Tình hình kinh tế - xã hội tháng 10, 10 tháng năm 2026 thành phố Hải Phòng

Thứ hai - 02/11/2026 09:48

TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI THÁNG 10, 10 THÁNG NĂM 2026
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG


I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ
1. Hoạt động tài chính, ngân hàng
1.1. Tài chính

Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn ước thực hiện 10 tháng là 180.366 tỷ đồng, đạt 92,6% dự toán Trung ương, đạt 92,5% dự toán Hội đồng nhân dân thành phố giao, đạt 85,1% dự toán phấn đấu, đạt 86,5% mục tiêu Nghị quyết 11-NQ/TU, đạt 115,5% kế hoạch thu 10 tháng, đạt 109,4% kế hoạch phấn đấu 10 tháng và bằng 109,8% so cùng kỳ.
Tổng chi ngân sách địa phương ước thực hiện đến hết tháng 10/2026 đạt 67.529 tỷ đồng, đạt 74,5% dự toán Trung ương giao và đạt 74,4% dự toán Hội đồng nhân dân thành phố giao, trong đó: Chi đầu tư phát triển đạt 31.583 tỷ đồng, đạt 81,5% dự toán Trung ương giao và đạt 81,4% dự toán Hội đồng nhân dân thành phố giao; Chi thường xuyên đạt 33.222 tỷ đồng, đạt 85,7% dự toán Trung ương và Hội đồng nhân dân thành phố giao.
1.2. Ngân hàng
* Công tác huy động vốn
Trong tháng 10/2026, hệ thống các tổ chức tín dụng trên địa bàn tiếp tục triển khai các giải pháp tiết giảm chi phí hoạt động, nâng cao hiệu quả quản trị, qua đó duy trì mặt bằng lãi suất cho vay ở mức hợp lý, hỗ trợ người dân và doanh nghiệp tiếp cận vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh. Tổng nguồn vốn huy động trên địa bàn thành phố Hải Phòng ước đến 31/10/2026 đạt 724.994 tỷ đồng, tăng 11,68% so với cuối năm 2025, tăng 14,77% so với cùng kỳ năm 2025.
Huy động bằng VND ước đạt 691.069 tỷ đồng, tăng 13,46% so với cuối năm 2025, chiếm tỷ trọng 95,32%; ngoại tệ (quy đổi VND) ước đạt 28.089 tỷ đồng, giảm 20,91% so với cuối năm 2025, chiếm tỷ trọng 3,87%.
* Công tác tín dụng
Tổng dư nợ cho vay đến ngày 31/10/2026 ước đạt 561.357 tỷ đồng, tăng 10,59% so với cuối năm 2025, tăng 15,51% so với cùng kỳ năm 2025. 
Cho vay bằng VND ước đạt 534.152 tỷ đồng, tăng 8,26% so với cuối năm 2025, chiếm tỷ trọng 95,15%. Cho vay ngoại tệ (quy đổi VND) ước đạt 27.205 tỷ đồng, tăng 91,45% so với cuối năm 2025, chiếm tỷ trọng 4,85%.
2. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
Tháng 10 năm 2026, giá cả một số mặt hàng và dịch vụ trên địa bàn thành phố có diễn biến tăng, giảm đan xen. Giá một số dịch vụ y tế tăng do các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước thuộc thành phố thực hiện điều chỉnh giá từ ngày 01/10/2026 theo Nghị quyết số 43/NQ-HĐND ngày 25/9/2026. Bên cạnh đó, giá nhóm giao thông tăng trong tháng, chủ yếu do biến động giá xăng dầu. Ngược lại, giá gạo giảm do bước vào thời điểm thu hoạch lúa vụ mùa, nguồn cung tăng; giá thịt lợn giảm do nguồn cung còn dồi dào; giá rau, củ giảm do các vùng trồng rau bước vào thời kỳ thu hoạch rộ. Với diễn biến trên, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 10 năm 2026 tăng 0,02% so với tháng trước, tăng 5,59% so với tháng 12 năm 2025 và tăng 5,75% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 10 tháng năm 2026, CPI tăng 4,44% so với cùng kỳ năm trước.
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 10 năm 2026 tăng 0,02% so với tháng trước; trong đó, khu vực thành thị tăng 0,03%, khu vực nông thôn tăng 0,01%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng, có 07 nhóm hàng có chỉ số giá tăng và 04 nhóm hàng có chỉ số giá giảm.
So với cùng kỳ năm trước, CPI tháng 10 năm 2026 tăng 5,75%; trong đó, khu vực thành thị tăng 6,63%, khu vực nông thôn tăng 4,96%. Có 10/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tăng giá, 01 nhóm giảm giá.
Bình quân 10 tháng năm 2026, CPI tăng 4,44% so với cùng kỳ năm 2025. Mặt bằng giá tiếp tục chịu áp lực tăng do giá xăng dầu, gas đun và một số nguyên, nhiên vật liệu đầu vào tăng trong nhiều tháng đầu năm, làm tăng chi phí vận tải, sản xuất và xây dựng. Bên cạnh đó, giá thuê nhà, vật liệu bảo dưỡng nhà ở và một số dịch vụ tiếp tục tăng; việc điều chỉnh giá một số dịch vụ y tế từ tháng 10 cũng tác động đến chỉ số giá chung. Tuy nhiên, nguồn cung lương thực, thực phẩm và rau, củ tương đối dồi dào trong tháng, góp phần kiềm chế mức tăng của CPI.
* Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ
- Chỉ số giá vàng: Trong tháng 10 năm 2026, giá vàng trong nước giảm theo diễn biến giá vàng thế giới. Chỉ số giá vàng giảm 3,42% so với tháng trước; giá vàng bình quân đạt 13.902 nghìn đồng/chỉ, giảm 493 nghìn đồng/chỉ so với tháng trước. Tuy nhiên, tính chung 10 tháng năm 2026, chỉ số giá vàng bình quân tăng 36,24% so với cùng kỳ năm 2025, cho thấy mặt bằng giá vàng vẫn ở mức cao so với cùng kỳ năm trước.
- Chỉ số giá đô la Mỹ: Tháng 10 năm 2026, chỉ số giá đô la Mỹ giảm 0,30% so với tháng trước. Giá bình quân đô la Mỹ loại tờ mệnh giá 100 USD đạt khoảng 2.611,2 nghìn đồng/100 USD, giảm 7,78 nghìn đồng/100 USD so với tháng trước. Tính chung 10 tháng năm 2026, chỉ số giá đô la Mỹ bình quân tăng 0,97% so với cùng kỳ năm trước.
3. Đầu tư 
Trong 10 tháng năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý đạt 29.253,3 tỷ đồng, tăng 16,81% so với cùng kỳ, bằng 72,35% kế hoạch năm. Để đẩy nhanh tiến độ thực hiện vốn đầu tư công, thành phố cần tháo gỡ vướng mắc về giải phóng mặt bằng, đẩy nhanh thi công, nghiệm thu, thanh toán khối lượng hoàn thành và nâng cao hiệu quả thu hút và triển khai các dự án đầu tư.
3.1. Tình hình thực hiện vốn đầu tư thuộc nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý
Tháng 10 năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn thành phố ước đạt 4.620,6 tỷ đồng, tăng 11,65% so với tháng trước và tăng 23,45% so với cùng kỳ năm 2025. Tính chung 10 tháng, vốn thực hiện đạt 29.253,3 tỷ đồng, tăng 16,81% so với cùng kỳ, bằng 72,35% kế hoạch năm. Kết quả tháng 10 tiếp tục bổ sung khối lượng thực hiện cho các công trình đầu tư công, trong khi phần vốn còn phải thực hiện theo kế hoạch năm khoảng 11.179,5 tỷ đồng, tương đương 27,65%.
3.2. Tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngoài
Tính đến ngày 20/10/2026, tổng vốn đầu tư nước ngoài thu hút trên địa bàn thành phố ước đạt 3.798,43 triệu USD, tăng 62,7% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, vốn thu hút vào các khu công nghiệp, khu kinh tế đạt 3.453,40 triệu USD, chiếm 90,92% tổng vốn; khu vực ngoài khu công nghiệp, khu kinh tế đạt 345,03 triệu USD, chiếm 9,08%. Kết quả cho thấy vốn đăng ký tiếp tục tập trung chủ yếu tại các khu công nghiệp, khu kinh tế của thành phố.
Trong 10 tháng, thành phố dự kiến cấp mới 171 dự án với số vốn đăng ký 2.134,47 triệu USD, chiếm 56,19% tổng vốn thu hút; có 112 lượt dự án điều chỉnh tăng vốn, số vốn tăng thêm đạt 1.465,85 triệu USD, chiếm 38,59%; đồng thời ghi nhận 31 giao dịch góp vốn, mua cổ phần và phần vốn góp với giá trị 198,11 triệu USD, chiếm 5,22%. Vốn cấp mới và vốn điều chỉnh tăng thêm chiếm 94,78% tổng vốn thu hút, trong đó riêng vốn cấp mới giữ tỷ trọng lớn nhất.
Đến ngày 20/10/2026, toàn thành phố có 1.895 dự án FDI còn hiệu lực của các nhà đầu tư đến từ 42 quốc gia và vùng lãnh thổ, với tổng vốn đăng ký hiệu lực khoảng 54,05 tỷ USD. Trong đó, các khu công nghiệp, khu kinh tế có 1.078 dự án với vốn đăng ký khoảng 45,85 tỷ USD; khu vực ngoài khu có 817 dự án với vốn đăng ký hơn 8,2 tỷ USD. Trong 10 tháng có 50 dự án chấm dứt hoặc bị thu hồi hoạt động, gồm 35 dự án ngoài khu công nghiệp và 15 dự án trong khu công nghiệp.
4. Sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản
Tháng 10 năm 2026, sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn thành phố Hải Phòng diễn ra tương đối ổn định. Lĩnh vực trồng trọt, các địa phương tập trung thu hoạch cây trồng vụ Mùa, đồng thời đẩy nhanh tiến độ gieo trồng cây vụ Đông, bảo đảm khung thời vụ; Chăn nuôi tiếp tục gặp khó khăn do chi phí thức ăn và các yếu tố đầu vào duy trì ở mức cao, trong khi giá một số sản phẩm đầu ra có xu hướng giảm, ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất; Hoạt động lâm nghiệp và thủy sản nhìn chung duy trì ổn định, sản lượng thủy sản tiếp tục tăng so với cùng kỳ năm trước. 
4.1. Nông nghiệp
* Trồng trọt
Tháng 10/2026, các địa phương trên địa bàn thành phố tập trung thu hoạch lúa và rau màu đã đến kỳ thu hoạch vụ Mùa năm 2026, với phương châm “xanh nhà hơn già đồng”, nhằm hạn chế thiệt hại, bảo toàn kết quả sản xuất trong điều kiện thời tiết diễn biến bất thường. Bên cạnh đó, các mô hình sản xuất lúa theo hướng hữu cơ và áp dụng biện pháp kỹ thuật canh tác lúa cải tiến (SRI) tiếp tục được triển khai, góp phần giảm sử dụng phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật, nâng cao hiệu quả kinh tế, cải thiện thu nhập cho nông dân và hướng tới phát triển nền nông nghiệp bền vững.
Tính đến cuối tháng 10/2026, tổng diện tích cây hằng năm vụ Mùa đã thu hoạch ước đạt 79.065 ha. Trong đó, diện tích lúa đã thu hoạch ước đạt 69.950 ha, bằng 98,52% so với vụ Mùa năm 2025; diện tích rau các loại đạt 9.141 ha; ngô đạt 900 ha; khoai lang đạt 166,35 ha; đậu tương đạt 87,9 ha và lạc đạt 142,6 ha.
* Chăn nuôi
Trong tháng 10/2026, chăn nuôi trên địa bàn thành phố tiếp tục gặp nhiều khó khăn do chi phí đầu vào duy trì ở mức cao, trong khi giá một số sản phẩm đầu ra có xu hướng giảm, ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất và tâm lý của người chăn nuôi. Tổng đàn gia súc, gia cầm biến động không đồng đều so với tháng trước và cùng kỳ năm trước.
Tổng đàn trâu ước đạt 6,40 nghìn con, tăng 2,23% so với tháng trước nhưng giảm 13,43% so với cùng kỳ năm trước; đàn bò ước đạt 13,23 nghìn con, tăng 0,84% so với tháng trước và giảm 15,10% so với cùng kỳ năm trước. Chăn nuôi lợn có dấu hiệu phục hồi nhẹ so với tháng trước, với tổng đàn ước đạt 498,28 nghìn con, tăng 0,67%; tuy nhiên, vẫn giảm 2,45% so với cùng kỳ năm trước.
Tổng đàn gia cầm toàn thành phố ước đạt 23,53 triệu con, tăng 0,17% so với tháng trước nhưng giảm 1,90% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, đàn gà ước đạt 20,45 triệu con, tăng 1,51% so với cùng kỳ. Diễn biến này cho thấy quy mô đàn gia cầm nhìn chung tương đối ổn định, song hoạt động chăn nuôi vẫn chịu tác động từ biến động chi phí thức ăn và giá tiêu thụ sản phẩm.
Về tình hình dịch bệnh: Trong tháng 10/2026, hoạt động chăn nuôi trên địa bàn thành phố cơ bản ổn định, không phát sinh dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm. Tuy nhiên, thời tiết đang chuyển mùa từ nóng sang lạnh, chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm cao có thể ảnh hưởng đến sức đề kháng của vật nuôi, làm gia tăng nguy cơ phát sinh và lây lan dịch bệnh. Vì vậy, các hộ chăn nuôi cần chủ động tiêm phòng vắc-xin đầy đủ theo hướng dẫn của cơ quan chuyên môn; thường xuyên vệ sinh, khử trùng, tiêu độc chuồng trại, bảo đảm điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng và kiểm soát người ra vào khu vực chăn nuôi nhằm hạn chế nguy cơ dịch bệnh phát sinh, lây lan.
4.2. Lâm nghiệp
Sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn thành phố trong tháng 10/2026 nhìn chung ổn định, các hoạt động chủ yếu tập trung vào trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng và trồng cây phân tán thay thế những cây bị sâu bệnh, cây chết hoặc đổ gãy do mưa bão. Diện tích rừng trồng mới tập trung trong tháng ước đạt 44,5 ha, giảm 1,11% (tương ứng giảm 0,5 ha) so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 10 tháng năm 2026, diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt 272,5 ha, giảm 0,91% (tương ứng giảm 2,5 ha) so với cùng kỳ.
Sản lượng gỗ khai thác trong tháng ước đạt 1.906 m³, giảm 4,22% (tương ứng giảm 84 m³) so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 10 tháng, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 11.811 m³, giảm 1,42% (tương ứng giảm 170 m³). Sản lượng gỗ khai thác giảm nhẹ chủ yếu do hoạt động khai thác phụ thuộc vào chu kỳ sinh trưởng của các loại rừng sản xuất như keo, bạch đàn và cây trồng phân tán.
Công tác quản lý, bảo vệ rừng và phòng, chống cháy rừng tiếp tục được duy trì. Trong tháng, trên địa bàn không xảy ra vụ cháy rừng hoặc phá rừng. 
4.3. Thủy sản
* Khai thác thủy sản
Trong tháng 10/2026, hoạt động khai thác thủy sản trên địa bàn thành phố diễn ra tương đối thuận lợi. Điều kiện thời tiết trên biển ổn định, tạo điều kiện cho ngư dân duy trì hoạt động khai thác, tăng cường vươn khơi bám biển, góp phần nâng cao sản lượng và bảo đảm thu nhập cho người lao động.
Sản lượng thủy sản khai thác trong tháng ước đạt 9.593,9 tấn, tăng 2,54% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, sản lượng cá ước đạt 5.352,1 tấn, tăng 1,08% (tương ứng tăng khoảng 57 tấn); sản lượng tôm đạt 721,8 tấn, tăng 5,59% (tương ứng tăng khoảng 38 tấn); sản lượng thủy sản khác ước đạt 3.420 tấn, tăng 4,18% (tương ứng tăng khoảng 137 tấn). Lũy kế 10 tháng, sản lượng thủy sản khai thác ước đạt 98.455 tấn.
* Nuôi trồng thủy sản
Trong tháng 10/2026, sản lượng thủy sản nuôi trồng trên địa bàn thành phố ước đạt 19.106 tấn, tăng 6,92% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, sản lượng cá các loại ước đạt 17.635 tấn, tăng 7,04%. Lũy kế 10 tháng, sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 176.060 tấn, tăng 5,95% so với cùng kỳ năm 2025; trong đó, sản lượng cá đạt 165.213 tấn, tăng 6,04%.
Ssản xuất thủy sản trên địa bàn thành phố trong tháng duy trì xu hướng tăng trưởng, trong đó cả nuôi trồng và khai thác đều ghi nhận sản lượng tăng so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, ngành thủy sản vẫn phải đối mặt với một số khó khăn như chi phí nhiên liệu, vật tư đầu vào ở mức cao, nguy cơ suy giảm nguồn lợi thủy sản ven bờ và tác động của biến đổi khí hậu. 
5. Sản xuất công nghiệp
Trong 10 tháng năm 2026, sản xuất công nghiệp trên địa bàn thành phố duy trì đà tăng trưởng, với sự đóng góp của các doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước. Một số ngành chủ lực như điện tử, kim loại và phương tiện vận tải tiếp tục tăng trưởng cao, góp phần thúc đẩy chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP). Tuy nhiên, một số ngành vẫn gặp khó khăn do thiếu hụt lao động và nhu cầu thị trường phục hồi chậm, khiến sản lượng sản xuất giảm so với cùng kỳ năm trước.
* Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 10/2026 (IIP)
Tháng 10/2026, IIP ước tăng 4,21% so với tháng trước và tăng 14,54% so với cùng kỳ năm trước. So với tháng 9/2026, khai khoáng tăng 20,15%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,47%. Ngược lại, sản xuất và phân phối điện giảm 16%; cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 4,16%.
Trong khu vực chế biến, chế tạo, một số ngành tăng so với tháng trước gồm: sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 9,22%; sản xuất xe có động cơ tăng 6,48%; chế biến gỗ và sản phẩm từ gỗ tăng 5,87%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 4,07%. Một số ngành giảm gồm: sản phẩm thuốc lá giảm 24,89%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác giảm 5,54%; sản phẩm từ cao su và plastic giảm 3,49%; thuốc, hóa dược và dược liệu giảm 3,37%.
So với cùng kỳ năm trước, tháng 10/2026, công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 13,27%; sản xuất và phân phối điện tăng 34,68%; cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,52%; khai khoáng tăng 19,78 lần. Theo báo cáo chuyên ngành, mức tăng đột biến của ngành khai khoáng gắn với hoạt động khai thác đất san lấp mới phục vụ dự án Cảng hàng không quốc tế Gia Bình.
Một số ngành chế biến, chế tạo tăng khá so với cùng kỳ gồm: sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 19,73%; sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 16,52%; thiết bị điện tăng 13,74%; thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 13,14%; xe có động cơ tăng 11,66%; trang phục tăng 11,60%. Các ngành giảm gồm: da và các sản phẩm có liên quan giảm 22,90%; giường, tủ, bàn, ghế giảm 18,89%; than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế giảm 13,62%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc, thiết bị giảm 9,84%.
* Kết quả sản xuất công nghiệp 10 tháng năm 2026
Tính chung 10 tháng, IIP ước tăng 15,12% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khai khoáng tăng 3,72 lần, đóng góp 0,82 điểm phần trăm; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 14,99%, đóng góp 13,12 điểm phần trăm; sản xuất và phân phối điện tăng 16,84%, đóng góp 1,14 điểm phần trăm; cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 4,41%, đóng góp 0,04 điểm phần trăm. Tổng đóng góp của bốn ngành là 15,12 điểm phần trăm.
Có 26/29 ngành công nghiệp cấp II tăng so với cùng kỳ. Ba ngành giảm là sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 12,05%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc, thiết bị giảm 0,01%; thoát nước và xử lý nước thải giảm 4,47%.
Trong giai đoạn 2022–2026, IIP 10 tháng năm 2026 tăng 15,12%, mức cao nhất trong 5 năm qua và cao hơn 0,19 điểm phần trăm so với mức tăng 14,93% của cùng kỳ năm 2025.
* Các ngành đóng góp chủ yếu
Ngành sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tiếp tục là động lực tăng trưởng chủ yếu, tăng 23,37%, đóng góp 8,20 điểm phần trăm vào mức tăng chung; trong đó sản lượng LG Innotek tăng 37,70%, LG Display tăng 3,70%, sản phẩm máy chơi game của Pegatron tăng 4,6 lần. Ngành sản xuất xe có động cơ tăng 9,57%, đóng góp 1,41 điểm phần trăm; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 58,14%, đóng góp 0,85 điểm phần trăm, chủ yếu do sản xuất mô tô, xe máy tăng mạnh 141,70%, trong khi đóng tàu và cấu kiện nổi giảm 2,30%.
Sản xuất kim loại tăng 23,14%, sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 21,32%; sản lượng phôi thép, thép và hợp kim sắt silic của một số doanh nghiệp tăng khá, tuy nhiên hoạt động sản xuất vẫn chịu áp lực về nguyên liệu, chi phí và tiêu thụ. Ngược lại, ngành da và các sản phẩm có liên quan giảm 12,05%, với mức giảm sâu tại một số doanh nghiệp, trong khi một số doanh nghiệp vẫn duy trì tăng trưởng, cho thấy sự phân hóa trong nội bộ ngành.
* Sản phẩm công nghiệp chủ yếu 10 tháng năm 2026
Một số sản phẩm dự kiến tăng cao so với cùng kỳ: bảng điều khiển trò chơi video đạt 10.035,9 nghìn cái, tăng 361,36%; cụm camera điện thoại đạt 309,4 triệu sản phẩm, tăng 37,70%; bộ sản phẩm tổ hợp kim loại đạt 123,2 triệu sản phẩm, tăng 94,14%; cà phê hỗn hợp hòa tan đạt 705 tấn, tăng 57,65%.
Một số sản phẩm giảm gồm: giày dép bằng nguyên liệu dệt đạt 3,1 triệu đôi, giảm 47,03%; bột giặt và các chế phẩm dùng để tẩy rửa đạt 27,2 nghìn tấn, giảm 25,02%; tổ máy phát điện đạt 824 bộ, giảm 37,76%.
* Lao động làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp
Tại thời điểm 01/10/2026, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tăng 0,18% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 0,08% so với cùng thời điểm năm trước. So với cùng kỳ, lao động khu vực doanh nghiệp nhà nước tăng 8,88%; doanh nghiệp ngoài nhà nước giảm 31,76%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 7,06%.
Theo ngành kinh tế, lao động khai khoáng tăng 4,31%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,09%; sản xuất và phân phối điện giảm 3,49%; cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,19% so với cùng kỳ năm trước.
Một số ngành cấp II có lao động tăng gồm: sản xuất thiết bị điện tăng 55,69%; sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 19,01%; khai khoáng khác tăng 15,25%; in, sao chép bản ghi tăng 10,17%; sản xuất kim loại tăng 5,52%. Một số ngành giảm gồm: giường, tủ, bàn, ghế giảm 16,78%; da và các sản phẩm có liên quan giảm 14,30%; hóa chất và sản phẩm hóa chất giảm 9,43%; sản phẩm từ cao su và plastic giảm 8,50%; xe có động cơ giảm 6,83%.
6. Thương mại, dịch vụ
Trong tháng 10, hoạt động thương mại và dịch vụ trên địa bàn thành phố tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực. Nhiều sự kiện văn hóa, giải trí và thương mại được tổ chức, nổi bật là chuỗi hoạt động đồng hành và đêm chung kết cuộc thi Miss Universe Vietnam 2026 (Hoa hậu Hoàn vũ Việt Nam), Lễ hội thể thao điện tử ngoài trời Games ON Hải Phòng 2026 và sự kiện khai trương Trung tâm Thương mại AEON Hải Dương. Các hoạt động này góp phần thu hút người dân và khách du lịch, thúc đẩy nhu cầu mua sắm, vui chơi, giải trí và tiêu dùng dịch vụ trên địa bàn.
6.1. Tổng mức lưu chuyển hàng hóa và doanh thu dịch vụ
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tháng 10 năm 2026 ước đạt 38.584,43 tỷ đồng, tăng 3,16% so với tháng trước, tăng 18,33% so với cùng kỳ năm trước. Ước tính 10 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ đạt 359.018,20 tỷ đồng, tăng 16,17% so với cùng kỳ năm trước. 
6.1.1. Hoạt động bán lẻ
* Tháng 10 năm 2026
Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 10 năm 2026 ước đạt 31.574,5 tỷ đồng, chiếm 81,83% trong tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng, tăng 1,64% so với tháng trước, tăng 17,78% so với cùng kỳ; trong đó, ba nhóm có tỷ trọng lớn nhất gồm lương thực, thực phẩm chiếm 27,0%, tăng 17,59% so với cùng kỳ; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình chiếm 23,8%, tăng 17,23% so với cùng kỳ; xăng, dầu các loại chiếm 16,68%, tăng 19,0% so với cùng kỳ. Ngoài ra, tháng 10/2026 doanh thu của các ngành khác đều có mức tăng trưởng cao như: hàng may mặc tăng 17,23%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 24%...
Tình hình hoạt động bán lẻ hàng hóa tháng 10 năm 2026 có xu hướng tăng so với tháng trước ở phần lớn các ngành hàng. Sự gia tăng được thúc đẩy bởi nhu cầu tiêu dùng hàng hóa và các hoạt động kích cầu tiêu dùng, cụ thể từ ngày 15-20/10/2026 thành phố tổ chức Hội chợ Tuần lễ nông sản OCOP và Đặc sản vùng miền năm 2026 quy tụ 200 gian hàng, giới thiệu khoảng 2.000 sản phẩm, góp phần kết nối cung – cầu, mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản và đặc sản địa phương. Ngoài ra, trong tháng 10 thành phố bổ sung năng lực tăng mới khi đưa Trung tâm Thương mại AEON Hải Dương đi vào hoạt động từ ngày 03/10/2026 đã thêm động lực cho thương mại Hải Phòng tăng trưởng trong tháng 10/2026 và các tháng cuối năm 2026.
* Mười tháng năm 2026
Tính chung 10 tháng năm 2026, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 297.038 tỷ đồng, tăng 16,02% so với cùng kỳ. Hầu hết các nhóm mặt hàng đều có doanh thu tăng so với cùng kỳ, trong đó một số nhóm có mức tăng cao như hàng hóa khác tăng 18,04%, gỗ và vật liệu xây dựng tăng 17,76%, xăng, dầu các loại tăng 17,19%...
6.1.2. Hoạt động dịch vụ
Hoạt động các ngành lưu trú ăn uống và dịch vụ khác trong tháng vẫn tăng trưởng ổn định và có nhiều khởi sắc. Doanh thu các ngành dịch vụ ước tính tháng 10 và 10 tháng năm 2026 như sau:
* Tháng 10 năm 2026
Hoạt động du lịch, dịch vụ trên địa bàn thành phố có nhiều điểm nhấn với việc thành phố tổ chức các sự kiện văn hóa, giải trí quy mô lớn, góp phần quảng bá hình ảnh điểm đến, thu hút khách tham quan và thúc đẩy doanh thu ngành dịch vụ:
Nổi bật là chuỗi hoạt động đồng hành và đêm chung kết cuộc thi Miss Universe Vietnam 2026 (Hoa hậu Hoàn vũ Việt Nam) tại The Opera Hải Phòng; Tuần Văn hóa, Du lịch và Xúc tiến thương mại tại Lễ hội Côn Sơn, Kiếp Bạc – mùa Thu năm 2026 kết thúc ngày 04/10/2026; đêm Chung khảo toàn quốc Hoa hậu Việt Nam 2026 tại Khu du lịch quốc tế Đồi Rồng, Đồ Sơn; Lễ hội thể thao điện tử ngoài trời Games ON Hải Phòng 2026; Chung kết cuộc thi Nét đẹp Thanh lịch Hải Phòng… Các sự kiện góp phần kết nối quảng bá văn hóa, di sản với du lịch nghỉ dưỡng, du lịch đô thị, giải trí và kinh tế ban đêm của thành phố Hải Phòng, thúc đẩy tăng trưởng các ngành dịch vụ trong tháng 10/2026.
Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng 10 năm 2026 ước đạt 4.273,6 tỷ đồng, chiếm 11,08% trong tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng, tăng 13,0% so với tháng trước và tăng 19,47% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú tăng 12,62% so với tháng trước và tăng 19,11% so với cùng kỳ; hoạt động ăn uống tăng 13,03% so với tháng trước và tăng 19,50% so với cùng kỳ.  
Doanh thu dịch vụ khác tháng 10 năm 2026 ước đạt 2.696,8 tỷ đồng, tăng 7,36% so với tháng trước và tăng 23,2% với cùng kỳ năm trước. 
* Mười tháng năm 2026
Tính chung 10 tháng năm 2026, doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống ước đạt 37.766,2 tỷ đồng, tăng 18,24% so với cùng kỳ. Trong đó, dịch vụ lưu trú tăng 18,14% và dịch vụ ăn uống tăng 18,25%, hoạt động dịch vụ khác ước đạt 23.679,0 tỷ đồng tăng 14,66% so với cùng kỳ. 
6.2. Số lượt khách do các cơ sở lưu trú và lữ hành thành phố phục vụ
* Tháng 10 năm 2026
Tổng lượt khách do các cơ sở lưu trú và lữ hành thành phố phục vụ ước đạt 1.141 nghìn lượt, tăng 4,83% so với tháng trước và tăng 19,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khách quốc tế ước đạt 118,77 nghìn lượt, tăng 13,55% so với tháng trước và tăng 22,31% so với cùng kỳ năm trước. 
* Mười tháng năm 2026
Tính chung 10 tháng năm 2026, hoạt động du lịch tiếp tục duy trì xu hướng tăng trưởng tích cực, góp phần thúc đẩy các ngành dịch vụ liên quan. Tổng lượt khách do các cơ sở lưu trú và lữ hành thành phố phục vụ ước đạt 13,2 triệu lượt, tăng 17,43% so với cùng kỳ năm trước; trong đó khách quốc tế ước đạt 1,1 triệu lượt, tăng 17,01%. 
6.3. Giao thông vận tải, bưu chính, viễn thông
Hoạt động vận tải trong những tháng cuối năm 2026 tiếp tục dự kiến tiếp tục tăng cao, đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hóa phục vụ sản xuất, xuất nhập khẩu và đi lại của người dân dịp cuối năm. Ước tính tổng doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và dịch vụ bưu chính, chuyển phát tháng 10 năm 2026 đạt 18.370,2 tỷ đồng, tăng 25,4% so với cùng kỳ năm trước. Các lĩnh vực trong hoạt động vận tải đều có mức tăng trưởng cao về doanh thu so với cùng kỳ năm trước.  Tính chung 10 tháng, doanh thu hoạt động kinh doanh vận tải và dịch vụ hỗ trợ vận tải trên địa bàn thành phố đạt 171.758,1 tỷ đồng, tăng 20,82% so với cùng kỳ năm trước. 
6.3.1. Vận tải hàng hoá
* Tháng 10 năm 2026
Vận chuyển hàng hóa ghi nhận mức tăng trưởng cao, đáp ứng hiệu quả chuỗi cung ứng và lưu thông hàng hóa. Doanh thu tháng 10/2026 ước tính đạt 8.755,1 tỷ đồng, tương ứng tăng 6,83% so tháng trước và tăng 24,36% so cùng kỳ năm trước; khối lượng hàng hóa vận chuyển trong tháng ước đạt 47,6 triệu tấn, tăng 5,28% so với tháng trước và tăng 23,0% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước tính 18.549,8 triệu tấn.km, tăng 7,96% so với tháng trước và tăng 23,82% so cùng kỳ năm trước. 
* Mười tháng năm 2026
Doanh thu vận tải hàng hóa 10 tháng ước đạt 82.510,2 tỷ đồng, tăng 20,87%; khối lượng hàng hóa vận chuyển đạt 441,9 triệu tấn, tăng 19,58%; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 169.223,2 triệu tấn.km, tăng 19,57% so với cùng kỳ năm trước.
6.3.2. Vận tải hành khách
* Tháng 10 năm 2026
Doanh thu ước tính đạt 827,7 tỷ đồng, tăng 2,16% so tháng trước và tăng 21,01% so với cùng kỳ năm trước; số lượt hành khách vận chuyển ước đạt 15 triệu lượt hành khách, tương ứng tăng 2,69% so tháng trước và tăng 19,45% so cùng kỳ năm trước; số lượt hành khách luân chuyển ước đạt 622 triệu lượt hành khách.km, tương ứng tăng 2,56% so với tháng trước và tăng 19,49% cùng kỳ năm trước. 
* Mười tháng năm 2026
Doanh thu ước đạt 7.777,8 tỷ đồng, tăng 18,65%; số lượt hành khách vận chuyển đạt 136,9 triệu lượt hành khách, tăng 16,11%; số lượt hành khách luân chuyển đạt 5.881,5 triệu lượt hành khách.km, tăng 17,31% so với cùng kỳ năm trước. 
6.3.3. Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải
* Tháng 10 năm 2026
Doanh thu hoạt động hỗ trợ vận tải (cảng, bốc xếp, đại lý vận tải,…) tháng 10 năm 2026 ước tính đạt 8.728,1 tỷ đồng, giảm 0,57% so với tháng trước và tăng 26,88% so với cùng kỳ năm trước. 
* Mười tháng năm 2026
Doanh thu ước đạt 80.920,9 tỷ đồng, tăng 20,96% so cùng kỳ năm trước. 
6.4. Hàng hóa thông qua cảng
Sản lượng hàng hóa thông qua cảng tháng 10 năm 2026 ước đạt 26,101 triệu TTQ, tăng 18,64% so với tháng trước và tăng 13,73% so với cùng kỳ năm 2025. Cụ thể: 
- Khối cảng thuộc kinh tế Nhà nước ước tháng 10 năm 2026 đạt 4,677 triệu TTQ, tăng 8,77% so với tháng trước, tăng 7,07% so với cùng kỳ năm trước.
- Các cảng thuộc khu vực kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 21,424 triệu TTQ, tăng 21,04% so với tháng trước, tăng 15,3% so với cùng kỳ năm 2025.
Hàng hóa thông qua cảng biển trên địa bàn thành phố 10 tháng đầu năm 2026 đạt 182,442 triệu TTQ, tăng 12,11% so với cùng kỳ năm 2025 trong đó: Khối cảng thuộc kinh tế Nhà nước đạt 43,088 triệu TTQ, tăng 2,99% so với cùng kỳ; Các cảng thuộc khu vực kinh tế ngoài nhà nước đạt 139,355 triệu TTQ, tăng 15,27% so với cùng kỳ năm trước.
* Doanh thu cảng biển 10 tháng đầu năm 2026 đạt 8.743,04 tỷ đồng, tăng 27,74% so với cùng kỳ năm 2025.
II. VĂN HÓA - XÃ HỘI
Trong 10 tháng năm 2026, các lĩnh vực văn hóa – xã hội trên địa bàn thành phố Hải Phòng cơ bản ổn định. Thị trường lao động có chuyển biến tích cực; chính sách an sinh xã hội, chăm lo người có công và các đối tượng yếu thế được triển khai kịp thời. Công tác giáo dục, y tế tiếp tục được quan tâm; các hoạt động phòng, chống dịch bệnh, văn hóa và thể thao được duy trì, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân.
1. Tình hình lao động việc làm
Theo số liệu Sở Nội vụ, tháng 10/2026 dự kiến tổ chức 14 phiên giao dịch việc làm, gồm 08 phiên trực tiếp, 04 phiên trực tuyến và 02 Ngày hội việc làm. Có 120 lượt doanh nghiệp tham gia tuyển dụng, nhu cầu khoảng 24.600 lượt lao động (bằng 70,55% cùng kỳ năm 2025); số lao động tham gia tại các sàn đạt khoảng 20.000 lượt người (bằng 79,0% cùng kỳ năm 2025).
Trong tháng, tiếp nhận khoảng 2.350 hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp; khoảng 2.020 người có quyết định hưởng chế độ bảo hiểm thất nghiệp. Thành phố cấp mới 300 giấy phép lao động, cấp lại 20 giấy phép, gia hạn 120 giấy phép và xác nhận 03 trường hợp lao động nước ngoài không thuộc diện cấp phép. Đến thời điểm báo cáo, trên địa bàn thành phố không xảy ra tai nạn lao động làm chết người, bằng cùng kỳ năm 2025.
Trong 10 tháng năm 2026, đã tổ chức 110 phiên giao dịch việc làm (tăng 34,15% so với cùng kỳ năm 2025), gồm 66 phiên giao dịch việc làm định kỳ tại Trung tâm, 35 phiên trực tuyến liên tỉnh và 09 Ngày hội việc làm, với 1.021 lượt doanh nghiệp tham gia. Nhu cầu tuyển dụng đạt khoảng 320.646 lượt lao động (tăng 13,62% so với cùng kỳ năm 2025); tổng số lao động tham gia đạt khoảng 180.170 lượt người, (bằng 95,63% so với cùng kỳ năm 2025). 
Đối với lao động nước ngoài, ước cấp mới 4.140 giấy phép lao động (bằng 53,42% cùng kỳ năm 2025), cấp lại 230 giấy phép (46,94%), gia hạn 1.350 giấy phép (67,5%) và xác nhận 41 trường hợp không thuộc diện cấp phép (27,33%).
Về an toàn, vệ sinh lao động, đến thời điểm báo cáo, thành phố xảy ra 25 vụ tai nạn lao động chết người, làm chết 25 người (tăng 38,89% so với cùng kỳ năm 2025).
2. Công tác an sinh xã hội
2.1. Công tác người có công

Thành phố tiếp tục thực hiện đầy đủ, kịp thời các chính sách ưu đãi người có công và thân nhân. Trong tháng, giải quyết, công nhận và quản lý 4.127 trường hợp; tổ chức điều dưỡng cho 1.834 người, với kinh phí 7.007 triệu đồng. Lũy kế 10 tháng, có 33.748 trường hợp được giải quyết chế độ, chính sách, công nhận và quản lý; thực hiện điều dưỡng cho 12.923 người, với tổng kinh phí 48.131 triệu đồng.
2.2. Công tác bảo trợ xã hội
Các chính sách trợ giúp xã hội, chăm sóc người cao tuổi, người khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và các đối tượng yếu thế tiếp tục được triển khai; việc tiếp nhận, xác minh, giải quyết nhu cầu hỗ trợ, chăm sóc, nuôi dưỡng được thực hiện kịp thời. Công tác phòng, chống tệ nạn xã hội được tăng cường thông qua tập huấn, kiểm tra liên ngành. Thành phố tổ chức phát động Tháng hành động vì người cao tuổi Việt Nam năm 2026. Trong thời gian từ ngày 15/9 đến 14/10/2026, đã đưa 25 đối tượng lang thang vào các cơ sở trợ giúp xã hội; tính đến ngày 14/10, có 1.805 đối tượng đang được nuôi dưỡng tập trung tại 06 cơ sở.
3. Công tác giáo dục, y tế, văn hóa thể thao
3.1. Công tác giáo dục

Ngành Giáo dục và Đào tạo tập trung triển khai nhiệm vụ năm học 2026–2027, đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra, đánh giá; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, giáo dục STEM và các hoạt động trải nghiệm. Công tác bảo đảm an toàn trường học, phòng, chống tai nạn thương tích, bạo lực học đường, bảo đảm an toàn thực phẩm và vệ sinh môi trường được chú trọng. Các nhiệm vụ giáo dục nghề nghiệp, giáo dục thường xuyên tiếp tục triển khai, gắn với yêu cầu phát triển nguồn nhân lực của thành phố.
3.2. Công tác y tế
Hoạt động khám bệnh, chữa bệnh, phòng, chống dịch và cung ứng dịch vụ y tế được duy trì; tăng cường nâng cao chất lượng chuyên môn, quản lý cơ sở khám sức khỏe, chuyển đổi số và cải cách thủ tục hành chính. Đến ngày 30/9/2026, toàn thành phố có 3.799.886 người được khám sức khỏe định kỳ, khám sàng lọc miễn phí, đạt 90,21% dân số thường trú. Trong tháng, số ca tay chân miệng, sốt xuất huyết và cúm tăng so với tháng trước; các bệnh sởi, COVID-19, ho gà và thủy đậu giảm. Công tác phòng, chống HIV/AIDS và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone tiếp tục được duy trì.
3.3. Công tác văn hóa, thể thao
* Văn hoá
Các hoạt động bảo tồn, phát huy giá trị di sản, văn hóa cơ sở, thư viện, nghệ thuật biểu diễn và thông tin tuyên truyền được triển khai theo kế hoạch. Lễ hội Côn Sơn, Kiếp Bạc – mùa Thu năm 2026 được tổ chức thành công; trong tháng, Khu di tích Côn Sơn – Kiếp Bạc đón 314.344 lượt khách, Bảo tàng Hải Phòng đón 12.408 lượt khách. Hoạt động thư viện phục vụ 41.107 lượt bạn đọc, với 102.236 lượt sách, báo; công tác báo chí, truyền thông và quản lý thông tin trên không gian mạng tiếp tục được chú trọng.
* Thể thao
Phong trào thể dục thể thao quần chúng tiếp tục phát triển; thành phố tổ chức 09 giải thể thao quần chúng và phát động người dân lựa chọn môn thể thao phù hợp để tập luyện thường xuyên. Thể thao thành tích cao đạt kết quả tích cực. Trong 10 tháng năm 2026, vận động viên thành phố tham gia 146 giải thể thao quốc gia, quốc tế, giành 1.358 huy chương, gồm 384 huy chương Vàng, 374 huy chương Bạc và 600 huy chương Đồng; phá 20 kỷ lục, có 111 huấn luyện viên, vận động viên tham gia tập huấn tại các đội tuyển quốc gia.
4. Tình hình tai nạn giao thông, phòng chống cháy nổ
4.1. Tình hình tai nạn giao thông

Theo báo cáo của Phòng cảnh sát giao thông, Công an thành phố Hải Phòng (từ ngày 15/9/2026 đến ngày 14/10/2026) trên địa bàn thành phố xảy ra 44 vụ tai nạn giao thông, làm 31 người chết, 23 người bị thương. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông giảm 22 vụ (tương ứng -33.33%), số người chết giảm 01 người (tương ứng -3.13%) và số người bị thương giảm 25 người (tương ứng -52,08%). 
Trong 10 tháng năm 2026, trên địa bàn thành phố đã xảy ra 647 vụ tai nạn giao thông, làm chết 357 người và bị thương 398 người. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông giảm 87 vụ (tương ứng -11,85%); số người chết giảm 34 người (tương ứng -8,70%) và số người bị thương giảm 100 người (tương ứng -20,08%).
4.2. Công tác phòng chống cháy, nổ
Từ ngày 15/9/2026 đến ngày 14/10/2026, theo số liệu tổng hợp của Công an thành phố Hải Phòng, trên địa bàn thành phố xảy ra 10 vụ cháy, nổ; làm 01 người bị thương. Thiệt hại về tài sản ước tính khoảng 348 triệu đồng.
Trong 10 tháng năm 2026, trên địa bàn thành phố đã xảy ra 58 vụ cháy nổ, giảm 118 vụ so với cùng kỳ năm trước; làm 02 người chết, giảm 2 người so với cùng kỳ năm trước; 06 người bị thương, giảm 02 người so với cùng kỳ năm trước. Thiệt hại về tài sản ước tính khoảng 1.407,2 triệu đồng, giảm 967,3 triệu đồng so với cùng kỳ năm trước./.
 

Tác giả: THỐNG KÊ THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây