Tuyên truyền năm 2020

Tình hình kinh tế xã hội thành phố Hải Phòng tháng 6, 6 tháng năm 2020

Thứ hai - 29/06/2020 10:22
Kinh tế toàn cầu trong 6 tháng năm 2020 bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi đại dịch Covid-19, đặc biệt là các ngành dịch vụ và du lịch, tỉ lệ thất nghiệp gia tăng dẫn đến suy thoái kinh tế ở nhiều quốc gia. Đại dịch kéo dài với những diễn biến phức tạp dự báo sẽ tác động nghiêm trọng đến nền kinh tế toàn cầu trong năm 2020, có thể dẫn đến khủng hoảng tài chính trên diện rộng.
Kinh tế trong nước sau thời gian chịu nhiều tác động của đại dịch Covid-19, tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội đều bị ảnh hưởng nghiêm trọng, chuỗi cung ứng và lưu chuyển thương mại bị gián đoạn, các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ bị đình trệ; nhiều doanh nghiệp phá sản, giải thể, tạm dừng hoạt động, thu hẹp quy mô... Tuy nhiên với sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, cùng với sự đồng lòng, đoàn kết của toàn dân, công tác phòng, chống dịch đã đạt kết quả tốt, Việt Nam đã đẩy lùi và kiểm soát được dịch bệnh.
Thành phố Hải Phòng với sự chỉ đạo quyết liệt của Thành ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cùng sự đoàn kết, thống nhất của các cấp, ngành, địa phương, đơn vị và nhân dân, được ghi nhận là một trong những tỉnh, thành phố đã thực hiện công tác phòng chống dịch bệnh tốt nhất cả nước. Mặc dù dịch bệnh đã tác động gây ảnh hưởng đến toàn bộ các lĩnh vực kinh tế - xã hội của thành phố, tuy nhiên 6 tháng đầu năm 2020, tăng trưởng kinh tế của thành phố tiếp tục đạt mức khá. Kết quả 6 tháng đầu năm 2020 đạt được như sau: 
I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ
1. Tốc độ tăng tổng sản phẩm trên địa bàn

 
  Cơ cấu GRDP (%) Tốc độ tăng trưởng 6 tháng/2020 so với cùng kỳ (%)
 (Theo giá SS 2010)
Đóng góp vào mức tăng trưởng 6 tháng/2020  (điểm %)
TỔNG SỐ    100,00  10,87 10,87
- Nông lâm, nghiệp và thủy sản  5,18  1,98   0,09
- Công nghiệp - Xây dựng 49,84 19,41    9,43
- Thương mại - Dịch vụ 39,16 2,07    0,84
- Thuế sản phẩm trừ trợ cấp   5,82  8,39    0,51

Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) theo giá so sánh 2010, ước tính 6 tháng đầu năm 2020 tăng 10,87% so cùng kỳ năm trước, là mức tăng thấp nhất trong 4 năm gần đây. Trong đó: khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 1,98% (kế hoạch tăng 1,91%); đóng góp 0,09 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung; khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 19,41% (kế hoạch tăng 24,12%), đóng góp 9,43 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung; khu vực dịch vụ tăng 2,07% (kế hoạch tăng 9,89%), đóng góp 0,84 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung.
 
TỐC ĐỘ TĂNG GRDP 6 THÁNG GIAI ĐOẠN 2017-2020 (%)
 

 
Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản ít chịu ảnh hưởng dịch Covid-19 và đang dần được hồi phục sau dịch tả lợn Châu Phi. Trong đó, ngành nông nghiệp tiếp tục tăng trưởng âm 0,2%; ngành lâm nghiệp phát triển ổn định, tăng 1,79%, nhưng do chiếm tỷ trọng nhỏ nên đóng góp không đáng kể vào mức tăng trưởng chung. Ngành thủy sản tiếp tục là điểm sáng với mức tăng trưởng khá 6,17%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung, chủ yếu tăng thủy sản khai thác biển. 
Khu vực công nghiệp - xây dựng có mức tăng 19,41% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng 24,81% của 6 tháng/2019, đóng góp 9,43 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung, trong đó giá trị tăng thêm ngành công nghiệp tăng 19,72%, đóng góp 8,49 điểm phần trăm vào mức tăng chung. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo vẫn là ngành chủ lực chính trong phát triển kinh tế thành phố, với giá trị tăng thêm tăng 20,95%, đóng góp 8,16 điểm phần trăm, đóng góp chủ yếu từ các ngành sản xuất xuất ô tô, xe máy; sản xuất điện thoại thông minh; sản xuất thiết bị truyền thông; sản xuất sắt thép; sản xuất điện; sản xuất thức ăn chăn nuôi... Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 3,83% so với cùng kỳ năm trước, làm giảm 0,02 điểm phần trăm của mức tăng trưởng chung. Ngành xây dựng 6 tháng đầu năm vẫn duy trì mức tăng trưởng khá, tăng 17%, đóng góp 0,93 điểm phần trăm vào mức tăng chung. 
Dịch Covid-19 xảy ra đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động thương mại,  dịch vụ trên địa bàn thành phố, ước tính 6 tháng đầu năm 2020, khu vực dịch vụ có giá trị tăng thêm tăng 2,07% (thấp hơn mức tăng 9,83% của 6 tháng/2019), đóng góp 0,84 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung. Tuy nhiên với sự chỉ đạo, điều hành của Thành ủy, Ủy ban nhân dân với nhiều giải pháp khắc phục ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 nên hoạt động thương mại dịch vụ đã dần khởi sắc, trong đó một số ngành có tỷ trọng lớn đóng góp vào mức tăng trưởng chung như sau: ngành bán buôn, bán lẻ tăng 8,12%, đóng góp 0,52 điểm phần trăm vào mức tăng chung; vận tải, kho bãi tăng 0,59%, đóng góp 0,11 điểm phần trăm; ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống tuy có khởi sắc, nhưng tăng trưởng vẫn âm 13,1%;  hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 7,07%...
Về cơ cấu kinh tế trên địa bàn 6 tháng đầu năm 2020, khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm tỷ trọng 5,18%, khu vực công nghiệp, xây dựng chiếm 49,84%; khu vực dịch vụ chiếm 39,16%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 5,82%.

2. Sản xuất công nghiệp

Tháng 6 năm 2020 hoạt động sản xuất công nghiệp thành phố có tín hiệu tích cực khi chỉ số phát triển sản xuất (PTSX) công nghiệp (IIP) tháng 6 năm 2020 ước tăng 11,60% so với tháng trước và tăng 17,69% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên đây vẫn là mức tăng thấp nhất trong giai đoạn 4 năm trở lại đây. Trong đó tháng 6/2020 ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tăng 20,24% so với cùng kỳ; ngành khai khoáng giảm 33,69%, ngành sản xuất và phân phối điện giảm 4,22%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 8,02%.
 


Tính chung 6 tháng đầu năm nay, chỉ số PTSX công nghiệp tăng 14,02% so với cùng kỳ năm trước (quý I tăng 22,56%, quý II tăng 6,79%). Trong các ngành công nghiệp cấp 1, ngành chế biến, chế tạo tăng 14,97%, đóng góp 13,62 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 7,88%, đóng góp 0,56 điểm phần trăm; hai ngành có chỉ số giảm là ngành khai khoáng giảm 37,75% và ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 8,36% cùng tác động làm giảm 0,08 điểm phần trăm vào mức tăng chung.
  
  IIP 6 tháng
năm 2020 (%) so với cùng kỳ
Điểm %
đóng góp
Toàn ngành công nghiệp 114,02 14,02  
Khai khoáng 62,25 -0,08  
Công nghiệp chế biến, chế tạo 114,97 13,62  
Sản xuất và phân phối điện 107,88  0,56  
Cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải 91,64 -0,08  

Với mức tăng trưởng 14,02% có thể khẳng định, sản xuất công nghiệp 6 tháng đầu năm 2020 của thành phố đạt mức tăng khá cao trong bối cảnh nền kinh tế thế giới cũng như nền kinh tế Việt Nam chịu ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch Covid-19. Đây cũng là mức tăng cao nhất trong các tỉnh, thành phố lớn của cả nước, khẳng định sản xuất công nghiệp tiếp tục là ngành có đóng góp quan trọng trong tăng trưởng chung của kinh tế thành phố.
Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo dự kiến 6 tháng/2020 tăng 14,97% với sự đóng góp chủ yếu của những ngành công nghiệp chế tạo mới, điển hình là sản xuất ô tô, điện thoại thông minh (cùng kỳ năm 2019 chưa đi vào sản xuất), trong đó: sản xuất ô tô tăng hơn 5,3 lần so cùng kỳ; sản xuất thiết bị truyền thông tăng 108,7% so cùng kỳ; sản xuất xe máy điện tăng 116,7% so cùng kỳ. Cùng với đó một số ngành công nghiệp truyền thống như sản xuất sắt thép, sản xuất điện, sản xuất thức ăn chăn nuôi,…cũng đạt được mức tăng khá so cùng kỳ, đóng góp tích cực trong tăng trưởng chung của công nghiệp thành phố 6 tháng đầu năm 2020.
Một số ngành công nghiệp cấp 4 có chỉ số PTSX 6 tháng/2020 tăng cao so với cùng kỳ năm trước: sản xuất xe có động cơ tăng 535%; sản xuất mô tô, xe máy tăng 116,71%; sản xuất thiết bị truyền thông tăng 108,73%; sản xuất pin và ắc quy tăng 34,38%; Một số ngành có mức tăng khá: sản xuất thuốc lá tăng 13,75%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 12,65%; sản xuất sắt, thép, gang, tăng 8,65%; sản xuất và truyền tải điện tăng 7,88%;….
Tuy nhiên, dưới tác động tiêu cực của dịch bệnh Covid-19, các ngành công nghiệp sản xuất bị ảnh hưởng nhiều do các đơn đặt hàng lớn tạm dừng, các doanh nghiệp điều chỉnh sản xuất do dự báo về dịch bệnh Covid-19 tiếp tục diễn biến phức tạp, tác động nghiêm trọng tới kinh tế toàn cầu. Trong 54 nhóm ngành công nghiệp cấp 4, có tới 34/54 ngành tăng trưởng âm so với cùng kỳ, một số ngành công nghiệp quan trọng có chỉ số PTSX 6 tháng/2020 giảm sâu như: sản xuất lốp xe giảm 41,94%; sản xuất đồ điện dân dụng giảm 21,05%; sản xuất máy in giảm 20,52%; sản xuất hàng may mặc giảm 18,67%; sản xuất giày dép giảm 17,07%; sản xuất xi măng giảm 6,35%;...
* Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo 6 tháng/2020 ước giảm 18,03% so với cùng kỳ năm trước; trong đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm mạnh như: sản xuất hàng may sẵn (trừ trang phục) giảm 57,61%, sản xuất săm, lốp cao su giảm 39,97%; sản xuất phụ tùng và bộ phận phụ trợ cho xe có động cơ và động cơ xe giảm 28,56%; sản xuất đồ uống giảm 10,38%;...
          Một số ngành giữ được mức tiêu thụ 6 tháng/2020 tăng như: sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm và thuỷ sản tăng 27,57%; sản xuất sản phẩm thuốc lá tăng 22,24%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 23,16%; sản xuất sản phẩm khác từ cao su tăng 29,69%; sản xuất dây cáp, dây điện và điện tử khác tăng 10,37%...
* Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tại thời điểm 30/6/2020 tăng 6,05% so với tháng trước và tăng 28,83% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao so cùng kỳ: sản xuất trang phục tăng 374,62%; sản xuất giấy nhăn, bìa nhăn, bao bì từ giấy và bìa tăng 165,95%; sản xuất plastic và cao su tổng hợp dạng nguyên sinh tăng 606,12%; sản xuất sắt, thép, gang tăng 63,94%; sản xuất đồ điện dân dụng tăng 389,34%...
          Một số ngành có chỉ số tồn kho so với cùng kỳ giảm như: sản xuất đồ uống giảm 11,86%; sản xuất săm, lốp cao su; đắp và tái chế lốp cao su giảm 84,8%; sản xuất sản phẩm từ plastic giảm 22,67%...
        * Chỉ số sử dụng lao động: Sản xuất khó khăn kéo theo nhu cầu về lao động của các doanh nghiệp sụt giảm đã dẫn đến tình trạng cắt giảm lao động, thời điểm 01/6/2020 so với cùng kỳ có đến 19/29 ngành công nghiệp cấp 2 có chỉ số lao động giảm, trong đó có một số ngành sử dụng nhiều lao động phải cắt giảm lao động như sản xuất giày dép (giảm 16,5%), may mặc (giảm 6,7%), sản xuất ô tô và linh kiện (giảm 8,7%)… Nhìn chung số lao động làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/6/2020 dự kiến tăng 1,06% so với tháng trước và giảm 6,02% so với cùng kỳ, trong đó lao động nghỉ việc nhiều nhất là khối DN ngoài nhà nước giảm 9,79% so cùng kỳ, tiếp đến lao động doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giảm 4,57%, lao động khu vực doanh nghiệp nhà nước giảm 3,89%; 
Bên cạnh đó, một số ngành chỉ số sử dụng lao động tăng so với cùng kỳ như: sản xuất chế biến thực phẩm tăng 5,58%; sản xuất đồ uống tăng 4,55%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 32,79%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 11,73%...
* Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu ước 6 tháng năm 2020 tăng cao so với cùng kỳ: xe máy điện tăng 116,71%; thức ăn cho gia cầm tăng 48,37%; ắc quy điện các loại tăng 34,38%,... Một số sản phẩm tăng khá: modun camera tăng 27,22%; phôi thép tăng 26,33%; dây cách điện đơn dạng cuộn bằng đồng 27,41%; điện sản xuất tăng 8,39%... Một số sản phẩm giảm so với cùng kỳ: quần áo các loại giảm 20,58%; phân bón giảm 24,72%; màn hình khác giảm 15,91%; máy giặt giảm 24,13%; lốp xe ô tô giảm 41,94; xi măng Portland đen giảm 6,35%...

3. Hoạt động của doanh nghiệp
3.1. Tình hình đăng ký doanh nghiệp


Do ảnh hưởng của tình hình dịch bệnh Covid-19, hoạt động của các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố trong thời gian qua đã gặp không ít khó khăn, vì vậy việc bảo đảm sản xuất kinh doanh, khôi phục hoạt động kinh tế đang là nhiệm vụ trọng tâm được các cấp chính quyền và các doanh nghiệp chú trọng, đẩy mạnh.
Trong tháng 6/2020, toàn thành phố có 263 doanh nghiệp (DN) thành lập mới (tăng 15,86% so với cùng kỳ năm 2019), với tổng số vốn đăng ký ước đạt 4.272,0 tỷ đồng, vốn đăng ký bình quân một DN ước đạt 16,2 tỷ đồng. Số chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh thành lập mới trong tháng là 115 cơ sở, tăng 1,77% so với cùng kỳ.
Tính chung 6 tháng đầu năm 2020, toàn thành phố có 1.379 DN đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký ước đạt 11.503,2 tỷ đồng, giảm 8,07% về số DN và giảm 2,09% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2019; vốn đăng ký bình quân một DN thành lập mới đạt 8,3 tỷ đồng, tăng 5,19%. Số chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh thành lập mới là 643 cơ sở, giảm 5,99% so với cùng kỳ năm trước.
Dự kiến trong tháng 6 năm 2020, thành phố có 22 DN và 53 chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh tiến hành thủ tục giải thể. Cộng dồn 6 tháng đầu năm 2020, số DN thực hiện thủ tục giải thể là 100 và đối với chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh là 306 cơ sở.

3.2. Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp

Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của 176 doanh nghiệp (DN) trên địa bàn thành phố thuộc ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cho thấy: Do tác động tiêu cực của dịch bệnh Covid-19, có tới 53,41% số DN đánh giá tổng thể chung về tình hình sản xuất kinh doanh quý II/2020 so với quý I/2020 là khó khăn hơn; chỉ có 46,59% số DN cho rằng tình hình tốt lên và giữ ổn định (19,89% DN đánh giá tốt lên và 26,70% DN đánh giá giữ ổn định). Trong đó, khu vực DN có vốn đầu tư nước ngoài nhận định khó khăn nhất, với 60,29% số DN cho rằng khó khăn hơn; tỷ lệ này ở khu vực DN ngoài nhà nước và DN nhà nước cho kết quả lần lượt là 49,47% và 46,15%.  
Trong các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh quý II/2020, có 41,48% DN đánh giá nhu cầu thị trường trong nước thấp là yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; 40,91% DN cho rằng khả năng cạnh tranh cao của hàng hóa trong nước làm ảnh hưởng đến khả năng phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; 34,66% DN cho rằng nhu cầu thị trường quốc tế thấp; 26,14% DN cho rằng khó khăn về tài chính và 17,61% DN cho rằng thiếu nguyên, nhiên, vật liệu là yếu tố quan trọng.
Quý III/2020 dự báo tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp khả quan, khởi sắc hơn so với quý II/2020, trong đó tỷ lệ số DN dự báo tình hình sản xuất kinh doanh tốt hơn tăng lên tới 36,36%; tỷ lệ DN dự báo ổn định là 38,07% và chỉ có 25,57% DN dự báo khó khăn hơn. Theo hình thức sở hữu, khu vực DN ngoài quốc doanh có tỷ lệ DN dự báo tình hình sản xuất kinh doanh tốt lên và giữ ổn định ở quý III/2020 cao nhất với 82,10% (trong đó dự báo tốt lên là 48,42% và dự báo ổn định là 33,68%), tỷ lệ này ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài và khu vực DN nhà nước lần lượt là 66,18% và 61,54%. Một số ngành dự báo khả quan về khối lượng sản xuất quý III/2020 tăng lên so với quý II/2020 như: Sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu, sản xuất plastic và cao su tổng hợp dạng nguyên sinh, sản xuất bê tông và các sản phẩm từ xi măng và thạch cao, sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học...

4. Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản
4.1. Nông nghiệp


 * Trồng trọt
   Cây hàng năm
 Gieo trồng vụ Đông Xuân năm nay thời tiết thuận lợi tạo điều kiện cho sự phát triển của cây trồng, đầu vụ gieo cấy không bị rét đậm, rét hại kéo dài nên cây lúa sớm bén rễ và đẻ nhánh, tình hình chuột hại và sâu bệnh được phòng trừ hiệu quả, trên các cánh đồng cây lúa sinh trưởng, phát triển tốt, đạt năng suất cao. Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ Đông Xuân năm 2020 toàn thành phố đạt 43.835,1 ha, bằng 92,25%, so với vụ Đông Xuân năm 2019. 
Diện tích gieo trồng cây lúa đạt 28.987,1 ha, bằng 88,91% so với vụ Đông Xuân năm trước, diện tích gieo trồng cây lúa giảm là do: chuyển đất dự án, cụm công nghiệp, xây dựng khu tái định cư, công trình giao thông là 185,2 ha; chuyển trồng cây rau màu khác, cây ăn quả 407,1 ha; những chân ruộng sâu trũng chuyển sang vùng nuôi trồng thủy sản 81,9 ha; còn lại 2,9 nghìn ha diện tích không gieo cấy do khó khăn trong tưới tiêu và không có lao động.
Diện tích gieo trồng cây hàng năm khác vụ Đông Xuân đạt 14.848 ha, bằng 99,57% so với vụ Đông Xuân năm trước. Trong đó: cây thuốc lào đạt 1.847 ha, bằng 92,4% (cây thuốc lào giảm ở các vùng trồng cho năng suất thấp, chất lượng thuốc không ngon, bán không được giá so với các vùng trồng chuyên canh có chất lượng thuốc tốt hơn); cây đậu tương đạt 143,4 ha, tăng 4,4 lần; cây khoai lang đạt 582,6 ha, bằng 83,37; cây ngô đạt 703,8 ha, bằng 106,38%; cây rau các loại đạt 9.028,3 ha, bằng 98,88%;...
Theo báo cáo sơ bộ năng suất, sản lượng vụ Đông Xuân năm 2020, năng suất cây lúa đạt 69,67 tạ/ha, tăng 0,02 tạ/ha so với vụ Đông Xuân năm trước; cây ngô đạt 52,52 tạ/ha, tăng 0,34 tạ/ha; cây khoai lang đạt 115,1 tạ/ha, tăng 2,23 tạ/ha; đậu tương đạt 25,01 tạ/ha, tăng 0,79 tạ/ha, rau các loại đạt 235,09 tạ/ha, tăng 2,22 tạ/ha... Sản lượng cây lúa đạt 201,96 nghìn tấn, giảm 11,06% so với vụ Đông Xuân năm trước; cây ngô đạt 3.696,1 tấn, tăng 7,07%; cây khoai lang đạt 6.705,4 tấn, giảm 14,97%; đậu tương đạt 358,7 tấn, tăng 4,6 lần; rau các loại đạt 212,2 nghìn tấn, giảm 0,18%; sản lượng hoa ước đạt 88,6 triệu bông, tăng 8,5 triệu bông so với vụ Đông Xuân năm trước.
    - Cây lâu năm: 
Diện tích cây lâu năm 6 tháng đầu năm 2020 ước đạt 8,2 nghìn ha, bằng 105,17% (+400,62 ha) so với cùng kỳ năm trước. Diện tích cây lâu năm tăng do chuyển đổi từ đất lúa kém hiệu quả và mở rộng quy mô tại những vùng trồng tập trung chuyên canh và cây trồng phân tán trên đất vườn của các hộ dân. 
 Cơ cấu các nhóm cây lâu năm vẫn giữ được sự ổn định so với năm trước: nhóm cây ăn quả đạt 6,7 nghìn ha, chiếm 82% tổng diện tích cây lâu năm; cây lấy quả chứa dầu đạt 247,1 ha, chiếm 3%; nhóm cây gia vị, dược liệu đạt 25,3ha; cây lâu năm khác đạt 1.106,5 ha, chiếm 13,5%. 
  Một số cây trồng được quy hoạch thành vùng trồng tập trung, phát triển mở rộng diện tích như: Cây chuối là cây trồng trọng điểm với diện tích ước đạt 2,6 nghìn ha, tăng 93,32 ha so với cùng kỳ năm trước, cây chuối được quy hoạch trồng theo kỹ thuật chuyên canh đem lại năng suất và chất lượng cao cho người sản xuất; cây thanh long ruột đỏ và ruột trắng hiện tại có thị trường tiêu thụ và giá thành ổn định diện tích ước đạt 145,1 ha, tăng 9,7ha; diện tích cây na ước đạt 408,1 ha, tăng 51,45 ha, bằng 114,42%, các hợp tác xã nông nghiệp đã xây dựng được thương hiệu na đạt tiêu chuẩn chất lượng cao và xuất bán khắp các tỉnh thành miền Bắc.
Theo xu hướng phát triển cây trồng nông nghiệp trong thời gian tới trên địa bàn thành phố sẽ có nhiều mô hình sản xuất cây ăn quả đặc trưng của từng đơn vị, với nhu cầu tiêu thụ cao nhằm nâng cao hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp, tận dụng được những diện tích đất cấy lúa bị bỏ hoang, có hiệu quả thấp.
       * Chăn nuôi
Ước tính tháng 6/2020, số lượng đầu con gia súc, gia cầm trên địa bàn thành phố hiện có như sau: đàn trâu đạt 4.402 con, giảm 6,66% so với cùng kỳ năm trước; đàn bò đạt 10.650 con, giảm 11,6%. Đàn gia cầm ước đạt 8.692,3 nghìn con, tăng 4,18% so với cùng kỳ năm trước, trong đó đàn gà đạt 6.501,2 nghìn con, tăng 2,67%. Hiện nay các hộ chăn nuôi gia cầm đang tái đàn mạnh hơn tháng trước do giá gia cầm đang giữ ở mức ổn định.
 Tổng đàn lợn ước đạt 144,35 nghìn con, bằng 88,22% so với cùng kỳ năm trước. Đàn lợn thành phố đang có dấu hiệu phục hồi sau một thời gian giảm mạnh do dịch tả lợn Châu Phi, sản phẩm lợn hơi trong thời gian tới sẽ đảm bảo được nguồn cung cấp thực phẩm cho thành phố. 
    Giá lợn giống vẫn tiếp tục tăng mạnh so với tháng trước (tăng 19,44%, dao động quanh mức giá 227,71 nghìn đồng/kg); giá thức ăn chăn nuôi ổn định so với tháng trước. Giá thịt lợn hơi xuất chuồng tăng 7,34% so với tháng trước (dao động quanh mức 94,48 nghìn đồng/kg); giá một số sản phẩm thịt gia cầm đã có dấu hiệu phục hồi so với tháng trước đặc biệt là gà công nghiệp lông trắng tăng 8,37% so với tháng trước. 
* Tình hình chăn nuôi quý II và 6 tháng đầu năm 2020. 
Ngành chăn nuôi quý II và 6 tháng đầu năm 2020 gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của dịch Covid-19 và hậu quả của dịch tả lợn Châu Phi năm 2019. Tuy ngành chăn nuôi lợn hiện đã có dấu hiệu phục hồi sau thời gian dài sụt giảm, nhưng khâu tái đàn gặp nhiều khó khăn do nguồn lợn giống khan hiếm, giá lợn giống tăng cao. Bên cạnh đó dịch Covid-19 xảy ra đã đẩy giá nguyên liệu trên thế giới tăng từ 5-10%, dẫn đến giá thức ăn chăn nuôi cũng tăng theo gây khó khăn cho người chăn nuôi khi tái đàn. 
Theo kết quả đánh giá sơ bộ sản xuất ngành chăn nuôi 6 tháng đầu năm 2020 như sau: sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng ước đạt 10,85 nghìn tấn, bằng 45,94% so với cùng kỳ năm trước (quý II ước đạt 5,6 nghìn tấn, giảm 42,55%); sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng ước đạt 346,9 tấn, bằng 91,44% (quý II đạt 149,2 tấn, bằng 84,4%); sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng ước đạt 553,7 tấn, bằng 93,19% (quý II đạt 234,7 tấn, bằng 83,41%); sản lượng thịt gà, vịt, ngan hơi xuất chuồng ước đạt 33,54 nghìn tấn, bằng 115,70% (quý II đạt 16,13 nghìn tấn, bằng 116,34%); sản lượng trứng gà, vịt, ngan đạt 180,7 triệu quả, bằng 103,6% (quý II đạt 87,3 triệu quả, bằng 97,2%) so với cùng kỳ năm trước.

4.2 Lâm nghiệp

        Sản xuất lâm nghiệp quý II và 6 tháng đầu năm 2020 trên địa bàn thành phố vẫn duy trì ở mức ổn định. Ước tính quý II năm 2020, sản lượng gỗ khai thác đạt 463,5 m3, giảm 2,32% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng củi khai thác đạt 10.780 ste, giảm 3,06%. Ước 6 tháng đầu năm 2020, sản lượng gỗ khai thác đạt 948,5 m3, giảm 3,66% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng củi khai thác đạt 22.440 ste, giảm 2,53%. 
Diện tích rừng trồng mới 6 tháng đầu năm 2020 ước đạt 50 ha; diện tích rừng được khoanh nuôi tái sinh ước đạt 450 ha; diện tích rừng được giao khoán bảo vệ vẫn ổn định với hơn 13 ha; tổng số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 131 nghìn cây; số lượng ươm giống cây lâm nghiệp ước đạt 960 nghìn cây, tăng 10,42% so cùng kỳ năm ngoái nhằm phục vụ các dự án trồng mới cây lâm nghiệp của thành phố. 
Trong 6 tháng đầu năm 2020 toàn thành phố xảy ra 08 vụ cháy và điểm cháy nhỏ tại các huyện Thủy Nguyên, Kiến Thụy và quận Kiến An với tổng diện tích là 5,17 ha, tuy nhiên các đám cháy chỉ lan trong khu vực thảm thực bì nên không làm giảm diện tích rừng hiện có; cũng trong 6 tháng đầu năm nay có xảy ra 01 vụ chặt phá rừng trái phép ở huyện Cát Hải với diện tích bị chặt phá 0,049 ha, tuy nhiên các cơ quan chức năng đã phát hiện kịp thời và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả. 

4.3 Thủy sản

Sản lượng nuôi trồng và khai thác thủy sản quý II năm 2020 ước đạt 46.792,2 tấn, tăng 4,11% (+1.845,3 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Ước tính 6 tháng năm 2020 sản lượng nuôi trồng và khai thác thủy sản đạt 91.521,2 tấn, tăng 4,98% (+4.339,6 tấn) so với cùng kỳ năm trước. 
* Nuôi trồng 
Diện tích nuôi trồng thủy của thành phố hiện nay có xu hướng ổn định sau một thời gian bị thu hẹp do thu hồi mặt bằng cho các dự án đầu tư xây dựng. Diện tích nuôi trồng thủy sản 6 tháng/2020 đạt 9.425,3 ha, tăng 3,85% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: cá các loại đạt 6.312,8 ha, tăng 0,76%; tôm các loại đạt 2.444 ha, tăng 1,61%; thủy sản khác đạt 668,5 ha, tăng 64,9% (thủy sản khác tăng lớn nhất là diện tích nuôi nhuyễn thể bãi triều ven biển). 
Sản xuất nuôi trồng thủy sản quý II và 6 tháng đầu năm 2020 bị ảnh hưởng của dịch Covid-19 nên nhu cầu tiêu thụ và giá bán sản phẩm trên thị trường sụt giảm, sản xuất chững lại kéo sản lượng sản xuất giảm. Sản lượng nuôi trồng thủy sản thu hoạch quý II năm 2020 ước đạt 17.149,6 tấn, giảm 5,04% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: cá các loại đạt 10.651,9 tấn, giảm 1,72%; tôm các loại đạt 1.547,1 tấn, giảm 6,23%; thủy sản khác đạt 4.950,6 tấn, giảm 11,15%. Ước tính 6 tháng đầu năm 2020 sản lượng nuôi trồng thủy sản thu hoạch đạt 36.087,7 tấn, giảm 3,97% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: cá các loại đạt 23.219,5 tấn, giảm 0,46%; tôm các loại đạt 3.082,8 tấn, giảm 4,51%; thủy sản khác đạt 9.785,4 tấn, giảm 11,24%. 
* Khai thác 
 Mặc dù dịch bệnh Covid-19 vẫn tiếp tục có nhiều diễn biến phức tạp, nhưng ngành khai thác thủy sản vẫn giữ được tốc độ tăng khá cao do các đội tàu công suất lớn của thành phố vẫn tích cực bám biển sản xuất, mặt khác trước tình hình tiêu thụ sản phẩm thủy hải sản tại thị trường nội địa chững lại thì các chủ tàu đã chủ động xuất bán sản phẩm ngay trên biển theo đường tiểu ngạch. 
 Sản lượng khai thác thủy sản quý II năm 2020 ước đạt 29.642,6 tấn, tăng 10,25% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: cá các loại đạt 17.454,4 tấn, tăng 16,67%, tôm các loại đạt 2.257,7 tấn, tăng 8,41%; thủy sản khác 9.930,5 tấn tăng 0,88%. Ước tính 6 tháng đầu năm sản lượng khai thác thủy sản đạt 55.433,5 tấn, tăng 11,76% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: cá các loại đạt 32.863 tấn, tăng 19,33%; tôm các loại đạt 4.363,9 tấn, tăng 7,5%; thủy sản khác đạt 18.206,6 tấn, tăng 1,13%.
Thị trường tiêu thụ hải sản đảm bảo, giá nhiên liệu cho hoạt động khai thác giữ ở mức tương đối ổn định đã tạo động lực cho ngư dân bám biển sản xuất. Ngư trường khai thác chính của tàu cá Hải Phòng là Vịnh Bắc Bộ, khu vực phía Nam, Bắc và Đông đảo Bạch Long Vĩ với các đối tượng khai thác là mực, cá nổi nhỏ (nục, bạc má,…) và một số loại cá đáy (cá bơn, cá hồng…), đội tàu hoạt động quanh khu vực này nhất là các tàu thuộc nhóm nghề lưới rê, chụp, lồng bẫy khai thác đạt sản lượng tăng khá cao…

5. Đầu tư xây dựng
 


Dịch bệnh Covid-19 đã tác động tiêu cực tới nhiều lĩnh vực như công nghiệp, thương mại, dịch vụ,... và tình hình đầu tư trên toàn thành phố, 6 tháng đầu năm 2020 vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện ước tăng 7,03% so với cùng kỳ năm 2019. 
Vốn đầu tư khu vực Nhà nước giảm 9,17%, chủ yếu là do các dự án lớn sử dụng vốn từ nguồn này phần lớn đã hoàn thiện. 
Tốc độ tăng vốn thực hiện toàn xã hội của thành phố và ba khu vực 6 tháng đầu năm giai đoạn 2018 – 2020
Đơn vị tính: %
 
 

Vốn trung ương quản lý 6 tháng đầu năm 2020 bị giảm nhiều so với cùng kỳ do dự án Đầu tư xây dựng Cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng đã chuẩn bị kết thúc, năm 2020 dự án được bố trí vốn ngân sách trung ương là 964 tỷ đồng cho một số hạng mục còn chưa hoàn thành. 
Khu vực Ngoài nhà nước quý II/2020 chiếm tỷ trọng cao nhất (60%) tổng vốn đầu tư toàn xã hội, ước 6 tháng/2020 đạt 43.066,8 tỷ đồng, tăng 1,37% so với cùng kỳ. Khu vực dân cư trên địa bàn tiếp tục đẩy mạnh đầu tư cho xây dựng nhà ở trong 6 tháng đầu năm 2020. Đầu tư cho khu vực này đạt 7.216,3 tỷ đồng, tăng 8,99% so với cùng kỳ. Các tập đoàn bất động sản đến với Hải Phòng kèm theo các dự án về bất động sản với hàng nghìn tỷ đồng cũng là động cơ cho khu vực dân cư phát triển về xây dựng nhà ở tại các khu tái định cư. Đầu tư ở khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước trong quý I/2020 vẫn tiếp tục giữ được mức tăng đáng kể (tăng 6,29% so với cùng kỳ), tuy nhiên đến quý II tốc độ bị giảm nhiều do các dự án lớn giảm dần đầu tư; một số dự án khác của tập đoàn Vingroup đã hoàn thành và đưa vào khai thác.
Vốn đầu tư khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài ước 6 tháng năm 2020 đạt 24.599,6 tỷ đồng, tăng 22,96% so với cùng kỳ, chủ yếu thực hiện ở các dự án của tập đoàn LG tại Hải Phòng và một số doanh nghiệp mới thành lập đang đầu tư xây dựng cơ bản. 
Bên cạnh đó, một loạt các doanh nghiệp, tập đoàn lớn khác cũng không ngần ngại rót hàng nghìn tỷ đồng vốn vào Hải Phòng như Tập đoàn BRG với dự án sân golf và khu biệt thự Đồ Sơn hơn 2.100 tỷ đồng; Dự án khu du lịch Quốc tế Đồi Rồng do tập đoàn Geleximco đầu tư với tổng mức đầu tư 25.000 tỷ đồng; khách sạn 5 sao Hilton hơn 1.000 tỷ đồng; Công ty Nhật Hạ với khách sạn 5 sao Pullman 1.600 tỷ đồng; khu nhà ở biệt thự và chung cư cao cấp của tập đoàn Tài chính Hoàng Huy… Những công trình này đang được đánh giá là sẽ làm thay đổi đáng kể diện mạo đô thị và phát triển kinh tế Hải Phòng với những đột phá táo bạo.

* Tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngoài
Tính đến 15/6/2020 Hải Phòng có 728 dự án còn hiệu lực:
Tổng vốn đầu tư    :   18.454,1 triệu USD
Vốn điều lệ        :     6.645,5 triệu USD
Vốn Việt Nam góp    :        243,7 triệu USD
Nước ngoài góp    :     6.401,8 triệu USD
Từ đầu năm đến 15/6/2020, toàn thành phố có 37 dự án cấp mới đến từ 13 quốc gia và vùng lãnh thổ với số vốn đầu tư đạt 375,32 triệu USD, tăng 5,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: cấp mới trong khu công nghiệp, khu kinh tế đạt 367,1 triệu USD, (chiếm 97,8%); cấp mới ngoài khu công nghiệp, khu kinh tế đạt 8,2 triệu USD (chiếm 2,2%).
Điều chỉnh tăng vốn đầu tư có 17 dự án, với số vốn tăng là 302,88 triệu USD, các dự án mới và tăng vốn chủ yếu ở ngành công nghiệp chế biến, chế tạo. 
Tính chung toàn thành phố có 54 dự án cấp mới và tăng vốn đầu tư, tổng vốn đầu tư đạt 678,2 triệu USD.
Tính từ nửa cuối tháng 5 đến 15/6/2020 có 7 dự án cấp mới , tuy nhiên tổng vốn đăng ký của hoạt động đầu tư đối với các dự án không lớn.
Cũng từ đầu năm đến 15/6/2020, có 9 dự án nhà đầu tư quyết định chấm dứt hoạt động dự án trước thời hạn, trong đó có 6 dự án nằm ngoài khu công nghiệp, 3 dự án nằm trong khu công nghiệp.

6. Tổng mức lưu chuyển hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Hoạt động bán lẻ hàng hoá và các hoạt động dịch vụ trên địa bàn thành phố trong tháng 6/2020 tiếp tục có nhiều khởi sắc, các hoạt động bán lẻ và dịch vụ dần trở lại nhịp độ bình thường.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 6 năm 2020 ước đạt 12.552,4 tỷ đồng, tăng 3,85% so với tháng trước, tăng 16,03% so với cùng kỳ năm trước. Cộng dồn 6 tháng đầu năm 2020, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 66.872,0 tỷ đồng, tăng 6,0% so với cùng kỳ năm trước, trong đó đóng góp lớn nhất là hoạt động bán lẻ hàng hóa với mức tăng 10,37%.
* Doanh thu chia theo ngành hoạt động

- Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 6 năm 2020 ước đạt 9.838,9 tỷ đồng, tăng 2,04% so với tháng trước, tăng 17,61% so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng này, hầu hết các ngành hàng đều có ước tính doanh thu tăng so với tháng trước, trong đó: ngành bán lẻ lương thực, thực phẩm tăng 0,25%, hàng may mặc tăng 4,80%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình tăng 0,77%; vật phẩm văn hóa giáo dục tăng 0,53%, gỗ và vật liệu xây dựng tăng 7,27%; ô tô con dưới 9 chỗ ngồi tăng 7,38%; phương tiện đi lại khác tăng 2,73%; xăng dầu các loại tăng 2,98%; nhiên liệu khác tăng 2,52%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 2,70%; hàng hóa khác tăng 3,50%; 
Sau ảnh hưởng của dịch Covid-19, đến quý II/2020, thị trường bán lẻ hàng hóa đã quay trở lại mức tăng trưởng bình thường, ước tính doanh thu bán lẻ quý II đạt 27.818,4 tỷ đồng, tăng 10,99% so với cùng quý năm trước, trong đó, trừ một số nhóm hàng thiết yếu là lương thực, thực phẩm, đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình có tốc độ tăng trưởng cao (17,56%; 12,67%), các ngành khác bắt đầu hồi phục và tăng trưởng trở lại như hàng may mặc ước quý II/2020 tăng 10,32% so với cùng kỳ (quý I/2020 giảm 2,31% so cùng kỳ), gỗ và vật liệu xây dựng ước tăng 14,59% (quý I/2020 giảm 0,92% so cùng kỳ)...
Tính chung 6 tháng đầu năm 2020, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 55.257 tỷ đồng, tăng 10,37% so với cùng kỳ năm trước, cụ thể: lương thực, thực phẩm tăng 17,50%, hàng may mặc tăng 4,14%, đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 10,78%, vật phẩm văn hóa giáo dục tăng 5,87%, gỗ và vật liệu xây dựng tăng 6,94%, ô tô con dưới 9 chỗ ngồi tăng 3,58%, phương tiện đi lại tăng 3,91%, xăng dầu các loại tăng 9,57%, nhiên liệu khác tăng 8,07%, đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 7,26%, hàng hóa khác tăng 4,27%, doanh thu dịch vụ sửa chữa ô tô, mô tô và xe có động cơ khác tăng 3,48%. 
- Đối với ngành dịch vụ: 
  Doanh thu dịch vụ lưu trú tháng 6 năm 2020 ước đạt 204,0 tỷ đồng, tăng 18,25% so với tháng trước và tăng 9,56% so với cùng kỳ năm trước; quý II/2020 ước đạt 421,6 tỷ đồng, giảm 14,34% so với quý II/2019. Cộng dồn 6 tháng/2020, doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 710,7 tỷ đồng, giảm 16,81% so với cùng kỳ.
 Doanh thu dịch vụ ăn uống tháng 6 năm 2020 ước đạt 1.672,2 tỷ đồng, tăng 11,29% so với tháng trước và tăng 9,98% so với cùng kỳ năm trước; quý II/2020 ước đạt 3.538,3 tỷ đồng, giảm 18,55% so với quý II/2019. Cộng dồn 6 tháng/2020, doanh thu dịch vụ ăn uống ước đạt 7.220,4 tỷ đồng, giảm 13,45% so với cùng kỳ.
 Doanh thu du lịch lữ hành tháng 6 năm 2020 ước đạt 17,7 tỷ đồng, tăng 8,71% so với tháng trước, giảm 16,23% so với cùng kỳ năm trước; quý II/2020 ước đạt 34 tỷ đồng, giảm 39,65% so với quý II/2019. Cộng dồn 6 tháng/2020, doanh thu du lịch lữ hành ước đạt 71,6 tỷ đồng, giảm 28,93% so với cùng kỳ.
Doanh thu dịch vụ khác tháng 6 năm 2020 ước đạt 819,6 tỷ đồng, tăng 8,79% so với tháng trước, tăng 13,12% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: doanh thu hoạt động bất động sản tăng 16,05%; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 4,0%.        Quý II/2020, doanh thu dịch vụ khác ước đạt 1.950,6 tỷ đồng, giảm 10,0% so với quý II/2019. Cộng dồn 6 tháng/2020, doanh thu dịch vụ khác ước đạt 3.612,3 tỷ đồng, giảm 3,46% so với cùng kỳ.
 Từ đầu năm, do diễn biến phức tạp của dịch bệnh Covid-19 đã ảnh hưởng đến các hoạt động dịch vụ du lịch, lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí của người dân thành phố. Tháng 3 năm 2020, Cát Bà ngừng đón khách, tạm dừng ngay hoạt động tại các cơ sở kinh doanh dịch vụ vũ trường, Karaoke, xông hơi, mát xa, quan Bar, internet, sân golf, các khu vui chơi giải trí, các điểm di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh trên địa bàn thành phố, dừng tổ chức một số lễ hội diễn ra hàng năm nhằm kích cầu du lịch. Do vậy doanh thu các ngành lưu trú, ăn uống, lữ hành và dịch vụ khác giảm mạnh. 
Là địa phương chưa có ca dương tính với Covid-19 nên sau thời gian giãn cách xã hội, Hải Phòng được nhiều du khách lựa chọn để du lịch nghỉ dưỡng. Ngoài ra, ngày 06 tháng 6 năm 2020, thành phố khai trương tuyến cáp vượt biển Cát Hải- Phù Long có trụ cáp treo cao nhất thế giới; khai trương Flamingo Cát Bà Beach Resort - Tổ hợp nghỉ dưỡng cao cấp 5 sao tại huyện Cát Hải; khánh thành Bãi tắm nhân tạo và động thổ Resort khách sạn 5 sao tại Khu du lịch quốc tế Đồi Rồng…Đây là các công trình du lịch mới, lạ, độc đáo góp phần phát triển và khẳng định vị thế du lịch của Hải Phòng.
Nhằm khôi phục thị trường du lịch thời hậu Covid-19, thành phố cũng đã nghiên cứu, tích cực tham gia Chương trình kích cầu du lịch do Tổng cục Du lịch phát động, tổ chức. Các cơ sở lưu trú, nhà hàng và cơ sở du lịch chủ động giảm giá các dịch vụ nhằm kích cầu người dân như: giảm giá phòng, giảm giá các dịch vụ ăn uống, giảm 30% giá vé cáp treo Cát Hải – Phù Long…

7. Hoạt động lưu trú và lữ hành    

Tổng lượt khách tháng 6/2020 do các cơ sở lưu trú và lữ hành thành phố phục vụ ước đạt 946,3 nghìn lượt, tăng 18,97% so với tháng trước và tăng 4,63% so với cùng tháng năm 2019; trong đó khách quốc tế đạt 18,5 nghìn lượt, tăng 4,52% so với tháng trước và giảm 80,63% so với cùng tháng năm trước.
Cộng dồn 6 tháng đầu năm 2019, tổng lượt khách do các cơ sở lưu trú và lữ hành thành phố phục vụ ước đạt 3.333,4 nghìn lượt, giảm 17,28% so với cùng kỳ năm 2019, trong đó khách quốc tế đạt 212,6 nghìn lượt, giảm 53,25% so cùng kỳ năm trước.
Đối với hoạt động lữ hành, lượt khách lữ hành tháng 6 năm 2020 ước đạt 7,56 nghìn lượt, tăng 35,57% so với tháng trước. Cộng dồn 6 tháng đầu năm 2020, lượt khách du lịch đạt 35,5 nghìn lượt, giảm 35,64% so với cùng kỳ.

8. Vận tải hàng hóa và hành khách
8.1. Vận tải hàng hoá


Khối lượng hàng hoá vận chuyển tháng 6 năm 2019 ước đạt 18,5 triệu tấn, tăng 15,61% so với tháng trước và tăng 9,04% so với cùng tháng năm trước; quý II năm 2019 ước đạt 47,6 triệu tấn, giảm 4,42% so với cùng quý năm trước. Ước tính 6 tháng/2020 đạt 98,9 triệu tấn, tăng 1,63% so với cùng kỳ năm trước.
Khối lượng hàng hóa luân chuyển tháng 6 năm 2020 ước đạt 8.955,4 triệu tấn.km, tăng 3,14% so với tháng trước và tăng 13,58% so với cùng tháng năm trước;  quý II/2019 ước đạt 24.839,8 triệu tấn, tăng 3,15% so với cùng quý năm trước. Ước tính 6 tháng/2020 khối lượng hàng hóa luân chuyển đạt 50.343,7 triệu tấn, tăng 5,44% so với cùng kỳ năm trước.
Khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng 6/2020 tăng so với tháng trước do các doanh nghiệp nhận được nhiều đơn hàng hơn tháng trước. Khối doanh nghiệp vận tải biển đơn hàng tương đối ổn định, hầu hết các đơn vị vận tải biển tiếp tục khai thác được các tuyến hàng ở khu vực Đông Nam Á, Nam Mỹ và Tây Phi do hợp đồng ký kết lâu dài với các khách hàng nên sản lượng vận chuyển duy trì ở mức khá.
Khối lượng hàng hóa vận chuyển quý II/2020 giảm so với cùng kỳ năm trước do tháng 4/2020 nhiều doanh nghiệp vận tải chịu tác động bởi ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 nên hàng hóa khan hiếm, các đơn hàng sụt giảm. Tuy nhiên, khối lượng hàng hóa luân chuyển quý II tăng so với cùng kỳ chủ yếu do một số doanh nghiệp vận tải hàng hóa biển khai thác các tuyến đường xa như khu vực Nam Mỹ, Tây Phi nên có khối lượng hàng hóa luân chuyển tăng cao.

8.2. Vận tải hành khách

Khối lượng hành khách vận chuyển tháng 6 năm 2020 ước đạt 4,2 triệu lượt, tăng 25,19% so với tháng trước và giảm 30,24% so với cùng tháng năm trước; quý II/2019 ước đạt 9 triệu lượt, giảm 48,94% so với cùng quý năm trước. Ước tính 6 tháng/2020 đạt 24,5 triệu lượt, giảm 28,13% so với cùng kỳ năm trước. 
Khối lượng hành khách luân chuyển tháng 6 năm 2020 đạt 163,4 triệu Hk.km, tăng 27,62% so với tháng trước và giảm 30,61% so với cùng tháng năm trước; quý II/2020 đạt 344,8 triệu Hk.km, giảm 50,41% so với cùng quý năm trước. Ước tính 6 tháng/2020 đạt 981 triệu lượt, giảm 28,47% so với cùng kỳ năm trước.
Khối lượng hành khách vận chuyển và luân chuyển tháng 6/2020 tăng so với tháng trước, do tháng 6 là tháng cao điểm trong mùa du lịch biển của Hải Phòng nên lượt khách đi xe khách, taxi, tàu biển tuyến Hải Phòng - Cát Bà, Hải Phòng - Đồ Sơn tăng cao so với tháng trước. 
Khối lượng hành khách vận chuyển và luân chuyển quý II và 6 tháng/2020 giảm so với cùng quý năm trước do nhu cầu đi lại giảm mạnh vào tháng 4 bởi tình hình dịch bệnh Covid-19.

8.3. Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải

Dịch vụ kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng 6 năm 2020 ước đạt 2.938,3 tỷ đồng, tăng 18,77% so với tháng trước và tăng 16,89% so với cùng tháng năm trước. Quý II năm 2020 doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 7.493,2 tỷ đồng, tăng 0,33% so với cùng quý năm trước. Cộng dồn 6 tháng/2020, doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 15.297,7 tỷ đồng, tăng 3,85% so với cùng kỳ năm trước.

8.4. Ga Hải Phòng

Tổng doanh thu tháng 6 năm 2020 Ga Hải Phòng ước đạt 10,05 tỷ đồng, tăng 6,50% so với tháng trước, tăng 41,83% so với cùng tháng năm trước. Ước tính 6 tháng/2020 tổng doanh thu của Ga Hải Phòng đạt 53,46 tỷ đồng, giảm 14,43% so với cùng kỳ năm trước.
Tổng số hành khách vận chuyển tháng 6 năm 2020 ước đạt 24 nghìn lượt người, tăng 7,95% so với tháng trước, giảm 46,27% so với cùng tháng năm trước. Ước tính 6 tháng/2020 số hành khách vận chuyển đạt 132,11 nghìn lượt người, giảm 46,09% so với cùng kỳ năm trước.
Tổng số hàng hóa vận chuyển tháng 6 năm 2020 ước đạt 97 nghìn tấn, tăng 4,26% so với tháng trước, tăng 40,07% so với cùng tháng năm trước. Ước tính 6 tháng/2020, hàng hóa vận chuyển đạt 571,4 nghìn tấn, giảm 2,52% so với cùng kỳ năm trước.

8.5. Sân bay Cát Bi

Tháng 6 năm 2020 tổng doanh thu của Sân bay Cát Bi ước đạt 13,27 tỷ đồng, tăng 4,26% so với tháng trước; giảm 53,18% so với cùng tháng năm trước; 6 tháng/2020 tổng doanh thu của Sân bay Cát Bi ước đạt hơn 92 tỷ đồng, giảm 38,76% so với cùng kỳ năm trước. Nhằm thực hiện chương trình phục hồi du lịch nội địa hậu Covid-19, Tổng Công ty Hàng không Việt Nam - Vietnam Airlines khai thác thêm 4 đường bay mới từ Hải Phòng đi Đà Lạt, Cần Thơ, Buôn Mê Thuột, Phú Quốc.
Số lần máy bay hạ, cất cánh tháng 6/2020 ước đạt 1.000 chuyến, tăng 19,05% so với tháng trước, giảm 35,40% so với cùng tháng năm trước, không có chuyến bay ngoài nước. Ước tính 6 tháng/2020 số lần máy bay hạ, cất cánh đạt 6.081 chuyến, giảm 25,39% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chuyến bay ngoài nước ước đạt 249 chuyến, giảm 63,7% so với cùng kỳ. 
Tổng số hành khách tháng 6/2020 ước đạt 167 nghìn lượt người, tăng 32,36% so với tháng trước, giảm 35,60% so với cùng tháng năm trước. Ước tính 6 tháng/2020 tổng số hành khách ước đạt 854,6 nghìn lượt, giảm 34,78% so với cùng kỳ năm trước. 
Tổng số hàng hóa tháng 6/2020 ước đạt 1.000 tấn, tăng 14,94% so với tháng trước, giảm 36,99% so với cùng tháng năm trước. Ước tính 6 tháng/2020 tổng số hàng hóa thông qua ước đạt 6.463 tấn, giảm 34,41% so với cùng kỳ năm trước. 

9. Hàng hoá thông qua cảng

Sản lượng hàng hóa thông qua cảng tháng 6 năm 2020 ước đạt 11.858,8 nghìn TTQ, tăng 9,44% so với tháng trước và tăng 4,61% so với cùng kỳ năm trước. 
- Khối cảng thuộc kinh tế Nhà nước ước đạt 3.216 nghìn TTQ, tăng 2,10% so với tháng trước và giảm 7,23% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: 
+ Cảng thuộc khối doanh nghiệp Nhà nước Trung ương ước đạt 3.210,8 nghìn TTQ, tăng 2,18% so với tháng trước và giảm 7,04% so với cùng kỳ năm trước.
+ Cảng thuộc khối doanh nghiệp Nhà nước địa phương ước đạt 5,2 nghìn TTQ, giảm 32,86% so với tháng trước và giảm 59,66% so với cùng kỳ năm trước. 
- Các cảng thuộc khu vực kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 8.642,8 nghìn TTQ, tăng 12,45% so với tháng trước và tăng 9,83% so với cùng kỳ năm trước.
Cộng dồn 6 tháng đầu năm 2020, sản lượng hàng hóa thông qua cảng trên địa bàn thành phố đạt 58.462,3 nghìn TTQ, tăng 2,74% so với cùng kỳ năm 2019.
* Doanh thu cảng biển tháng 6 năm 2020 của khối cảng trên địa bàn thành phố ước đạt 465,5 tỷ đồng, tăng 3,46% so với tháng trước, giảm 7,82% so với cùng kỳ. Doanh thu cảng biển 6 tháng đầu năm 2020 đạt 2.599 tỷ đồng, giảm 5,23% so với cùng kỳ năm 2019. 
Ngày 19/05/2020, Cảng Container Quốc tế Tân Cảng Hải Phòng đón thêm tuyến dịch vụ hàng hải mới với tàu siêu trọng tải có trọng tải 90.000 tấn với sức chở 8.560 TEU, chiều dài 316 m. Hiện tại, TC-HICT đang tiếp nhận 8 tuyến dịch vụ mỗi tuần trong đó 3 tuyến dịch vụ xuyên Thái Bình Dương, 2 tuyến dịch vụ đi Ấn Độ và 3 tuyến vụ Nội Á. Cảng luôn đảm bảo năng suất giải phóng tàu cao và chất lượng dịch vụ tốt, được các hãng tàu, khách hàng đánh giá cao và tin tưởng. Trong thời gian tới đây, Cảng TC-HICT sẽ tiếp tục tăng cường nâng cao chất lượng dịch vụ để đón thêm các tuyến dịch vụ đường biển mới và ghi dấu ấn của cảng trung chuyển quốc tế tại miền Bắc Việt Nam trên bản đồ các cảng trung chuyển của khu vực và trên thế giới.
Chiều 5-6, tại Chi nhánh cảng Tân Vũ, Công ty CP Cảng Hải Phòng tổ chức lễ đón tàu SUNNY LOTUS cập cảng làm hàng. Trong bối cảnh nền kinh tế vận tải, hàng hải thế giới và Việt Nam có nhiều biến động giảm do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19, các cảng liên tiếp đón những tuyến dịch vụ mới khẳng định việc bảo đảm chất lượng dịch vụ với khách hàng. Trong đó tập trung vào quy hoạch bến bãi để tiếp nhận công-ten-nơ; bố trí phương tiện xếp dỡ hợp lý, năng suất xếp dỡ giải phóng tàu.

10. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) 

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) thành phố Hải Phòng tháng 6 năm 2020 tăng 0,34% so với tháng trước, tăng 3,56% so với cùng kỳ năm trước và giảm 0,65% so với tháng 12/2019. CPI bình quân 6 tháng đầu năm 2020 tăng 4,59% so với cùng kỳ năm trước.
Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 7 nhóm có chỉ số giá tháng 6/2020 tăng so với tháng 5 với mức tăng như sau:  nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,26%; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,37%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,17%; nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,02%; nhóm giao thông tăng 5,24%; nhóm giáo dục tăng 0,01%; và nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,20%. 03 nhóm có chỉ số giá giảm là nhóm may mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,30%; nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 1,32%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,94%. 01 nhóm còn lại là nhóm bưu chính viễn thông có chỉ số giá không thay đổi so với tháng trước. 
Nguyên nhân chính làm tăng CPI tháng 6/2020 so với tháng 5/2020 là do chỉ số giá xăng dầu diesel tăng 14,24% làm cho CPI chung tăng 0,45%; chỉ số giá thực phẩm tăng 0,46% làm cho CPI chung tăng 0,10%;...
 
11. Bưu chính viễn thông

Tổng doanh thu bưu chính, viễn thông Hải Phòng tháng 6 năm 2019 ước đạt 134,8 tỷ đồng, tăng 3,05% so với tháng trước, tăng 13,86% so với cùng tháng năm 2018. Ước tính 6 tháng/2020 doanh thu bưu chính, viễn thông đạt 765,5 tỷ đồng, tăng 7,32% so với cùng kỳ năm trước.
Số thuê bao điện thoại phát triển mới tháng 6 năm 2020 ước đạt 585 thuê bao, tăng 0,69% so với tháng trước, giảm 37,90% so với cùng tháng năm trước. Ước tính 6 tháng/2020 số thuê bao điện thoại phát triển mới đạt 3.267 thuê bao, giảm 44,85% so với cùng kỳ năm trước. 
Số thuê bao Internet phát triển mới tháng 6 năm 2020 ước đạt 2,4 nghìn thuê bao, tăng 1,27% so với tháng trước, tăng 2,87% so với cùng tháng năm trước. Ước tính 6 tháng/2020 số thuê bao Internet phát triển mới đạt 17,4 nghìn thuê bao, tăng 18,43% so với cùng kỳ năm trước. 
* Chi nhánh Trung tâm viễn thông quân đội Viettel
Tổng doanh thu của Chi nhánh viễn thông quân đội Viettel tháng 6 năm 2020 ước đạt 105 tỷ đồng, tăng 1,94% so với tháng trước, giảm 4,55% so với cùng tháng năm trước. Ước tính 6 tháng/2020 tổng doanh thu của Chi nhánh viễn thông quân đội Viettel ước đạt 642 tỷ đồng, giảm 15,30% so với cùng kỳ năm trước.
Số máy thuê bao điện thoại phát triển mới ước đạt 4 nghìn thuê bao, tăng 3,82% so với tháng trước, giảm 41,18% so với cùng tháng năm trước. Ước tính 6 tháng/2020 số máy thuê bao điện thoại phát triển mới đạt 23,7 nghìn thuê bao, giảm 57,01% so với cùng kỳ năm trước.
Số thuê bao Internet phát triển mới tháng 6/2020 ước đạt 2.700 thuê bao, tăng 35% so với tháng trước và tăng 33,66% so với cùng tháng năm trước. Ước tính 6 tháng/2020 số thuê bao Intenet phát triển mới đạt 13 nghìn thuê bao, giảm 18,58% so với cùng kỳ năm trước.

12. Hoạt động tài chính, ngân hàng 
12.1. Tài chính 


Ước 6 tháng/2020 thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn thành phố đạt 38.192,7 tỷ đồng, bằng 87,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: thu nội địa đạt 13.796,5 tỷ đồng, bằng 112,7%; thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 23.432 tỷ đồng, bằng 76,8%.
Trong số thu nội địa: thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước Trung ương đạt 988 tỷ đồng, bằng 124,1% so với cùng kỳ năm trước; thu từ doanh nghiệp Nhà nước địa phương đạt 490,1 tỷ đồng, bằng 109,2%; thu từ khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 2.058,1 tỷ đồng, bằng 79,7%; thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đạt 3.400,2 tỷ đồng, đạt 154,5%...
 Tổng chi ngân sách địa ước 6 tháng/2020 đạt 9.160,7 tỷ đồng, bằng 103,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: chi đầu tư phát triển trong chi cân đối ngân sách địa phương đạt 3.517 tỷ đồng, bằng 92,8%; chi thường xuyên đạt 4.897,7 tỷ đồng, bằng 107,7%.

12.2. Ngân hàng 

* Công tác huy động vốn:
Tổng nguồn vốn huy động trên địa bàn ước thực hiện đến hết tháng 6 năm 2020 đạt 221.294 tỷ đồng, tăng 12,16% so với cùng kỳ năm trước, bằng 105,01% so với năm 2019.
Theo loại tiền: huy động bằng VND ước đạt 209.471 tỷ đồng, tăng 12% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 94,66%; ngoại tệ (quy đổi VND) ước đạt 11.823 tỷ đồng, tăng 15,09% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 5,34%. 
Theo hình thức huy động: huy động tiền gửi tiết kiệm ước đạt 152.625 tỷ đồng, tăng 9,95% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 68,97%; tiền gửi thanh toán ước đạt 62.340 tỷ đồng, tăng 13,6% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 28,17%; phát hành giấy tờ có giá ước đạt 6.329 tỷ đồng. 
* Công tác tín dụng:
Tổng dư nợ cho vay đến hết tháng 6 năm 2020 ước đạt 131.012 tỷ đồng, tăng 7,47% so với cùng kỳ năm trước, bằng 101,5% so với năm 2019.
Cơ cấu dư nợ theo loại tiền: cho vay bằng VND ước đạt 123.086 tỷ đồng, tăng 7,82% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 93,95%. Cho vay ngoại tệ (quy đổi VND) ước đạt 7.926 tỷ đồng, tăng 2,29% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 6,05%.
Cơ cấu dư nợ phân theo thời hạn vay: Cho vay ngắn hạn ước đạt 57.908 tỷ đồng, tăng 8,25% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 44,2%; cho vay trung, dài hạn ước đạt 73.105 tỷ đồng, tăng 6,86% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 55,8%. 

II. VĂN HÓA - XÃ HỘI
1. Giải quyết việc làm, an sinh xã hội


* Công tác Lao động, việc làm
Trong 6 tháng đầu năm 2020, ước giải quyết được 26.500 lượt lao động, bằng 47,83% kế hoạch năm và bằng 94,31% so với cùng kỳ năm 2019 (số lao động giải quyết việc làm giảm so với cùng kỳ năm 2019 do ảnh hưởng của dịch Covid-19, số lượng xuất khẩu lao động cũng giảm 49,30% so với cùng kỳ).
Tính từ đầu năm, thành phố tổ chức được 06 phiên giao dịch việc làm với sự tham gia tuyển dụng của 221 lượt doanh nghiệp, nhu cầu tuyển dụng 5.262 lượt lao động. Cung lao động tại sàn đạt 11.721 lượt người, gấp gần 2,23 lần nhu cầu tuyển dụng. Số lượng đăng ký bảo hiểm thất nghiệp khoảng 11.160 người (tăng 24,8% so với cùng kỳ năm 2019), thành phố đã giải quyết chế độ bảo hiểm thất nghiệp cho 9.430 người (tăng 17,14% so với cùng kỳ), với kinh phí hơn 176 tỷ đồng (tăng 33,17% so với cùng kỳ); hướng dẫn, tiếp nhận thỏa ước lao động tập thể được 79 doanh nghiệp; hướng dẫn, thẩm định và ra thông báo thực hiện nội quy lao động cho 73 doanh nghiệp. Tỷ lệ lực lượng lao động tham gia BHXH ước đạt 38,90% (tăng 2,33% so với cùng kỳ); tỷ lệ lực lượng lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp ước đạt 34,30% (tăng 1,30% so với thời điểm cuối năm 2019).
Đến thời điểm báo cáo, trên địa bàn thành phố xảy ra 01 vụ đình công; xảy ra 10 vụ tai nạn làm 10 người chết.
Ngoài ra, thành phố chú trọng công tác triển khai thực hiện các biện pháp hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch Covid-19 theo Nghị quyết số 42/NQ-CP của Chính phủ, Quyết định số 15/2020/QĐ-TTg ngày 24/4/2020 của Thủ tướng Chính phủ; theo đó, đã tiếp nhận và trình Ủy ban nhân dân thành phố ra quyết địn hỗ trợ cho 3.215 lao động không có giao kết hợp đồng lao động bị mất việc làm.
* Công tác dạy nghề 
Trong 6 tháng đầu năm 2020, thành phố triển khai hỗ trợ đào tạo nghề cho lao động nông thôn thành phố Hải Phòng năm 2020; xây dựng Đề án "Quy định mức thu học phí năm học 2020-2021 đối với các trường đại học, cao đẳng, trung cấp công lập thuộc thành phố quản lý"; tổ chức thành công kỳ thi tay nghề thành phố năm 2020; tăng cường hiệu quả công tác tuyển sinh, đào tạo giáo dục nghề nghiệp, kiểm tra tổ chức hoạt động giáo dục nghề nghiệp tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp năm 2020.
Tổng số cơ sở giáo dục nghề nghiệp và có hoạt động giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn thành phố tại thời điểm báo cáo là 68 đơn vị (gồm 16 trường cao đẳng, 15 trường trung cấp, 12 trung tâm giáo dục nghề nghiệp (GDNN), 14 trung tâm GDNN-giáo dục thường xuyên các quận, huyện và 11 cơ sở hoạt động GDNN). Trong 6 tháng đầu năm 2020, công tác tuyển sinh đào tạo nghề nghiệp ước đạt khoảng 24.278 học viên, đạt 47% kế hoạch năm và bằng 125% so với cùng kỳ năm 2019. Tỷ lệ lao động qua đào tạo ước đạt 83,7%.
* Công tác người có công
Trong 6 tháng đầu năm 2020, thành phố đã tiến hành giải quyết chế độ chính sách cho 1.597 trường hợp, gồm: trợ cấp một lần cho 1.221 người, trợ cấp hàng tháng: 56 người, trợ cấp thờ cúng liệt sĩ: 320 trường hợp. Tiếp nhận, thẩm định để thực hiện chính sách và phục vụ công tác quản lý đối với 7.004 trường hợp; công nhận, đề nghị công nhận 145 người có công. 
* Công tác Bảo trợ xã hội
Tính từ đầu năm, đã tiếp nhận 22 đối tượng đưa vào điều trị, chăm sóc và nuôi dưỡng, tập trung được 162 lượt người lang thang (giảm 194 lượt người, tương ứng giảm 54,49% so với cùng kỳ năm 2019). Thực hiện chi trả trợ cấp xã hội thường xuyên tại cộng đồng và các chế độ hỗ trợ kinh phí đối với 75.013 đối tượng (tăng 0,25% so với cùng kỳ năm 2019), đảm bảo kịp thời, đầy đủ và đúng chính sách. Bên cạnh đó, hướng dẫn, đôn đốc các quận, huyện cấp 85.162 thẻ bảo hiểm y tế (bằng 82,4% so với cùng kỳ) cho các đối tượng bảo trợ xã hội, người cao tuổi, người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo.
* Công tác phòng, chống tệ nạn xã hội
Trong 6 tháng đầu năm 2020, thành phố đã tổ chức quản lý, cai nghiện ma túy tập trung tại các cơ sở cai nghiện ma túy cho 2.027 lượt người (bằng 93,90% so với cùng kỳ, bằng 63,34% so với kế hoạch năm 2020), cai nghiện tại gia đình và cộng đồng cho 113 người (bằng 61,75% so với cùng kỳ). 
Bên cạnh đó, tăng cường chỉ đạo các đoàn kiểm tra liên ngành, kết quả đã tiến hành kiểm tra 69 buổi tại 248 cơ sở kinh doanh dịch vụ nhà nghỉ, khách sạn, quán karaoke, qua đó nhắc nhở, yêu cầu chủ các cơ sở nghiêm túc chấp hành thực hiện các quy định trong phòng, chống tệ nạn xã hội đồng thời tuân thủ và thực hiện nghiêm chỉ đạo của UBND thành phố và cơ quan y tế về phòng, chống dịch Covid-19.

2. Giáo dục - Đào tạo

Ngành Giáo dục thực hiện nghiêm túc các chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo và Ủy ban nhân dân thành phố về việc phòng chống dịch bệnh Covid - 19. Sau thời gian nghỉ phòng chống dịch, các trường học hoạt động trở lại đồng thời tiếp tục chấp hành đầy đủ các quy định về phòng chống dịch bệnh.
Trong 6 tháng đầu năm 2020, ngành giáo dục thực hiện triển khai các quy trình thủ tục mua sắm sách, trang thiết bị dạy học cho các đơn vị trường học trên địa bàn, đồng thời phối hợp với các ngành có liên quan kiểm tra thực tế các phòng học mầm non xuống cấp cần sửa chữa, tổng hợp báo cáo UBND thành phố phê duyệt. Chủ động xây dựng kế hoạch, chuẩn bị chu đáo cho công tác tổ chức các kỳ thi chuyển cấp trong thời gian tới.

3. Y tế và An toàn vệ sinh thực phẩm
 

* Công tác y tế dự phòng
Công tác phòng chống dịch bệnh Covid-19
Trong thời gian qua, bám sát các khuyến cáo của WHO, chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Y tế, thành phố đã tiến hành xây dựng các kế hoạch và chủ động thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19 trên địa bàn.
Tính đến thời điểm báo cáo, trên địa bàn thành phố không phát sinh trường hợp nhiễm virus gây bệnh Covid-19; các trường hợp nghi nhiễm hiện đang được cách ly, giám sát y tế chặt chẽ theo đúng hướng dẫn và quy định.
Công tác phòng chống dịch bệnh truyền nhiễm khác
Tổ chức triển khai chiến dịch bổ sung vi chất dinh dưỡng đợt I trên toàn thành phố vào ngày 01-02/6/2020.
Diễn biến một số bệnh truyền nhiễm trên địa bàn thành phố so với tháng trước như sau: Bệnh sốt xuất huyết: ghi nhận 01 ca (giảm 01 ca); Bệnh Tay chân miệng là 21 ca (giảm 09 ca); Bệnh Thủy đậu ghi nhận 15 ca (tăng 06 ca); Bệnh Quai bị là 06 ca (tăng 03 ca); Bệnh Tiêu chảy ghi nhận 131 ca (tăng 61 ca); Hội chứng lỵ ghi nhận 03 ca (giảm 03 ca); Bệnh liên cầu lợn ở người không ghi nhận ca mắc. 
* Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm
Sở Y tế đã chỉ đạo Chi cục Vệ sinh An toàn thực phẩm và các trung tâm y tế quận/huyện đẩy mạnh các biện pháp bảo đảm an toàn thực phẩm, đồng thời tích cực tuyên truyền phòng chống dịch bệnh Covid-19.
Tăng cường kiểm tra, xử lý đối với sản phẩm nước ngọt, nước tăng lực lưu thông trên thị trường thành phố Hải Phòng, đặc biệt tại các trường học. Bên cạnh đó, thành phố triển khai kiểm tra an toàn thực phẩm đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm, dịch vụ ăn uống năm 2020 trong khoảng thời gian 20 ngày kể từ ngày 27/5/2020 nhằm nâng cao hiệu quả công tác bảo đảm an toàn thực phẩm trên địa bàn.
* Công tác phòng chống HIV/AIDS
Tính đến 01/6/2020, lũy tích người nhiễm HIV là 11.267 người, số người chuyển sang AIDS là 6.315 người, số người chết do AIDS là 5.315 người, và số người nhiễm HIV hiện còn sống là 5.952 người. So với cùng kỳ năm 2019, số người mới phát hiện giảm 02 trường hợp, số ca chuyển AIDS giảm 03 trường hợp và số ca tử vong là tương đương.
Cũng tính đến tháng 6/2020, trên địa bàn toàn thành phố có tổng số bệnh nhân điều trị Methadone là 3.974 người, số bệnh nhân đạt liều duy trì là 3.705 người.
 
4. Văn hóa - Thể thao

Tăng cường công tác quản lý nhà nước về di sản, di tích; hướng dẫn các địa phương thực hiện công tác tu bổ, tôn tạo di tích theo quy định. Nghiên cứu thực hiện chủ trương đầu tư Dự án xây dựng, lập quy hoạch bảo tồn các khu vực liên quan tới các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm trên sông Bạch Đằng.
Tiếp tục thực hiện Cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại” thành phố Hải Phòng giai đoạn 2013-2020. Đến nay, tỷ lệ người tập thể thao thường xuyên đạt 30%; số gia đình thể thao đạt 19%; tỷ lệ trường học dạy thể dục thể thao nội khóa đạt 100%, ngoại khóa đạt 84%, tổng số câu lạc bộ thể dục thể thao đạt 2.550 CLB... ; đối với thể thao thành tích cao, tiếp tục chỉ đạo công tác xây dựng lực lượng vận động viên, chú trọng duy trì và phát huy các môn thể thao Hải Phòng có thế mạnh. Triển khai xây dựng Đề án Đoàn vận động viên Hải Phòng tham dự Đại hội Thể thao toàn quốc lần thứ IX năm 2020 và Đề án phát triển thể thao thành tích cao thành phố Hải Phòng giai đoạn 2021 - 2026, định hướng đến năm 2030; đề xuất báo cáo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cho phép đăng cai tổ chức một số môn thi đấu tại SEA Games 31 năm 2021.

5. Tình hình trật tự an toàn giao thông

Công an các đơn vị trên toàn thành phố đã xây dựng kế hoạch, huy động lực lượng, bố trí cán bộ chiến sĩ trực chốt, phân luồng, điều tiết, hướng dẫn giao thông nhằm đảm bảo an ninh trật tự xã hội và an toàn giao thông trên địa bàn.
Từ ngày 15/5/2020 đến ngày 14/6/2020, toàn thành phố xảy ra 02 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm 03 người bị thương. Không có trường hợp tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng xảy ra, nguyên nhân chủ yếu là do sự bất cẩn, chưa tuân thủ quy định của người tham gia giao thông. 
Tính chung 6 tháng đầu năm, trên địa bàn thành phố đã xảy ra 26 vụ tai nạn giao thông. Các vụ tai nạn giao thông làm chết 22 người và bị thương 07 người. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giảm 20 vụ (tương ứng giảm 43,48%), số người chết giảm 16 người (tương ứng giảm 42,11%) và số người bị thương giảm 06 người (tương ứng giảm 46,15%).  

6. Công tác phòng chống cháy, nổ

Thành phố đã chú trọng tăng cường công tác tuyên truyền các biện pháp phòng chống cháy, nổ trên địa bàn. Tiến hành mở 204 lớp tuyên truyền về phòng cháy, chữa cháy cho 6.394 người, tổ chức 48 lớp huấn luyện nghiệp vụ, cấp giấy chứng nhận huấn luyện cho 1.539 người, 07 lớp huấn luyện nghiệp vụ cứu hộ, cứu nạn, cấp giấy chúng nhận huấn luyện cho 275 người. Tiến hành kiểm tra an toàn về phòng cháy chữa cháy 3.491 lượt cơ sở, xử phạt hành chính 129 trường hợp với số tiền 1,1 tỷ đồng. 
Tính từ đầu năm, trên địa bàn thành phố đã xảy ra 33 vụ cháy, bằng 68,75% so với cùng kỳ năm 2019, làm 03 người bị thương, giá trị thiệt hại về tài sản ước tính là 8.137 triệu đồng và 3,25 ha rừng. Trong thời gian tới, thành phố tiếp tục tăng cường tuyên truyền và đẩy mạnh các biện pháp phòng chống cháy, nổ; tích cực phối hợp liên ngành để kiểm tra công tác phòng cháy chữa cháy tại các địa bàn, cơ sở trọng điểm dễ xảy ra cháy nổ trên địa bàn.
Khái quát lại, kinh tế - xã hội thành phố Hải Phòng 6 tháng đầu năm 2020 mặc dù chịu nhiều ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 nhưng vẫn giữ được đà tăng trưởng tốt, tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) ước đạt 10,87%, tiếp tục là mức tăng cao so với các tỉnh, thành phố khác trong cả nước. Sáu tháng cuối năm 2020, kinh tế cả nước và thành phố được dự báo có nhiều thuận lợi hơn, bên cạnh đó tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức khi trên thế giới, tình hình dịch bệnh tiếp tục diễn biến hết sức phức tạp. Các cấp, ngành, địa phương, đơn vị cần tiếp tục tập trung cao công tác chỉ đạo, điều hành, nghiêm túc quán triệt, thực hiện các văn bản chỉ đạo của Thành ủy, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân thành phố, làm tốt công tác phòng chống dịch bệnh đi đôi với phát triển kinh tế - xã hội, trong đó tập trung vào các nhiệm vụ, giải pháp sau:  
Một là, tiếp tục thực hiện đồng bộ, hiệu quả các cơ chế, chính sách phù hợp, nhất là về tài chính, tiền tệ, an sinh xã hội để hỗ trợ người dân, doanh nghiệp, người lao động vượt qua khó khăn của đại dịch; đẩy mạnh cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư; có nhiều chính sách hỗ trợ tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp trong tìm kiếm thị trường cung ứng nguyên vật liệu; mở rộng thị trường xuất khẩu, hỗ trợ doanh nghiệp về vốn, thuế, lãi suất... 
Hai là, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, chủ động mọi tình huống ứng phó trong phòng chống thiên tai, dịch bệnh, nhất là trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 trên thế giới vẫn tiếp tục bùng phát trên diện rộng.
Ba là, đẩy nhanh phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, tập trung đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án trên địa bàn thành phố.
Bốn là, chủ động mọi tình huống ứng phó, phòng chống dịch bệnh bên cạnh công tác an sinh, phúc lợi xã hội, ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội./.

Tác giả bài viết: Cục Thống kê Hải Phòng

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 5 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây