào tạo; tăng cường hội nhập quốc tế; trọng tâm là thực hiện các nội dung hợp tác giữa thành phố với Đại sứ quán Hàn Quốc, Tập đoàn giáo dục KinderWorld (Singapore), kết luận cuộc làm việc của lãnh đạo thành phố với Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đại sứ Hàn Quốc.

Tham mưu UBND thành phố điều chỉnh, bổ sung một số nội dung tại Nghị  quyết số 02/2022/NQ-HĐND ngày 20/7/2022 của Hội đồng nhân dân thành phố quy định danh mục các khoản thu và mức thu, cơ chế quản lý thu chi đối với các  dịch vụ hỗ trợ hoạt động giáo dục, đào tạo đối với cơ sở giáo dục công lập trên địa bàn thành phố. Tiếp tục triển khai, thực hiện Nghị quyết số 21/NQ-HĐND ngày 08/12/2017 về Quy hoạch phát triển giáo dục phổ thông và mầm non thành phố Hải Phòng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. Phối hợp với Ủy ban nhân  dân các quận, huyện thực hiện sáp nhập các cơ sở giáo dục nhằm tinh gọn đội ngũ  cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên; góp phần nâng cao chất lượng GDĐT. Phối  hợp với các địa phương tăng cường trang thiết bị, cơ sở vật chất đảm bảo chất lượng giáo dục; xây dựng trường chuẩn quốc gia.

3. Y tế và An toàn vệ sinh thực phẩm 

*Công tác phòng chống dịch bệnh Covid-19 và dịch bệnh truyền nhiễm khác.

Trong tháng 10/2023, toàn thành phố ghi nhận 10 ca mắc. Tích lũy từ đầu năm 2023 đến thời điểm báo cáo toàn thành phố ghi nhận 5.791 ca mắc, không có ca tử vong; thành phố tiếp tục có các chỉ đạo tăng cường công tác phòng, chống dịch; chủ động công tác giám sát, theo dõi chặt chẽ tình hình dịch trên địa bàn không để xảy ra nguy cơ bùng dịch.

Thường xuyên cập nhật các thông tin về các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, mới nổi được ghi nhận gần đây, có nguy cơ xâm nhập vào nước ta để chủ động áp dụng các biện pháp giám sát, phối hợp với các đơn vị y tế khác xử lý ổ dịch không để bùng phát tại cộng đồng. Tham mưu Sở Y tế, UBND thành phố ban hành các văn bản chỉ đạo trong  công tác phòng chống dịch bệnh truyền nhiễm mới nổi và tái nổi năm 2023. Tăng cường công tác phòng chống các bệnh truyền nhiễm mùa hè thu: Tay chân miệng, Sốt xuất huyết, viêm não vi rút, tiêu chảy, cúm. Đẩy mạnh công tác giám sát các bệnh truyền nhiễm trong tiêm chủng để từng bước nâng cao số lượng và chất lượng các kênh giám sát tại các tuyến từ xã/phường, quận/huyện đến tuyến thành phố.

* Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm

Trong 10/2023, thành phố thực hiện Quyết định số 152/QĐ-ATTP ngày 02/10/2023 về việc kiểm  tra đột xuất việc bảo đảm an toàn thực phẩm đối với Công ty cổ phần thương mại dịch vụ dược phẩm Hoa Liên tại địa chỉ đường Trung Lực, phường Đằng Lâm, Quận Hải An, thành phố Hải Phòng.

Thực hiện Quyết định số 156/QĐ-ATTP ngày 09/10/2023 về việc Kiểm  tra việc bảo đảm an toàn thực phẩm an toàn thực phẩm trong sản xuất, kinh doanh  nước uống đóng chai, nước đá dùng liền đối với hộ kinh doanh.

* Công tác phòng chống HIV/AIDS

Trong tháng ghi nhận 06 ca nhiễm HIV mới; số bệnh nhân tử vong là 02 người; số người nhiễm HIV đang còn sống đến thời điểm báo cáo là 6.365 trường hợp; số người chết do AIDS lũy tích là 5.436 trường hợp; lũy tích số người chuyển sang AIDS là 6.372 trường hợp.

Tính đến thời điểm báo cáo, có 18 cơ sở điều trị Methadone, điều trị 3.863 người, đạt 84 % chỉ tiêu được giao, số bệnh nhân đạt liều duy trì 95%. Ngành Y tế điều trị cho 2.723 bệnh nhân đạt 70%.

4. Văn hóa - Thể thao 

Trong tháng 10/2023, thành phố tổ chức tốt các hoạt động văn hóa nghệ thuật, thể dục thể thao; thực hiện tốt công tác quản lý các hoạt động văn hóa, văn nghệ, kinh doanh dịch vụ văn hóa, chấn chỉnh hoạt động quảng cáo trên địa bàn. Tiếp tục thực hiện các Đề án chuyển đổi số: “Số hóa tài liệu di sản văn hóa và tài liệu quý tại Thư viện Khoa học tổng hợp thành phố Hải Phòng”; “Xây     dựng bộ tiêu chí về văn hóa số của người Hải Phòng văn minh, lịch sự trên môi trường số”. Hoàn thiện hồ sơ điều chỉnh và bổ sung Quy hoạch Quảng cáo ngoài trời thành phố Hải Phòng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.

* Về lĩnh vực văn hóa: 

Thường trực, triển khai kế hoạch phối hợp tổ chức Hội nghị đại biểu các nhà văn lão thành và Hội thảo “Xây dựng hệ giá trị văn hoá và các ngành công nghiệp văn hoá thành phố Hải Phòng”; Phối tổ chức chương trình Cầu truyền hình Chung kết đường lên đỉnh Olympia điểm cầu thành phố Hải Phòng và các chương trình ngoại giao văn hoá tổ chức tại Nhà hát thành phố; Xây dựng Đề án tổ chức và Thể lệ cuộc thi tuyển mẫu phác thảo Phù điêu Đại tướng Võ Nguyên Giáp với lực lượng Hải quân, tàu mô phỏng kết hợp tượng lễ truy điệu sống các chiến sỹ Đoàn tàu không số thuộc dự án đầu tư xây dựng tu bổ, tôn tạo quần thể di tích Bến K15, quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng.

Tổ chức Triển lãm Mỹ thuật giao lưu Hải Phòng (Việt Nam) - Gwangju (Hàn Quốc); Tổ chức chiếu phim lưu động phục vụ nhân dân các huyện ngoại thành, huyện đảo; chiếu phim tại Rạp Lê Văn Tám phục vụ các cháu thiếu nhi. Tổ chức các hoạt động và trưng bày sách, báo nhân dịp kỷ niệm 93 năm Ngày Phụ nữ Việt Nam (20/10/1930 - 20/10/2023).

* Về lĩnh vực thể thao: 

Phối hợp với các đơn vị, địa phương liên quan tổ chức thành công: Giải Bóng đá Vô địch các Câu lạc bộ thành phố Cúp Chuyên đề An ninh Hải Phòng Nhựa Tiền Phong lần thứ 22 năm 2023; Phối hợp tổ chức Giải Bán Marathon Hải Phòng mở rộng Cúp Thủy Nguyên năm 2023.

Triển khai kế hoạch tập huấn, thi đấu trong nước và quốc tế; cử các đoàn thể thao tập huấn, thi đấu cọ sát nhằm nâng cao trình độ chuyên môn cho các VĐV và chuẩn bị lực lượng VĐV tham dự Đại hội Thể thao toàn quốc lần thứ IX.

5. Tình hình trật tự an toàn giao thông

Từ ngày 15/9/2023 đến ngày 14/10/2023, toàn thành phố xảy ra 24 vụ tai nạn giao thông đường bộ làm 13 người chết và 20 người bị thương. So với cùng kỳ năm 2022, số vụ tai nạn giao thông tăng 19 vụ (tương ứng tăng 480%); số người chết tăng 10 người (tương ứng tăng 433,33%) và số người bị thương tăng 18 người (tương ứng tăng 1000%). Các vụ tai nạn chủ yếu từ va chạm cá nhân, do người dân chưa chấp hành đúng luật, không tuân thủ các biện pháp đảm bảo an toàn giao thông.  

Trong 10 tháng năm 2023, trên địa bàn thành phố đã xảy ra 59 vụ tai nạn giao thông đường bộ và 04 vụ tai nạn giao thông đường sắt. Các vụ tai nạn giao thông làm chết 52 người và bị thương 31 người. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông tăng 16 vụ (tương ứng tăng 131,25%); số người chết tăng 12 người (tương ứng tăng 130%); số người bị thương tăng 18 người (tương ứng tăng 238,46%).

6. Công tác phòng chống cháy, nổ

Từ ngày 15/9/2023 đến ngày 14/10/2023, trên địa bàn thành phố Hải Phòng đã xảy ra 15 vụ cháy, không có người chết và làm 02 người bị thương; các vụ cháy khác đang trong quá trình điều tra, xác định giá trị thiệt hại về tài sản.

Trong 10 tháng năm 2023, trên địa bàn thành phố đã xảy ra 87 vụ cháy, số người chết là 05 người và bị thương 05 người; nguyên nhân các vụ cháy chủ yếu do tình trạng bất cẩn trong cách sử dụng các thiết bị có nguy cơ cháy, nổ cao tại một số nhà dân và cơ quan, doanh nghiệp; một số vụ cháy thảm thực bì rừng gây thiệt hại ước tính là 2,72 ha; các vụ cháy khác đang trong quá trình điều tra, xác định giá trị thiệt hại về tài sản. Trong thời gian tới, thành phố tiếp tục chú trọng tăng cường phối hợp liên ngành để kiểm tra công tác phòng cháy chữa cháy tại các địa bàn, cơ sở trọng điểm dễ xảy ra cháy nổ, xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm quy định về phòng cháy chữa cháy./.

 

Tác giả: CỤC THỐNG KÊ HẢI PHÒNG

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây