Tình hình kinh tế - xã hội TP Hải Phòng tháng 12, 12 tháng năm 2018

Thứ sáu - 28/12/2018 12:48
Tổng sản phẩm trên địa bàn thành phố (GRDP) theo giá so sánh 2010, năm 2018 ước đạt 154.712,7 tỷ đồng, tăng 16,27% so với cùng kỳ năm trước, vượt kế hoạch năm 2018
BÁO CÁO
TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI THÁNG 12, 12 THÁNG NĂM 2018
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phố Hải Phòng thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2018 trong bối cảnh kinh tế thế giới và trong nước có nhiều chuyển biến. Kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát, tín dụng tăng trưởng mạnh; cải cách thể chế, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh được Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ chỉ đạo quyết liệt đang phát huy hiệu quả. Sự đổi mới phương pháp, sáng tạo trong lãnh đạo, quản lý, chỉ đạo, điều hành của Thành ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân thành phố đưa thành phố Hải Phòng bước vào thời kỳ mới, có sự phát triển mạnh mẽ, đột phá, tương xứng với tiềm năng và vị thế của thành phố lớn.
Bên cạnh những thuận lợi, thành phố tiếp tục đối diện với không ít khó khăn, thách thức. Tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, thị trường tài chính, tiền tệ biến đổi khó lường, xung đột vũ trang còn xảy ra tại nhiều khu vực, xu hướng gia tăng bảo hộ thương mại, các cải cách thuế của Mỹ và cuộc cạnh tranh về thuế, dự kiến sẽ ảnh hưởng tới xu hướng đầu tư toàn cầu. Tiềm năng, lợi thế lớn của thành phố chưa được khai thác, phát huy hiệu quả, hạ tầng kinh tế - xã hội chưa đồng bộ, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội đột phá mạnh mẽ của thành phố.
Với định hướng chỉ đạo quyết liệt của Thành ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân thành phố, sự nỗ lực, đổi mới, sáng tạo, quyết tâm, đoàn kết thống nhất cao của các cấp, ngành, địa phương, đơn vị và nhân dân, kinh tế - xã hội thành phố năm 2018 đã đạt được kết quả cao nổi bật, toàn diện trên mọi lĩnh vực, đưa thành phố trở thành điểm sáng của cả nước về phát triển kinh tế - xã hội.

I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ
1. Tăng trưởng kinh tế

 

Cơ cấu GRDP (%)

Tốc độ tăng trưởng
so với cùng kỳ
(%)
(Theo giá SS 2010)

Đóng góp vào mức tăng trưởng năm 2018 (điểm%)

TỔNG SỐ

100,00

16,27

16,27

   - Nông lâm, nghiệp và thủy sản

    4,92

 2,77

 0,14

  - Công nghiệp - Xây dựng

  44,30

25,97

11,24

  - Thương mại - Dịch vụ

  44,05

 9,69

 4,32

  - Thuế sản phẩm trừ trợ cấp

    6,73

 7,86

 0,57


Tổng sản phẩm trên địa bàn thành phố (GRDP) theo giá so sánh 2010, năm 2018 ước đạt 154.712,7 tỷ đồng, tăng 16,27% so với cùng kỳ năm trước, vượt kế hoạch năm 2018 (kế hoạch tăng 15%), là mức tăng cao nhất từ trước đến nay, đứng vị trí thứ hai của cả nước. Kết quả tăng trưởng này đã khẳng định tính đúng đắn, kịp thời, hiệu quả trong quá trình chỉ đạo điều hành của Thành ủy, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân thành phố.
Trong đó: khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,77% (kế hoạch tăng 2,75%), đóng góp 0,14 điểm phần trăm vào mức tăng chung; khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 25,97% (kế hoạch tăng 20,5%), đóng góp 11,24 điểm phần trăm vào mức tăng chung; khu vực dịch vụ tăng 9,69% (kế hoạch tăng 12,1%), đóng góp 4,32 điểm phần trăm vào mức tăng chung; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 7,86%, đóng góp 0,57 điểm phần trăm vào mức tăng chung.
Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản có mức tăng 2,77% từng bước khẳng định xu thế chuyển đổi cơ cấu ngành đã phát huy hiệu quả, việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, tạo các chuỗi cung ứng sản phẩm an toàn từ sản xuất đến chế biến được quan tâm, cơ cấu lại sản phẩm theo lợi thế và nhu cầu thị trường đã thúc đẩy sản xuất của khu vực này.
Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp vẫn duy trì mức tăng trưởng cao (tăng 26,56%), trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục khẳng định là điểm sáng, động lực chính của tăng trưởng kinh tế với mức tăng 28,88% so với năm 2017, đóng góp 9,89 điểm phần trăm vào mức tăng chung, đó là nhờ đóng góp của các ngành sản xuất sản phẩm điện tử; ngành sản xuất trang phục; ngành sản xuất bê tông và các sản phẩm từ xi măng; ngành sản xuất gỗ dán, gỗ lạng, ván ép...  Trong đó chủ lực là sản xuất các sản phẩm điện tử của công ty TNHH LG Display và công ty TNHH LG Innotek của tập đoàn LG đã đưa Hải Phòng trở thành một trong những trung tâm sản xuất điện tử lớn của cả nước.
Ngành xây dựng vẫn duy trì mức tăng trưởng cao, tốc độ tăng 22,08%, đóng góp 1,24 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung. Năm 2018 thành phố tập trung nguồn lực đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng giao thông và hạ tầng đô thị trọng điểm với hàng loạt các dự án lớn được triển khai và thực hiện góp phần làm thay đổi diện mạo của thành phố. Bên cạnh đó, các dự án trong và ngoài nước tập trung đẩy mạnh xây dựng cơ sở hạ tầng góp phần không nhỏ vào mức tăng trưởng của ngành xây dựng như: công ty TNHH LG Display và công ty TNHH LG Innotek của tập đoàn LG; tổ hợp nhà máy sản xuất ôtô VinFast và nhà máy sản xuất điện thoại VinSmart của tập đoàn Vingroup…
Năm 2018 khu vực dịch vụ có tốc độ tăng trưởng ổn định, các dự án đầu tư cho khu vực dịch vụ (dự án khu vui chơi giải trí, trung tâm thương mại, khách sạn 5 sao...) chưa đi vào hoạt động nên chưa có đóng góp vào tăng trưởng của khu vực này. Tuyến đường cao tốc Hải Phòng - Quảng Ninh, cầu vượt biển Tân Vũ - Lạch Huyện, cầu Bạch Đằng được đưa vào sử dụng giúp giao thông thuận lợi; cảng nước sâu Nam Đình Vũ và cảng Container quốc tế Hải Phòng được đưa vào khai thác từ tháng 5/2018 làm giảm tải cho các cảng nằm sâu trong nội địa và tăng năng lực tiếp nhận hàng hóa, đóng góp vào tăng trưởng của ngành vận tải kho bãi. Trong khu vực dịch vụ, ngành vận tải kho bãi tăng 12,9% so với năm 2017 và có mức đóng góp cao nhất vào mức tăng trưởng chung (1,9 điểm phần trăm); ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng cao nhất, tăng 15,96% và đóng góp 0,35 điểm phần trăm vào mức tăng chung; một số ngành dịch vụ khác cũng có mức tăng trưởng ổn định như: bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô tăng 9,95%, đóng góp 0,87 điểm phần trăm; ngành giáo dục và đào tạo tăng 7,84%, đóng góp 0,24 điểm phần trăm; hoạt động kinh doanh bất động sản tăng 5,07%, đóng góp 0,25 điểm phần trăm vào mức tăng chung…
Cơ cấu kinh tế thành phố chuyển dịch theo đúng định hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa: tỷ trọng khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm dần, năm 2017 chiếm 5,43% giảm còn 4,92% ở năm 2018; tỷ trọng khu vực công nghiệp và xây dựng tăng từ 41,02% năm 2017 lên 44,30% năm 2018; tỷ trọng khu vực dịch vụ năm 2017 chiếm 46,30% đến năm 2018 giảm còn 44,05%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 6,73% (năm 2017 chiếm 7,25%). GRDP bình quân đầu người ước tính đạt 97,43 triệu đồng, tương đương 4.292 USD, vượt kế hoạch năm đề ra (kế hoạch đạt 4.195 USD).
2. Sản xuất công nghiệp
Năm 2018 là năm đánh dấu ngành công nghiệp Hải Phòng có sự phát triển đột phá, với chỉ số phát triển sản xuất (PTSX) công nghiệp (IIP) cả năm ước tính tăng 25,21% so với cùng kỳ, cao nhất từ trước đến nay và vượt kế hoạch năm 2018 (kế hoạch tăng 22%). Trong bối cảnh nền công nghiệp Hải Phòng tăng trưởng đều kể từ năm 2014 với tốc độ tăng IIP bình quân ước đạt 18,63%/năm, năm 2018 tiếp tục giữ vững được đà phát triển và cao hơn các năm trước là kết quả của sự phấn đấu không ngừng của thành phố trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
 
Chỉ số PTSX công nghiệp quý IV/2018 tăng 11,05% so với quý III/2018 và tăng 25,3% so với cùng kỳ, trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 25,95%; ngành cung cấp nước và xử lý nước thải, rác thải tăng 7,12%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 24,49% và ngành khai khoáng giảm 46,29% so với cùng kỳ năm 2017. Quý IV/2018 tốc độ tăng chỉ số PTSX công nghiệp trên địa bàn thành phố giảm so với tốc độ tăng của quý III/2018 (+27,43%) và quý IV/2017 (+27,86%) do chỉ số PTSX công nghiệp tháng 12/2018 ước giảm 2,19% so với tháng trước và tăng 20,77% so với cùng kỳ, đây là mức tăng thấp nhất kể từ tháng 3/2018.
Tính chung cả năm 2018, trong các ngành kinh tế cấp I, chỉ số PTSX công nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 27,47%, đóng góp lớn nhất cho tăng trưởng chung toàn ngành với 24,14 điểm phần trăm; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 7,63%, đóng góp 1,09 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,54%, đóng góp 0,03 điểm phần trăm; riêng ngành khai khoáng giảm 12,46%, làm giảm 0,05 điểm phần trăm trong mức tăng chung.
 
Tốc độ tăng IIP

Trong 52 nhóm ngành kinh tế cấp 4 (từ tháng 12/2018 thêm ngành sản xuất môtô, xe máy của tổ hợp nhà máy sản xuất ôtô VinFast) có 23 ngành có chỉ số PTSX công nghiệp năm 2018 ước tăng so với cùng kỳ, trong đó: ngành sản xuất thiết bị truyền thông giữ mức tăng cao nhất, tăng 240,69%; sản xuất bê tông và các sản phẩm từ xi măng và thạch cao tăng 78,86%; sản xuất gỗ dán, gỗ lạng, ván ép vươn lên đứng thứ 3 với mức tăng 51,57%; ngành sản xuất sản phẩm điện tử dân dụng tăng 48,76%;...
Có 28 ngành có chỉ số PTSX công nghiệp giảm, trong đó ngành in ấn giảm sâu nhất, giảm 59,41%; ngành đóng tàu và cấu kiện nổi giảm 43,45%; sản xuất đồ chơi giảm 43,93%; sản xuất máy phát điện giảm 31,66%; sản xuất máy móc và thiết bị văn phòng giảm 14,46%;...
Năm 2018, sản xuất công nghiệp thành phố có tốc độ tăng cao do có sự đóng góp lớn của các dự án sản xuất sản phẩm công nghệ cao thuộc tập đoàn LG tại Hải Phòng như dự án sản phẩm màn hình điện thoại, tivi của công ty TNHH LG Display, dự án sản xuất sản phẩm modun camera điện thoại của công ty TNHH LG Innoteck, đưa Hải Phòng trở thành một trong những trung tâm sản xuất điện tử của cả nước. Đi vào sản xuất cuối năm 2017, sang năm 2018 các doanh nghiệp tiếp tục ổn định và tăng công suất mở rộng quy mô. Tháng 12/2018 mặc dù sản lượng sản xuất giảm so với các tháng trước nhưng trong cả năm 2018, dự kiến 2 doanh nghiệp đã đóng góp 65 nghìn tỷ đồng trong doanh thu toàn ngành công nghiệp, thu hút và tạo việc làm với thu nhập ổn định cho khoảng 11 nghìn lao động. 
Dự án thu hút nhiều lao động nhất hiện nay trên địa bàn thành phố là dự án may mặc của Công ty TNHH may Regina Miracle tại Khu công nghiệp VSIP Hải Phòng với 3 nhà máy đi vào sản xuất các sản phẩm là quần áo lót, quần áo thể thao. Tuy tỷ trọng doanh thu so với toàn ngành công nghiệp không lớn nhưng việc dự án đầu tư, đi vào sản xuất theo đúng tiến độ và tiếp tục mở rộng tăng quy mô đã góp phần tạo việc làm cho hơn 29 nghìn lao động. Theo kế hoạch khi dự án hoàn thành với 5 nhà máy, nhu cầu lao động sẽ lên tới hơn 40 nghìn người.
Bên cạnh các dự án FDI lớn sản xuất các sản phẩm công nghệ cao tác động chính tới tăng trưởng ngành công nghiệp Hải Phòng năm 2018, trong những tháng cuối năm ngành công nghiệp thành phố ghi nhận sự đóng góp của các doanh nghiệp, dự án công nghiệp trong nước, trong đó nổi bật nhất là 2 dự án của tập đoàn Vingroup:
Tổ hợp sản xuất ô tô và xe máy điện VinFast sau hơn một năm triển khai đầu tư xây dựng, tháng 11/2018 nhà máy sản xuất xe máy điện chính thức đi vào hoạt động và tiêu thụ lô đầu tiên với chính sách đặc biệt, giá bán chỉ bằng 60% giá thành, sản lượng sản xuất đạt hơn 5,3 nghìn sản phẩm, tháng 12 dự kiến đạt hơn 6,4 nghìn sản phẩm. Với các sản phẩm có tiêu chuẩn cao về chất lượng, hạ tầng dịch vụ đồng bộ, thu hút nhiều sự quan tâm của người tiêu dùng, dự kiến trong năm 2019, sản phẩm xe máy điện của doanh nghiệp ước tăng trưởng cao, chiếm lĩnh thị trường, tạo dựng thói quen cho người dân sử dụng phương tiện giao thông an toàn, thân thiện với môi trường, tiếp tục đóng góp cho tăng trưởng toàn ngành công nghiệp thành phố.
Công ty TNHH VinSmart được thành lập từ tháng 6/2018, sau hơn 5 tháng triển khai đầu tư, ngày 14/12/2018 doanh nghiệp đã cho ra mắt 04 mẫu sản phẩm đầu tiên, dự kiến sẽ có 30 nghìn máy được bán trong đợt đầu với chính sách ưu đãi giảm giá.
Các doanh nghiệp sản xuất bê tông và các sản phẩm từ xi măng từ đầu năm đến nay khối lượng sản xuất và tiêu thụ luôn ở mức cao, 12 tháng/2018 ước tăng 78,86% so với cùng kỳ, trong đó doanh nghiệp có khối lượng sản xuất lớn là công ty xây dựng Minh Đức với sản xuất tăng đột biến (năm 2018 ước tăng 88% so với năm 2017) do cung cấp khối lượng lớn sản phẩm cọc bê tông cho công trường Tổ hợp nhà máy sản xuất ô tô VinFast và một số công trình ở tỉnh Quảng Ngãi.
Ngành sản xuất giày dép ước cả năm 2018 có mức tăng trưởng 9,67% so với cùng kỳ, chủ yếu do sự dịch chuyển đơn hàng từ thị trường Trung Quốc, thị trường này có xu hướng chuyển sang sản xuất các sản phẩm công nghệ cao tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp Việt Nam. Trong thời gian tới, khi hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Châu Âu được ký kết, các doanh nghiệp giày dép Hải Phòng dự kiến sẽ có nhiều điều kiện thuận lợi để mở rộng sản xuất, tăng sản lượng.
Năm 2018, một số ngành công nghiệp có tỷ trọng lớn sản xuất giảm, ảnh hưởng đến tăng trưởng công nghiệp trên địa bàn thành phố:
Ngành sản xuất xi măng năm 2018 ước giảm 7,2% so với cùng kỳ do tiêu thụ gặp nhiều khó khăn, nguồn cung vượt quá cầu, xuất khẩu thu hẹp, thị trường nội địa có sự canh tranh gay gắt; sản lượng sản xuất năm 2018 ước giảm 170 nghìn tấn, sản lượng tiêu thụ ước giảm 130 nghìn tấn so với năm 2017, trong khi chi phí nguyên liệu đầu vào như than, điện tăng giá đã ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất của các doanh nghiệp.
Ngành sản xuất sắt thép ước năm 2018 giảm 3,86% so với cùng kỳ, tháng 12/2018 ước giảm 5,29% so với tháng trước và giảm 33,26% so với cùng kỳ, trong đó các doanh nghiệp sản xuất phôi thép xuất khẩu gặp khó khăn do chính sách phòng vệ thương mại cạnh tranh ngày càng gay gắt ngay tại thị trường nội địa, biến động giá phôi ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, thiếu nguồn sắt phế liệu để sản xuất phôi, còn lượng lớn sản phẩm tồn kho…
Ngành sản xuất bia năm 2018 ước giảm 20,64% so với năm 2017 trong đó các doanh nghiệp như công ty cổ phần bia Hà Nội - Hải Phòng giảm 14,2%, công ty cổ phần bia Habeco giảm 49,6% do nhu cầu thị trường đang chuyển sang sử dụng những sản phẩm cao cấp hơn đồng thời có dung tích nhỏ hơn, trong khi 2 doanh nghiệp chỉ gia công loại chai đỏ to có dung tích 450ml. 
Một số ngành sản xuất giảm do thiếu đơn hàng như ngành đóng tàu, sản xuất máy in, sản xuất máy phát điện...
* Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 12/2018 ước giảm 0,7% so với tháng trước và giảm 9,4% so với cùng kỳ năm trước, cộng dồn 12 tháng năm 2018 chỉ số tiêu thụ ước tăng 6,3% so với năm 2017, trong đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ ước tăng cao so cùng kỳ: sản xuất trang phục tăng 44,1%; sản xuất bánh bi, bánh răng, hộp số tăng 34,9%; sản xuất bê tông và các sản phẩm từ xi măng tăng 79,4%, sản xuất giày dép tăng 12,8%; sản xuất plastic và cao su tổng hợp tăng 25%...
Một số ngành có chỉ số tiêu thụ ước năm 2018 giảm so cùng kỳ: sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm và thủy sản giảm 7,3%; sản xuất thuốc, hóa dược giảm 21%; sản xuất đồ điện dân dụng giảm 13,5%, sản xuất săm lốp cao su giảm 4,8%...
* Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tại thời điểm 31/12/2018 tăng 7,5% so với tháng trước và tăng 9,1% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó một số ngành có chỉ số tồn kho ước tăng cao so cùng kỳ: sản xuất sắt, thép, gang tăng 131,4%; sản xuất sản phẩm từ plastic tăng 53,9%; sản xuất cấu kiện kim loại tăng 26,7%; sản xuất dây cáp, dây điện tăng 63,4%, sản xuất các sản phẩm từ cao su tăng 50,3%.
Một số ngành có chỉ số tồn kho ước giảm so với cùng kỳ như: sản xuất săm lốp cao su giảm 35,9%; sản xuất máy móc và thiết bị văn phòng giảm 79,1%; sản xuất thiết bị truyền thông giảm 90,7%; may trang phục giảm 3,2%; sản xuất sản phẩm điện tử dân dụng giảm 32,3%.
* Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp ước tại thời điểm 31/12/2018 tăng 2,1% so với tháng trước và tăng 9% so với cùng kỳ, trong đó lao động khu vực doanh nghiệp nhà nước giảm 6,2%; lao động doanh nghiệp ngoài nhà nước tăng 5,1%; lao động doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 13%. 
Chia theo ngành cấp I: ngành khai khoáng tăng 3,9%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,6%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng giảm 8,9%; ngành cung cấp nước, quản lý, xử lý nước rác thải, nước thải tăng 0,1%.
* Một số sản phẩm công nghiệp ước 12 tháng năm 2018 so cùng kỳ: quần áo các loại đạt 134 triệu cái, tăng 27%; phân bón 245,6 nghìn tấn, giảm 3,7%; màn hình khác 8.477 nghìn cái, tăng 14%; máy giặt 1.363,6 nghìn cái, tăng 0,05%; lốp xe 2.621,6 nghìn cái, giảm 4,7%; sắt thép các loại 1.418,2 nghìn tấn, giảm 1,9%; xi măng Portland đen 4.783,3 nghìn tấn, giảm 7,2%; điện sản xuất đạt 6.367,7 triệu Kwh, tăng 6,7%.
Trong quý IV/2018 một số sản phẩm công nghiệp tăng cao so với quý III/2018: máy giặt đạt 418,7 nghìn cái, tăng 13,9%; phân bón đạt 79,4 nghìn tấn, tăng 207,8%, điện sản xuất đạt 1.571,6 triệu Kwh, tăng 42,4%; xi măng Portland đen đạt 1.318 nghìn tấn, tăng 24,5%. Một số sản phẩm giảm như: điện thoại di động đạt 1.292 nghìn cái, giảm 47,4%; các bộ phận của bánh bi, bánh răng và truyền chuyển động khác đạt 1.261 tấn, giảm 14,5%.
3. Hoạt động của doanh nghiệp
3.1. Tình hình đăng ký doanh nghiệp

Trong tháng 12/2018, toàn thành phố có 220 doanh nghiệp (DN) thành lập mới với số vốn đăng ký là 1.400 tỷ đồng, giảm 1,35% về số DN và giảm 10,56% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước; vốn đăng ký bình quân một DN đạt 6,36 tỷ đồng, tăng 9,3% so với cùng kỳ. Số chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh thành lập mới trong tháng là 110 cơ sở, giảm 46,60% so với cùng kỳ.
Tính chung năm 2018, toàn thành phố có 3.155 DN đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 21,05 nghìn tỷ đồng, tăng 5,27% về số DN và tăng 17,11% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2017; vốn đăng ký bình quân một DN thành lập mới đạt 6,67 tỷ đồng, tăng 11,25%. Số chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh thành lập mới trong năm là 1.559 cơ sở, tăng 2,57% so với năm trước.
Dự kiến trong tháng 12 năm 2018, thành phố có 15 DN và 60 chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh tiến hành thủ tục giải thể. Cộng dồn cả năm 2018, số DN thực hiện thủ tục giải thể là 137 và đối với chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh là 509 cơ sở.
Về thực hiện thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp: bộ phận Đăng ký kinh doanh Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố trong tháng 12 năm 2018 đã thực hiện 20 lượt yêu cầu giải trình tình hình hoạt động đối với các DN, thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp của 38 DN. Cộng dồn từ đầu năm 2018, có 623 DN được yêu cầu giải trình tình hình hoạt động, 117 DN bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. 
3.2. Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp
Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của 180 doanh nghiệp (DN) ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cho thấy: 81,66% số DN đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh quý IV/2018 so với quý III/2018 tốt lên và giữ ổn định (39,44% DN đánh giá tốt lên và 42,22% DN đánh giá giữ ổn định), có 18,34% cho rằng khó khăn hơn. Trong đó, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài lạc quan nhất với 85,91% DN đánh giá tốt lên và giữ ổn định (32,39% tốt lên, 53,52% giữ ổn định); tỷ lệ này ở khu vực DN nhà nước và DN ngoài nhà nước cho kết quả lần lượt là 57,15% (42,86% tốt lên; 14,29% giữ ổn định) và 82,10% (44,21% tốt lên và 37,89% giữ ổn định). 
Trong các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh quý IV/2018, có 49,44% DN đánh giá khả năng cạnh tranh cao của hàng hóa trong nước là yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; 37,22% DN cho rằng không tuyển dụng được lao động theo yêu cầu; 36,67% DN cho rằng nhu cầu thị trường trong nước thấp; 25,56% DN cho rằng tính cạnh tranh của hàng nhập khẩu cao và 24,44% DN cho rằng gặp khó khăn về tài chính là yếu tố quan trọng.
Quý I/2019 dự báo tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn hơn so với quý IV/2018 với tỷ lệ số DN dự báo tình hình sản xuất kinh doanh khó khăn hơn tăng lên 24,44%; 75,56% DN dự báo tình hình sản xuất kinh doanh tốt lên và ổn định (36,67% DN dự báo tốt lên; 38,89% DN dự báo ổn định). Khu vực DN có vốn đầu tư nước ngoài có tỷ lệ DN dự báo tình hình sản xuất kinh doanh tốt lên và giữ ổn định ở quý I/2019 cao nhất với 80,28%; tỷ lệ này ở khu vực DN ngoài nhà nước và khu vực DN nhà nước lần lượt là 73,69% và 64,29%. Một số ngành dự báo khả quan về khối lượng sản xuất quý I/2019 tăng lên so với quý IV/2018 như: chế biến, bảo quản thủy sản và các sản phẩm từ thủy sản; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học; sản xuất thiết bị điện...
4. Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản
Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2018 (giá so sánh 2010) trên địa bàn thành phố ước đạt 14.897 tỷ đồng, tăng 2,82% so với năm 2017 và vượt 0,9% so với kế hoạch năm (kế hoạch năm đạt 14.762 tỷ đồng, tăng 2,77% so với năm 2017). Trong đó: giá trị sản xuất nông nghiệp ước đạt 10.451,9 tỷ đồng, tăng 0,61% so với năm 2017; giá trị sản xuất lâm nghiệp ước đạt 33,2 tỷ đồng, giảm 2,35% so với năm 2017; giá trị sản xuất thủy sản ước đạt 4.412,0 tỷ đồng, tăng 8,5% so với năm 2017.
4.1. Nông nghiệp
* Trồng trọt
- Cây hàng năm
Thực hiện năm 2018, tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm toàn thành phố đạt 89.501,4 ha, bằng 95,98%, giảm 3.745,9 ha so với năm 2017. Diện tích canh tác cây trồng có xu hướng giảm trong những năm gần đây chủ yếu do nguyên nhân thiếu lao động, chuyển đất dự án, khu công nghiệp, chuyển xây dựng các công trình thủy lợi, giao thông, nuôi trồng thủy sản. 
Trong tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm, diện tích gieo cấy lúa đạt 69.339,8 ha, bằng 95,98%, giảm 2.903,3 ha so với cùng kỳ năm trước; năng suất lúa ước đạt 63,57 tạ/ha, bằng 105,17%, tăng 3,12 tạ/ha so với cùng kỳ năm trước, trong đó năng suất lúa mùa đạt 57,24 tạ/ha, bằng 110,32%, tăng 5,35 tạ/ha so với cùng kỳ năm trước (là mức năng suất cao nhất trong 5 năm gần đây); sản lượng lúa cả năm ước đạt 440.809,9 tấn, bằng 100,94%, tăng 4.121,2 tấn so với cùng kỳ năm trước.
Ước tính năm 2018, tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm khác đạt 20.161,6 ha, bằng 95,99%, giảm 843 ha so với cùng kỳ năm trước, trong đó: diện tích ngô đạt 942,8 ha, bằng 89,92%, giảm 105,7 ha, diện tích canh tác cây ngô chưa được ổn định do phụ thuộc nhiều vào thời tiết trong thời điểm làm đất gieo trồng; cây khoai lang đạt 705,9 ha, bằng 99,28%, giảm 5,1 ha; cây mía đạt 67,8 ha, bằng 105,61%, tăng 3,6 ha; cây thuốc lào đạt 2.113,1 ha, bằng 85,47%, giảm 359,3 ha, diện tích cây thuốc lào giảm chủ yếu ở các vùng trồng cho năng suất thấp, chất lượng thuốc không ngon, giá bán so với các vùng trồng chuyên canh không được cao; cây rau các loại đạt 13.812,2 ha, bằng 96,61%, giảm 485,2 ha; cây ớt đạt 1.005,7 ha, bằng 97,44%, giảm 26,4 ha.
Sản xuất nông nghiệp năm 2018, mặc dù chịu ảnh hưởng bất lợi của thời tiết, côn trùng phá hoại, diện tích đất canh tác giảm, nhưng với sự chỉ đạo, quan tâm của các cấp, ngành đưa giống cây trồng tốt, năng suất cao, chịu được sâu bệnh, triển khai phòng chống bệnh cây trồng ngay từ khâu làm đất và xử lý hạt giống nên năng suất của nhóm cây trồng giữ được ổn định và tăng cao hơn so với cùng kỳ năm trước. Năng suất cây ngô ước đạt 51,73 tạ/ha, bằng 102,15%, tăng 1,09 tạ/ha, sản lượng cây ngô đạt 4.877,2 tấn; cây khoai lang đạt 109,48 tạ/ha, bằng 100,2%, tăng 0,22 tạ/ha; năng suất cây mía đạt 574,3 tạ/ha, bằng 97,61%, giảm 14,1 tạ/ha, sản lượng mía đạt 3.893,4; năng suất cây thuốc lào đạt 17,26 tạ/ha, bằng 100,24%, tăng 0,04 tạ/ha, sản lượng cây thuốc lào đạt 3.648,3 tấn; năng suất cây rau các loại đạt 228,67 tạ/ha, bằng 102,04%, tăng 4,58 tạ/ha, sản lượng cây rau các loại đạt 315.836,8 tấn; năng suất cây ớt đạt 220,95 tạ/ha, bằng 101,43%, tăng 3,12 tạ/ha, sản lượng cây ớt đạt 22.221,1 tấn.
- Cây lâu năm 
Ước tính năm 2018, diện tích cây trồng lâu năm trên địa bàn thành phố đạt 7.039,2 ha, bằng 101,07%, tăng 74,7 ha so với cùng kỳ năm trước; diện tích trồng cây lâu năm tăng do chuyển đổi từ diện tích đất trồng cây hàng năm kém hiệu quả sang trồng cây lâu năm, diện tích tăng đều ở các nhóm cây, mở rộng quy mô cây trồng tại những vùng trồng tập trung chuyên canh và cây trồng phân tán trên đất vườn của các hộ dân…Trong đó: diện tích nhóm cây ăn quả nhiệt đới và cận nhiệt đới đạt 4.028,5 ha, bằng 101,73%, tăng 68,5 ha so với cùng kỳ năm trước, đáng chú ý nhất là tốc độ tăng 172,51% so với năm trước của cây thanh long do những năm gần đây giống thanh long ruột đỏ có thị trường tiêu thụ và giá thành ổn định nên nhiều hộ dân mở rộng diện tích trồng; nhóm cây nhãn, vải có diện tích 1.079,5 ha, bằng 100,3% so với năm trước, tăng 3,2 ha, vùng trồng nhãn,vải lớn nhất của thành phố như huyện An Lão với diện tích 467 ha; huyện Thủy Nguyên 262,1 ha; huyện Vĩnh Bảo 192,8 ha; cây dừa đạt 247,5 ha, bằng 100,46%, tăng 1,2 ha so với cùng kỳ. 
Thời tiết năm nay thuận lợi cho cây trồng lâu năm phát triển, các loại cây đều có tỷ lệ đậu quả cao, năng suất giữ được sự ổn định và tăng so với năm 2017, cụ thể một số cây trồng có năng suất tăng như: cây na ước đạt 108,1 tạ/ha, bằng 3,01%, tăng 3,1 tạ/ha; cây đu đủ đạt 154,1 tạ/ha, bằng 100,95%, tăng 1,5 tạ/ha; cây táo đạt 152,7 tạ/ha, bằng 102,02%, tăng 3 tạ/ha; cây vải đạt 80,5 tạ/ha, bằng 101,49%, tăng 1,2 tạ/ha.
Sản lượng cây ăn quả của toàn thành phố năm 2018 ước đạt 110.771,2 tấn, tăng 2.861,9 tấn, bằng 102,65% so với năm 2017. Trong đó sản lượng một số cây trồng tăng như: cây xoài đạt 2.529,3 tấn, tăng 52 tấn; cây chuối đạt 73.722,2 tấn, tăng 1.036 tấn, cây nhãn đạt 3.168,6 tấn, tăng 194 tấn, cây vải đạt 5.635,8 tấn, tăng 94 tấn; cây táo đạt 2.101,9 tấn, tăng 340 tấn so với cùng kỳ năm trước.
-  Sản xuất vụ Đông-xuân 2018-2019
Thời tiết vụ Đông năm 2018 diễn biến tương đối phức tạp, giai đoạn đầu vụ thời tiết ấm, không khí hanh khô khá thuận lợi cho gieo trồng nhóm cây ưa ấm nhưng ảnh hưởng đến tiến độ gieo trồng nhóm cây ưa lạnh. 
Ước tính đến ngày 15/12/2018, diện tích gieo trồng cây vụ Đông đạt 7.150 ha, bằng 93,13% so vụ Đông năm trước, trong đó: cây ngô đạt 300 ha, bằng 87,01%; cây cải xanh đạt 1.085 ha, bằng 84,93%; cây ớt đạt 380 ha, bằng 90,58%; cây khoai tây đạt 512 ha, bằng 90,48%. Cây trồng vụ Đông cơ bản gieo trồng xong, cây đang trong giai đoạn sinh trưởng, phát triển, chuẩn bị thu hoạch: cây cà chua, bí xanh, dưa chuột đang trong giai đoạn ra hoa và phát triển quả; cây rau bắp cải, súp lơ đang trong giai đoạn phát triển thân lá; cây khoai tây, củ đậu đang trong giai đoạn phát triển củ... Tổng diện tích nhiễm sinh vật gây hại ước khoảng 9,3 ha, sinh vật gây hại chính chủ yếu là: sâu tơ, sâu xanh, bướm trắng, bọ nhảy gây hại rải rác trên cây họ thập tự (bắp cải, su hào, xúp lơ); bọ trĩ trên cây ớt, bệnh héo xanh, bệnh lùn sọc đen trên cây ngô,…
Ước tính đến ngày 15/12/2018, sản xuất vụ Xuân đã cày lật đất là 6.455 ha, đạt 19,13% diện tích kế hoạch gieo cấy, diện tích mạ đã gieo đạt 36 ha, tăng 12,1 ha so với vụ Xuân năm trước. Các địa phương đã triển khai kế hoạch sản xuất vụ Xuân: vệ sinh đồng ruộng, cày lật đất để ải…; đảm bảo đủ số lượng và chất lượng vật tư giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật nhằm phục vụ sản xuất vụ Xuân.
* Chăn nuôi
Theo số điều tra thời điểm 1/10/2018, số lượng đầu con gia súc, gia cầm toàn thành hiện có như sau: đàn trâu đạt 5.199 con, bằng 97,09% so với cùng kỳ năm trước; đàn bò đạt 13.033 con, bằng 96,58% so với cùng kỳ năm trước; đàn lợn đạt 422.405 con, bằng 94,71% so với cùng kỳ năm trước; đàn gia cầm đạt 7.988,6 tỷ đồng, bằng 101,76% so với cùng kỳ năm trước.
Ước tính tháng 12 năm 2018, chăn nuôi gia súc tiếp tục có xu hướng giảm, trong đó: đàn trâu đạt 5.200 con, bằng 97,38% so với cùng kỳ năm trước; đàn bò đạt 13.001 con, bằng 97,98% so với cùng kỳ năm trước; đàn lợn đạt 418.552 con, bằng 95,12% so với cùng kỳ; đàn gia cầm ổn định và tăng nhẹ so với cùng kỳ, tổng đàn gia cầm đạt 7.873,2 nghìn con, bằng 101,69% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: đàn gà đạt 6.236,5 nghìn con, bằng 101,95%.
Giá giống vật nuôi và thức ăn chăn nuôi ổn định, giá sản phẩm chăn nuôi đầu ra có biến động nhẹ, giá lợn hơi giảm nhẹ so với tháng trước.
* Tình hình dịch bệnh: 
Tính từ trung tuần tháng 11/2018 đến nay trên địa bàn thành phố không có dịch bệnh xảy ra trên đàn vật nuôi. 
- Tình hình sản xuất quí IV/2018
Ước tính quý IV năm 2018, sản lượng thịt hơi xuất chuồng của gia súc, gia cầm đạt 31,5 nghìn tấn, bằng 99,61% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: thịt lợn đạt 19,1 nghìn tấn, bằng 98,13%; thịt bò đạt 0,3 nghìn tấn, bằng 106,91%; thịt gà đạt 11,9 nghìn tấn, bằng 101,72%; sản lượng trứng gia cầm đạt 75,19 triệu quả bằng 102,48% so với cùng kỳ năm trước.
Chăn nuôi lợn quý IV/2018 có nhiều chuyển biến tích cực do giá xuất chuồng ổn định, tuy nhiên tổng đàn lợn vẫn có xu hướng giảm, mức giảm chủ yếu tại khu vực chăn nuôi nhỏ lẻ do giá sản phẩm đầu ra tuy cao nhưng thị trường thiếu ổn định và khôngcó yếu tố đảm bảo giá bán tiếp tục được duy trì trong thời gian tiếp theo do chu kỳ sản xuất tương đối dài.
 Đối với chăn nuôi gia cầm giá sản phẩm xuất chuồng tương đối ổn định.Hiện nay hoạt động chăn nuôi gia cầm, nhất là nuôi gà, đã sôi động trở lại. Đây là kết quả của quá trình dịch chuyển từ chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán sang phát triển chăn nuôi tập trung theo trang trại, gia trại. 
- Tình hình sản xuất năm 2018
Sản xuất chăn nuôi năm 2018 tương đối thuận lợi, tình hình thời tiết bất thường, đầu năm chịu ảnh hưởng của một số đợt rét đậm, rét hại, ảnh hưởng của dịch bệnh cúm gia cầm, dịch tả lợn châu Phi, nhưng với sự quan tâm của các cấp ngành đã kịp thời chỉ đạo, tuyên truyền, phòng chống chuẩn bị tốt cho đàn vật nuôi, do vậy không xảy ra thiệt hại lớn trên đàn vật nuôi.Tính từ đầu năm đến nay tổng lượng đàn gia cầm ốm, chết, tiêu hủy trên địa bàn thành phố là 17.194 con (số gia cầm ốm, chết do chủ thể chăn nuôi tự tiêu hủy trước khi xác định nguyên nhân là 8.778 con, số gia cầm tiêu hủy bắt buộc là 8.416 con). 
Ước tính năm 2018, tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng của gia súc, gia cầm đạt 123,2 nghìn tấn, bằng 100,75% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: thịt trâu đạt 0,7 nghìn tấn, bằng 109,64%; thịt bò đạt 1,4 nghìn tấn, bằng 106,88%; thịt lợn đạt 71,7 nghìn tấn, bằng 100,23%; thịt gà đạt 46,9 nghìn tấn, bằng 101,45%.
Sản lượng trứng gia cầm cả năm ước đạt 305,7 triệu quả, bằng 102,36%, trong đó: trứng gà đạt 198,1 triệu quả, bằng 101,73%; trứng vịt đạt 105,1 triệu quả, bằng 103,62% so với cùng kỳ.
Sản xuất ngành chăn nuôi những năm tiếp theo cần được các cấp, ngành tiếp tục xây dựng cơ chế, chính sách để các chủ thể chăn nuôi tiếp cận vốn vay đầu tư sản xuất, thu hút vốn đầu tư của các dự án nông nghiệp chất lượng cao,... nhằm đầu tư phát triển cơ sở chăn nuôi tập trung quy mô lớn với phương thức sản xuất nông nghiệp mang tính ổn định. Đẩy nhanh xu hướng liên kết trong sản xuất theo các hình thức, tính đến nay toàn thành phố mới có 2 cơ sở chăn nuôi theo chuỗi liên kết sản xuất. So với các địa phương lân cận số lượng chuỗi liên kết chăn nuôi trên địa bàn thành phố còn thấp. Bên cạnh đó để đảm bảo phát triển ngành bền vững cần có sự rà soát, điều chỉnh bổ sung và xây dựng chi tiết quy hoạch ngành và định hướng sản phẩm chủ yếu phục vụ tái cơ cấu ngành gắn với chế biến, tiêu thụ và coi trọng yếu tố thị trường...
4.2. Lâm nghiệp
Ước tính tháng 12/2018, sản lượng gỗ khai thác đạt 180 m3, bằng 92,3% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng củi khai thác đạt 5.955 ste, bằng 98,2% so với cùng kỳ năm trước (sản lượng gỗ, củi chủ yếu được khai thác và thu nhặt từ cây lâm nghiệp trồng phân tán nên không tập trung và phân bổ không đồng đều giữa các tháng trong năm). Diện tích rừng được giao khoán bảo vệ 15.439,4 ha.
Trong tháng mặc dù thời tiết bắt đầu chuyển khô, hanh nhưng không có vụ cháy rừng nào xảy ra.
Ước tính năm 2018, sản lượng gỗ khai thác đạt 3.095 m3, bằng 96,7% so với cùng kỳ năm trước, sản lượng củi khai thác đạt 63.840 ste, bằng 97,5% so với cùng kỳ năm trước; số cây nông nghiệp trồng phân tán đạt 208,5 nghìn cây; diện tích rừng trồng mới tập trung đạt 56,5 ha, bằng 59,9% so với cùng kỳ năm trước. 
Diện tích rừng được giao khoán bảo vệ đạt 15.439,4 ha. Trong năm 2018 toàn thành phố xảy ra 03 vụ cháy rừng, bằng 30% so với cùng kỳ năm trước, tổng diện tích thiệt hại là 5,65 ha, bằng 24,3% so với cùng kỳ năm trước, diện tích rừng bị cháy chủ yếu là thảm thực bì nên không ảnh hưởng đến diện tích rừng hiện có.
Thành phố đã triển khai vận dụng thực hiện đồng bộ các cơ chế chính sách của trung ương, đồng thời xây dựng cơ chế chính sách đặc thù phù hợp với địa phương trong công tác bảo vệ và phát triển rừng: hỗ trợ khoán bảo vệ rừng (đối tượng là toàn bộ rừng ven biển, rừng phòng hộ đồi núi và rừng đặc dụng khu xung yếu), hỗ trợ trồng cây xanh tạo cảnh quan tại các xã nông thôn mới trên địa bàn thành phố.
4.3. Sản xuất thủy sản
Sản lượng nuôi trồng và khai thác thủy sản tháng 12/2018 ước đạt12.085,2 tấn, tăng 821,5 tấn (+7,29%) so với cùng kỳ năm trước; quý IV/2018 ước đạt 41.925,4 tấn, tăng 4.767,8 tấn (+12,83%) so với cùng kỳ năm trước. Ước cả năm 2018 đạt 158.476,6 tấn, tăng 16.804 tấn (+11,86%) so với cùng kỳ năm trước.
* Nuôi trồng 
Diện tích nuôi trồng thủy sản năm 2018 ước đạt 13.001 ha, tăng 1,91% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: cá các loại đạt 8.178,3 ha, tăng 3,36%; tôm các loại đạt 3.302,9 ha, bằng 98,94%; thủy sản khác đạt 1.519,8 ha, tăng 0,85%.
 Sản lượng nuôi trồng thủy sản thu hoạch tháng 12/2018 ước đạt 5.302,2 tấn, bằng 108,95% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: cá các loại đạt 3.293 tấn, bằng 109,75%; tôm các loại đạt 801,7 tấn, bằng 114,68%; thủy sản khác đạt 1.207,5 tấn, bằng 103,49%. Ước tính quý IV/2018, sản lượng thủy sản nuôi trồng thu hoạch đạt 16.728,5 tấn, bằng 110,4% so cùng kỳ năm trước, chia ra: cá các loại đạt 12.609 tấn, bằng 128,82%; tôm các loại đạt 1.370,5 tấn, bằng 95,25%; thủy sản khác đạt 2.748,9 tấn, bằng 70,02%. Tính chung cả năm 2018, sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 63.689 tấn, bằng 103,14% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: cá các loại đạt 42.948,8 tấn, bằng 113,57%; tôm các loại đạt 5.972,8 tấn, bằng 115,26%; thủy sản khác đạt 14.767,5 tấn, bằng 78,75%.
Trong tháng 12/2018, không khí lạnh từ phía Bắc hoạt động mạnh dần, đã xuất hiện những đợt rét đậm dài ngày gây bất lợi cho hoạt động sản xuất ngành nuôi trồng những tháng cuối năm.
 Khu vực nuôi cá lồng bè, nuôi nước ngọt, nước lợ tiếp tục thu hoạch sản phẩm thủy sản đạt kích cỡ thương phẩm nhất là những đối tượng chịu rét kém như cá rô phi, cá vược, cá song... xuất bán, chủ yếu phục vụ tiêu thụ trong nước; chủ động các biện pháp phòng tránh rét, tích cực chăm sóc đàn thủy sản thương phẩm để thu hoạch sản phẩm dịp cuối năm, đảm bảo nhu cầu tiêu dùng trong dịp Tết nguyên đán. Các bãi nuôi nhuyễn thể, tiến hành kiểm tra, gia cố tu sửa hệ thống đăng chắn; vệ sinh lưới vây, san thưa rải đều ngao do bị dồn vào chân vây phía cuối hướng gió hoặc dòng chảy trong những đợt gió mùa Đông bắc hoạt động mạnh.
Các trại sản xuất giống thủy sản nước ngọt tập trung lưu giữ, chăm sóc đàn cá bố mẹ, tu sửa hệ thống bể trại, chuẩn bị cho vụ sản xuất 2019. Đối với các trại sản xuất giống nước lợ, nước mặn có hệ thống nâng nhiệt, chủ động cho sinh sản tôm sú, tôm rảo, cua biển, đáp ứng nhu cầu thả bù giống lợ, mặn của các đầm nuôi. Thời tiết trong tháng có nhiều diễn biến bất lợi, các cơ sở nuôi cần chủ động áp dụng các biện pháp kỹ thuật phòng chống rét, ổn định môi trường, tập trung chăm sóc, phòng trị bệnh kịp thời cho tôm, cá, hạn chế thiệt hại xảy ra. Sản lượng con giống năm 2018 ước đạt 2.063,8 triệu con, bằng 106,79% so với cùng kỳ năm trước. 
* Khai thác 
Trên thị trường sức tiêu thụ thủy hải sản được đảm bảo, giá mặt hàng thủy hải sản tương đối cao; giá nhiên liệu cho hoạt động khai thác giữ ở mức tương đối ổn định đã tạo động lực cho ngư dân hăng say bám biển. 
Sản lượng khai thác thủy sản tháng 12/2018 ước đạt 6.783 tấn, bằng 106,03% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: cá các loại đạt 3.190 tấn, bằng 107,69%; tôm các loại đạt 1.074,9 tấn, bằng 102,22%; thủy sản khác đạt 2.518,1 tấn, bằng 105,66%. Ước tính quý IV/2018, sản lượng thủy sản khai thác đạt 25.196,9 tấn, bằng 114,51% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: cá các loại đạt 13.303,8 tấn, bằng 91,62%; tôm các loại đạt 3.043 tấn, bằng 181,33%; thủy sản khác đạt 8.850,1 tấn, bằng 152,45%. Tính chung cả năm 2018, sản lượng khai thác thủy sản đạt 94.787,6 tấn, bằng 118,6% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: cá các loại đạt 55.835,4 tấn, bằng 118,42%; tôm các loại đạt 8.181,8 tấn, bằng 128,62%; thủy sản khác đạt 30.770,5 tấn, bằng 116,51%.  
Tính sơ bộ tổng số tàu thuyền khai thác hải sản có động cơ năm 2018 là 2.057 tàu thuyền, giảm 240 phương tiện, với tổng công suất đạt 161,8 nghìn CV, tăng 7,1 nghìn CV so với cùng kỳ năm trước. Quy mô đội tàu khai thác của thành phố giảm chủ yếu tại nhóm tàu có công suất nhỏ dưới 90CV và tăng tại nhóm có công suất từ 90CV đến trên 400CV nhằm đảm bảo cho mục tiêu nâng cao năng lực khai thác vươn khơi và bám biển dài ngày…
Vụ cá Bắc đang chịu ảnh hưởng trực tiếp của gió mùa Đông Bắc, không khí lạnh tăng cường ở Bắc bộ trong tháng 12, ngư trường chịu ảnh hưởng của thời tiết nhiều nhất là vùng Vịnh Bắc Bộ, nhiệt độ nước biển giảm, cá nổi ở ngoài khơi di cư xuống phía Nam nên sản xuất khai thác gặp nhiều khó khăn. Do vậy, để tổ chức khai thác tốt vụ cá Bắc năm 2018-2019 cần thường xuyên theo dõi thông tin về không khí lạnh và thời tiết nguy hiểm trên biển và tình hình hoạt động của tàu cá trên biển; thông báo kịp thời tới chủ các phương tiện tàu, thuyền và ngư dân biết để có biện pháp kịp thời ứng phó, chủ động phòng tránh và có phương án đảm bảo an toàn đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn; hạn chế được những thiệt hại về người và tài sản do thiên tai, sự cố kỹ thuật; hạn chế việc tàu nước ngoài tấn công, bắt giữ, tịch thu tài sản.
5. Đầu tư xây dựng
Dự tính quý IV năm 2018, vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn là 37.794,8 tỷ đồng, tăng 26,5% so với cùng kỳ. Chia ra:
- Vốn nhà nước trên địa bàn thực hiện là 4.753,5 tỷ đồng, giảm 26,23% so với cùng kỳ trong đó: vốn Trung ương quản lý là 1.256,9 tỷ đồng, giảm 7,33% so với cùng kỳ; vốn địa phương quản lý là 3.496,6 tỷ đồng, giảm 31,27% so với cùng kỳ;
- Vốn ngoài nhà nước thực hiện là 27.531,9 tỷ đồng, tăng 67,93% so với cùng kỳ;
- Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện là 5.509,4 tỷ đồng, giảm 21,72% so với cùng kỳ.
Dự tính năm 2018, vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn là 100.541,3 tỷ đồng, tăng 30,71% so với cùng kỳ, bằng 122,5% kế hoạch năm 2018 (kế hoạch năm đạt 82.100 tỷ đồng, tăng 21%). Chia ra:
- Vốn nhà nước trên địa bàn thực hiện là 14.465,6 tỷ đồng, giảm 5,76% so với cùng kỳ trong đó: vốn Trung ương quản lý là 3.716,4 tỷ đồng, giảm 34,5% so với cùng kỳ; vốn địa phương quản lý là 10.749,2 tỷ đồng, tăng 11,1% so với cùng kỳ;
- Vốn ngoài nhà nước thực hiện là 63.569,5 tỷ đồng, tăng 52,4% so với cùng kỳ;
- Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện là 22.506,2 tỷ đồng, tăng 13,3% so với cùng kỳ;
Hải Phòng là một điểm sáng trong thu hút đầu tư của miền Bắc và cả nước, được Trung ương đặc biệt quan tâm và các nhà đầu tư trong và ngoài nước hướng đến. Nhiều dự án, công trình trọng điểm được khởi công với giá trị đầu tư cao, nhiều dự án chuyển tiếp từ các năm trước được tích cực thực hiện giúp cho giá trị vốn đầu tư trên địa bàn tăng cao nhất trong vòng 15 năm trở lại đây. Có được kết quả như vậy là sự tập trung đầu tư của cả ba khu vực: khu vực Nhà nước, khu vực Ngoài nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, trong đó đóng góp nhiều nhất vẫn là đầu tư của các doanh nghiệp ngoài nhà nước.
Khu vực Nhà nước dự kiến Quý IV năm 2018 giảm 26,23% so với cùng kỳ, trong đó nguồn vốn nhà nước trung ương quản lý giảm 7,33% so với cùng kỳ; nguồn vốn nhà nước địa phương quản lý giảm 31,27% so với cùng kỳ. Ước cả năm 2018 nguồn vốn nhà nước giảm 5,76% so với năm 2017, trong đó nguồn vốn trung ương quản lý giảm 34,5% so với năm 2017, nguồn vốn địa phương quản lý tăng 11,1% so với năm 2017 cho thấy sự chuyển dịch cơ cấu rõ rệt giữa nguồn vốn nhà nước Trung ương và nguồn vốn nhà nước địa phương trong những năm gần đây. Trong năm 2018 nguồn vốn trung ương giảm so với năm 2017do dự án Cầu Tân Vũ – Lạch Huyện đã hoàn thành và đưa vào sử dụng trong năm 2017, dự án cảng Lạch Huyện trong giai đoạn chuẩn bị hoàn thành nên giá trị đầu tư thực hiện giảm nhiều. Tuy nhiên, nguồn vốn nhà nước do địa phương quản lý vẫn giữ được tốc độ tăng so với cùng kỳ (+11,1%), đó là sự nỗ lực trong cân đối thu chi, tập trung đầu tư cho những dự án có vai trò then chốt, định hướng và tạo môi trường thuận lợi khơi thông thu hút các nguồn vốn đầu tư khác trong quá trình phát triển kinh tế. 
Khu vực ngoài nhà nước chiếm tỷ trọng cao nhất (năm 2018 chiếm 63,2% tổng đầu tư toàn xã hội) và có mức tăng vượt bậc so với năm 2017; quý IV/2018 tăng 67,93% so với cùng kỳ năm 2017; ước cả năm 2018 tăng 52,41% so với năm 2017. Nguồn vốn đầu tư của khu vực ngoài nhà nước tập trung vào các dự án lớn của các tập đoàn trong nước như tập đoàn Vingroup, tập đoàn Sungroup, tập đoàn Flamingo, công ty CP Đầu tư và dịch vụ tài chính Hoàng Huy, công ty Nhật Hạ…Tập đoàn Vingroup với tổng vốn đầu tư gần trăm nghìn tỷ đồng vào các dự án: Khu vui chơi giải trí, nhà ở và công viên sinh thái đảo Vũ Yên; khu đô thị Vinhomes Imperia; tòa tháp 45 tầng; bệnh viện quốc tế Vinmec; Khu đô thị cầu Rào 2 và đặc biệt nhất là Tổ hợp Nhà máy sản xuất ô tô VinFast với tổng vốn đầu tư hơn 3,5 tỷ USD. Ngày 03/11/2018 tại Hải Phòng, VinFast đã tổ chức lễ khánh thành Nhà máy sản xuất xe máy điện thông minh và cũng trong ngày 3/11 VinFast điều chỉnh tổng vốn đầu tư cho Tổ hợp dự án sản xuất ô tô, xe máy điện từ 35.000 tỷ đồng lên 70.337 tỷ đồng. Tập đoàn Sungroup tiến độ chậm hơn, hiện cũng đang khẩn trương đầu tư vào khu vực Cát Hải, Cát Bà với tổng vốn đầu tư 3 tỷ USD. Một loạt các doanh nghiệp, tập đoàn lớn khác cũng không ngần ngại rót hàng nghìn tỷ đồng vốn vào Hải Phòng như Tập đoàn BRG với dự án sân golf và khu biệt thự Đồ Sơn hơn 2.100 tỷ đồng; khách sạn 5 sao Hilton hơn 1.000 tỷ đồng; công ty Nhật Hạ với khách sạn 5 sao Pullman 1.600 tỷ đồng…Dự án Hoàng Huy Riverside của Tập đoàn Tài chính Hoàng Huy hiện tại thực hiện được gần 300 tỷ đồng, dự án với tổng mức đầu tư trên 1.000 tỷ đồng gồm nhà liền kề tối đa 5 tầng, biệt thự tối đa 3 tầng và nhà ở hỗn hợp tối đa 5 tầng với tổng diện tích trên 5,9 ha. Những công trình này được đánh giá sẽ làm thay đổi đáng kể diện mạo đô thị và phát triển kinh tế Hải Phòng.
Nguồn vốn FDI đầu tư vào Hải Phòng cũng không ngừng tăng nhanh trong những năm gần đây (quý IV/2018 ước giảm 21,71% so với cùng kỳ; năm 2018 ước tăng 13,3% so với năm 2017, chiếm 22,3% tổng mức đầu tư toàn xã hội). Tính riêng 3 dự án của Tập đoàn LG có tổng vốn đầu tư lên tới hơn 4 tỷ USD. Cùng với đó là một loạt các nhà đầu tư nước ngoài đã có mặt tại Hải Phòng như Regina Miracle Internatinonal Việt Nam, Bridgestone, Nippro Pharma, Kyocera, Fuji Xerox, GE,…Mới đây, Tập đoàn Ren A Port (Bỉ) đã đầu tư thêm hơn 150 triệu USD xây dựng Khu công nghiệp Deep C3 tại đảo Cát Hải và vừa đưa vào hoạt động Khu công nghiệp Deep C2 với tổng vốn đầu tư 141 triệu USD… Dự kiến năm nay, Hải Phòng sẽ thu hút được khoảng hơn 2,5 tỷ USD vốn FDI, gấp hơn 2 lần so với kế hoạch đề ra.
Tình hình thực hiện một số dự án lớn đến thời điểm hiện nay trên địa bàn: 
- Dự án Đầu tư xây dựng Cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng được khởi công vào ngày 14/4/2013, dự án chia làm 2 hợp phần: hợp phần A và hợp phần B, bao gồm các hạng mục xây dựng mặt bãi, 02 bến và nạo vét khu nước trước bến. Hợp phần A được chia làm 4 gói thầu xây lắp chính, trong đó 3 gói thầu đã hoàn thành, gói thầu số 10 dự kiến sẽ hoàn thành vào cuối năm 2019; gói thầu số 10 - đê chắn sóng đoạn B và đê chắn cát tiến độ thực hiện 80%, dự kiến tháng 11/2019 hoàn thành.
- Dự án cầu Hoàng Văn Thụ đến thời điểm hiện tại đang thi công lắp thang máy cầu; hệ thống chiếu sáng đang được thực hiện 80% giá trị hợp đồng, vòm thép giữa sông đã được hợp long vào ngày 19/8/2018, hiện tại thực hiện hơn 90% khối lượng công việc. Do vướng mắc trong vấn đề giải phóng mặt bằng, dự kiến quý II/2019 mới xong hợp phần cầu. Đối với các gói thầu xây lắp công trình hạ tầng kỹ thuật khu đô thị Bắc sông Cấm, các nhà thầu đã tích cực huy động nhân lực, máy móc, thiết bị thi công cả ngày lẫn đêm đảm bảo tiến độ, dự kiến quý I/2019 sẽ hoàn thành. 
- Dự án đầu tư chỉnh trang lại sông Tam Bạc và dự án xây dựng trục đường Hồ Sen-Cầu Rào 2, đoạn từ nút giao với đường Nguyễn Văn Linh đến ngã 3 đường Chợ Con đến thời điểm hiện tại tiến độ vẫn đảm bảo; dự án chỉnh trang sông Tam Bạc đang gấp rút xong hạng mục kè hai bên bờ sông, phấn đấu hoàn thành trước Tết Nguyên đán 2019.
- Dự án xây dựng nút giao thông Nam cầu Bính với tổng mức đầu tư 1.483 tỷ đồng. Đây là nút giao đầu tiên tại Hải Phòng được thiết kế xây dựng với 3 tầng: tầng hầm, tầng mặt và cầu vượt. Đến thời điểm hiện tại hạng mục xây lắp của dự án thực hiện được khoảng 10% khối lượng công việc, đạt gần 150 tỷ đồng.
- Dự án Tổ hợp Nhà máy sản xuất ô tô VinFast của tập đoàn Vingroup được khởi công từ tháng 9/2017, trong hai tháng cuối năm 2018, tập đoàn lần lượt giới thiệu những sản phẩm đầu tiên của nhà máy sản xuất xe máy điện và dòng điện thoại thông minh VinSmart, hệ thống xưởng sản xuất ô tô đang được tích cực hoàn thiện và dự kiến đưa vào vận hành vào quý III/2019.
- Dự án Khu đô thị Vinhomes Imperia gần như hoàn thiện phần hạ tầng và cảnh quan chung, công trình tổ hợp và khách sạn 45 tầng đã xong phần lắp đặt ánh sáng, dự kiến 24/12/2018 sẽ mở cửa chạy thử nghiệm. Hơn 1.200 căn biệt thự thấp tầng trong tổng số 1.480 căn đã hoàn thiện và bàn giao cho khách hàng; các công trình công cộng như nhà Clubhouse, trường học Vinschool mầm non, liên cấp, các công viên Pháp, Mỹ và Ý đã hoàn thành. 
- Dự án Khách sạn Chuo với tổng đầu tư 1.800 tỷ đồng đã được khởi công vào tháng 11/2017, hiện tại dự án đang được triển khai theo đúng tiến độ, ước thực hiện khoảng 50% khối lượng công việc.
- Dự án Trung tâm thương mại Aeon Mall Hải Phòng của Nhật Bản với tổng mức đầu tư gần 190 triệu USD tương đương 4.100 tỷ đồng đã được khởi công xây dựng. Dự án được triển khai còn chậm do vướng mắc về giải phóng mặt bằng. Việc dự án được xây dựng và đi vào hoạt động tạo việc làm cho khoảng hơn 2.000 lao động, giúp thành phố có thêm nhiều nguồn thu ngân sách, là điểm đến thuận tiện và hấp dẫn đối với người dân địa phương và khu vực. 
* Tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngoài
Tính đến 15/12/2018 Hải Phòng có 612 dự án còn hiệu lực:
Tổng vốn đầu tư    :   16.891  triệu USD
Vốn điều lệ        :    5.833,4  triệu USD
Vốn Việt Nam góp    :       241,4  triệu USD
Nước ngoài góp    :    5.592  triệu USD
Từ đầu năm đến 15/12/2018, toàn thành phố có 104 dự án cấp mới đến từ 12 quốc gia và vùng lãnh thổ với số vốn đầu tư đạt 644,664 triệu USD, tăng 3 lần so với cùng kỳ năm trước. 
Điều chỉnh tăng vốn đầu tư có 45 dự án, với số vốn tăng là 1.859,51 triệu USD. Các dự án mới và tăng vốn chủ yếu ở ngành công nghiệp chế biến, chế tạo. Tổng cấp mới và tăng vốn toàn thành phố có 149 dự án, vốn đầu tư đạt 2.504,172 triệu USD.
Phân loại các dự án được cấp phép mới:
- Theo loại hình đầu tư: 100% vốn nước ngoài có 99 dự án, vốn đầu tư đạt 635.908 nghìn USD; liên doanh 05 dự án, vốn đầu tư đạt 8,756 nghìn USD.
- Theo lĩnh vực đầu tư: Trong tổng số 644,66 triệu USD vốn FDI thành phố thu hút được từ đầu năm đến nay, có 375,32 triệu USD đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp chế biến chế tạo, chiếm 58,22% tổng vốn FDI đăng ký. Lĩnh vực bán buôn, bán lẻ đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư đạt 200,29 triệu USD, chiếm 31,11% tổng vốn FDI đăng ký. Các lĩnh vực còn lại chỉ chiếm 10,67% vốn FDI đăng ký với vốn đầu tư đạt khoảng 69 triệu USD.
- Theo đối tác đầu tư: Tính từ đầu năm đến 15/12/2018, thành phố có 12 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Hải Phòng, trong đó Nhật Bản dẫn đầu với tổng vốn đăng ký đạt 205,31 triệu USD, chiếm 31.85% tổng vốn đầu, Hàn Quốc đứng thứ 2 với tổng vốn đầu tư đạt 174,19 triệu USD, chiếm 27,02% tổng vốn đầu tư và Hồng Kông đứng thứ 3 với tổng vốn đăng ký đạt 44,57 triệu USD, chiếm 6,91% tổng vốn đầu tư. Cũng từ đầu năm đến 15/12/2018, có 03 dự án thu hồi do không triển khai, 11 dự án chấm dứt hoạt động theo quyết định của nhà đầu tư, 01 dự án chuyển thành 100% vốn trong nước trong đó có 04 dự án trong khu công nghiệp và 11 dự án ngoài khu công nghiệp.
Ước thực hiện vốn đầu tư đạt 40,7%.
6. Tổng mức lưu chuyển hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
Năm 2018 hoạt động kinh doanh thương mại, dịch vụ trên địa bàn thành phố tiếp tục phát triển ổn định. Mạng lưới phân phối hàng hóa được tăng cường, mở rộng về số lượng và đa dạng về ngành nghề kinh doanh; các hoạt động kích cầu tiêu dùng như giảm giá, khuyến mãi... giúp tăng sức mua trong năm, đáp ứng đầy đủ, kịp thời nhu cầu thiết yếu của người dân.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 12 năm 2018 ước đạt 10.556,95 tỷ đồng, tăng 1,02% so với tháng trước và tăng 15,51% so với cùng kỳ năm trước. Cộng dồn cả năm 2018, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 118.546,33 tỷ đồng, tăng 15,34% so với cùng kỳ năm trước. 
* Chia theo khu vực kinh tế 
- Khu vực kinh tế nhà nước tháng 12/2018 ước đạt gần 332,93 tỷ đồng, tăng 0,46% so với tháng trước, tăng 16,4% so với cùng kỳ năm trước; cả năm 2018 ước đạt 3.393,49 tỷ đồng, tăng 16,32% so với cùng kỳ năm trước;
- Khu vực kinh tế ngoài nhà nước tháng 12/2018 ước đạt gần 9.730,26 tỷ đồng, tăng 1,04% so với tháng trước và tăng 16,06% so với cùng kỳ năm trước; cả năm 2018 ước đạt 109.359,16 tỷ đồng, tăng 15,55% so với cùng kỳ năm trước;
- Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tháng 12/2018 ước đạt 493,75 tỷ đồng, tăng 0,92% so với tháng trước, tăng 5,18% so với cùng kỳ năm trước; cả năm 2018 ước đạt 5.793,68 tỷ đồng, tăng 10,90% so với cùng kỳ năm trước;
* Chia theo ngành hoạt động
- Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 12 năm 2018 ước đạt 7.895,68 tỷ đồng, tăng 1,07% so với tháng trước, tăng 13,64% so với cùng kỳ năm trước. Quý IV năm 2018, doanh thu bán lẻ ước đạt 23.316 tỷ đồng, tăng 14,4% so với quý IV/2017, đây là quý có mức tăng cao nhất trong năm 2018.
 Cộng dồn cả năm 2018, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 89.322,44 tỷ đồng, chiếm 75,35% tổng mức và tăng 13,94% so với cùng kỳ năm trước do hàng hóa trên thị trường có sự đa dạng về mẫu mã sản phẩm, chất lượng đảm bảo và giá cả hợp lý, đáp ứng tốt nhu cầu mua sắm hàng hóa tiêu dùng của người dân và khách du lịch;
Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 12 năm 2018 ước tính tăng so với tháng 11/2018 ở hầu hết các ngành hàng, trong đó: ngành hàng lương thực, thực phẩm tăng 1,01%; hàng may mặc tăng 2,33%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 0,71%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 3,54%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 1,86%... 
Doanh thu ngành hàng lương thực, thực phẩm và hàng may mặc tương đối ổn định do đây là các mặt hàng thiết yếu, có lượng tiêu thụ lớn và thường xuyên. Đồng thời, tháng 12/2018 là thời điểm chính đông, nhiệt độ giảm thấp nên nhu cầu mua sắm các sản phẩm quần áo rét, trang thiết bị gia đình như chăn, ga, gối, đệm, máy sưởi…tăng. Doanh thu ngành hàng gỗ và vật liệu xây dựng tăng cao do các tháng cuối năm là mùa xây dựng và hoàn thiện các công trình, nhu cầu xây mới và sửa chữa nhà cửa đón năm mới tăng mạnh nên nhu cầu về vật liệu xây dựng cũng tăng theo. Các tháng cuối năm nhu cầu mua sắm tăng cao so với các tháng trước nên các cửa hàng, siêu thị triển khai nhiều chương trình giảm giá, khuyến mãi để thu hút khách hàng, từ đó nâng cao doanh số bán hàng.
Cộng dồn cả năm 2018, doanh thu bán lẻ hàng hoá của một số ngành hàng tăng cao so với cùng kỳ như: lương thực, thực phẩm tăng 16,08%; hàng may mặc tăng 18,81%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 14,59%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 14,57%; phương tiện đi lại tăng 14,63%; xăng dầu tăng 18,08%; nhiên liệu khác  tăng 11,92%;...
- Doanh thu dịch vụ lưu trú tháng 12 năm 2018 ước đạt 119 tỷ đồng, giảm 3,86% so với tháng trước và tăng 17% so với cùng kỳ năm trước. Cộng dồn 12 tháng/2018 doanh thu lưu trú ước đạt 1.576 tỷ đồng, tăng 18,5% so với cùng kỳ năm 2017. 
- Doanh thu dịch vụ ăn uống tháng 12 năm 2018 ước đạt 1.572 tỷ đồng, tăng 1,16% so với tháng trước và tăng 24,88% so với cùng kỳ năm trước. Cộng dồn cả năm 2018 doanh thu ăn uống ước đạt 16.804 tỷ đồng, tăng 24,14% so với cùng kỳ năm 2017, do thời điểm cuối năm nhiều cơ quan, đơn vị tổ chức các buổi liên hoan, tổng kếtnên doanh thu dịch vụ ăn uống tăng.
- Doanh thu du lịch lữ hành tháng 12 năm 2018 ước đạt 14,6 tỷ đồng, giảm 19,11% so với tháng trước, tăng 44,69% so với cùng kỳ năm trước. Cộng dồn cả năm 2018 doanh thu du lịch lữ hành đạt 201,83 tỷ đồng, tăng 26,98% so với cùng kỳ năm 2017. 
- Doanh thu dịch vụ khác tháng 12 năm 2018 ước đạt 955,18 tỷ đồng, tăng 1,37% so với tháng trước, tăng 16,42% so với cùng kỳ năm trước. Cộng dồn cả năm 2018, doanh thu dịch vụ khác ước đạt 10.641,85 tỷ đồng, tăng 13,7% so với cùng kỳ năm trước.
Nhu cầu mua bán nhà ở, sửa chữa đồ dùng cá nhân, gia đình, dịch vụ làm đẹp vào thời điểm cuối năm tăng nên doanh thu một số nhóm ngành dịch vụ có xu hướng tăng mạnh so với tháng trước: dịch vụ kinh doanh bất động sản tăng 6,56%; dịch vụ sửa chữa máy vi tính, đồ dùng cá nhân và gia đình tăng 4,05%; dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội tăng 2,3%; dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 4,89%; dịch vụ khác tăng 6,58%...Riêng doanh thu nhóm ngành dịch vụ giáo dục và đào tạo tháng 12/2018 giảm 15,78% so với tháng trước do nhu cầu học lái xe giảm trong dịp cuối năm.
Quý IV năm 2018, doanh thu lưu trú tăng 12,46%, doanh thu ăn uống tăng 27,34%, doanh thu lữ hành tăng 44,71% so với cùng kỳ năm 2017, do các hãng hàng không có chương trình giảm giá nhằm kích cầu du lịch và kỳ nghỉ Tết dương lịch kéo dài 4 ngày nên lượt khách du lịch tăng lên đáng kể.
Năm 2018 doanh thu dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống và dịch vụ khác đều tăng cao hơn so với cùng kỳ năm 2017. Trong năm thành phố đã tổ chức chuỗi các sự kiện quảng bá cho du lịch Hải Phòng cùng với việc cầu Tân Vũ-Lạch Huyện đi vào hoạt động giúp rút ngắn thời gian di chuyển từ Hà Nội đến Hải Phòng đã tạo sức hút đối với lượng lớn khách du lịch trong và ngoài nước đến tham quan thành phố. Ngay từ đầu năm, du lịch về tâm linh đã được chú trọng phát triển, một số đền chùa như tháp Tường Long, chùa Hang, đền Tràng Kênh... đã thu hút một lượng lớn khách đến tham quan, du lịch, đặc biệt là khách du lịch tới đảo Cát Bà tăng đột biến trong các tháng mùa hè.
Du lịch Hải Phòng năm 2018 có nhiều chuyển biến tích cực, cơ sở hạ tầng phục vụ khách du lịch như các dự án đầu tư, khách sạn cao cấp, khu vui chơi giải trí phát triển đa dạng, công tác quản lý nhà nước về du lịch được tăng cường. Bên cạnh đó là việc quảng bá tiềm năng du lịch của thành phố trên các phương tiện thông tin đại chúng, đẩy nhanh tiến độ các dự án khu vui chơi giải trí, xây dựng các sản phẩm du lịch đặc trưng, các cơ sở lưu trú và dịch vụ du lịch đẳng cấp cao để thu hút ngày càng đông hơn lượng khách du lịch đến với thành phố.
7. Hoạt động lưu trú và lữ hành    
Tổng lượt khách tháng 12/2018 do các cơ sở lưu trú và lữ hành thành phố phục vụ ước đạt 561,16 ngàn lượt, giảm 6% so với tháng trước và tăng 3,13% so với cùng tháng năm 2017; trong đó khách quốc tế đạt 74 ngàn lượt, tăng 2,3% so với tháng trước và tăng 0,27% so với cùng tháng năm trước. Cộng dồn cả năm 2018, tổng lượt khách do các cơ sở lưu trú và lữ hành thành phố phục vụ ước đạt 7.804 ngàn lượt, tăng 16,34% so với năm 2017.
Đối với hoạt động lữ hành, lượt khách lữ hành tháng 12 năm 2018 giảm 0,5% so với tháng trước. Cộng dồn 12 tháng năm 2018, lượt khách lữ hành đạt 113 ngàn lượt, tăng 2,21% so với cùng kỳ năm 2017.
8. Vận tải hàng hóa và hành khách
8.1. Vận tải hàng hoá

Khối lượng hàng hoá vận chuyển tháng 12 năm 2018 ước đạt 16,5 triệu tấn, tăng 2,98% so với tháng trước và tăng 14,3% so với cùng tháng năm trước. Quý IV/2018 ước đạt 48,2 triệu tấn, tăng 15,89% so với quý IV năm trước. Ước tính 12 tháng năm 2018 khối lượng hàng hoá vận chuyển đạt 177,7 triệu tấn, tăng 15,49% so với cùng kỳ năm trước. 
Khối lượng hàng hóa luân chuyển tháng 12 năm 2018 ước đạt 7.872,7 triệu tấn.km, tăng 1,44% so với tháng trước và giảm 2,86% so với cùng tháng năm trước. Quý IV ước đạt 24.232,5 triệu tấn, tăng 3,40% so với cùng quý năm trước. Ước tính 12 tháng năm 2018 khối lượng hàng hóa luân chuyển đạt 95.592,2 triệu tấn.km, tăng 12,16% so với cùng kỳ.
Khối lượng hàng hóa vận chuyển và luân chuyển tháng 12/2018 tăng so với tháng trước do vào dịp cuối năm, việc luân chuyển hàng hóa chuẩn bị cho dịp Tết Nguyên đán và những công trình xây dựng gấp rút hoàn thành nên các doanh nghiệp vận tải nhận được nhiều đơn hàng hơn.
Khối lượng hàng hóa vận chuyển và luân chuyển quý IV/2018 tăng so với cùng quý năm trước, chủ yếu tăng ở khối đường bộ do giao thông thuận lợi, tuyến đường cao tốc Hải Phòng - Quảng Ninh đưa vào sử dụng từ tháng 9/2018 góp phần làm tăng số lượng chuyến hàng chu chuyển.
8.2. Vận tải hành khách    
Khối lượng hành khách vận chuyển tháng 12 năm 2018 ước đạt 5,6 triệu lượt, tăng 2,47% so với tháng trước, tăng 13,03% so với cùng tháng năm trước. Quý IV/2018 ước đạt 16,3 triệu lượt, tăng 13,27% so với quý IV năm trước. Ước tính 12 tháng năm 2018 khối lượng hành khách vận chuyển đạt 62 triệu lượt, tăng 13,97% so với cùng kỳ năm trước.
Khối lượng hành khách luân chuyển tháng 12 năm 2018 đạt 225,4 triệu Hk.km, tăng 3,75% so với tháng trước và tăng 15,34% so với cùng tháng năm trước. Quý IV/2018 ước đạt 654,4 triệu Hk.km, tăng 13,98% so với quý IV năm trước. Ước tính 12 tháng năm 2018 khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 2.482,3 triệu Hk.km, tăng 15,42% so với cùng kỳ năm trước.
Khối lượng hành khách vận chuyển và luân chuyển tháng 12/2018 tăng so với tháng trước do trong tháng có dịp nghỉ Tết dương lịch dài ngày nên nhu cầu đi lại bằng xe taxi, ô tô khách… tăng cao, tuy nhiên do thời tiết chuyển lạnh nên lượt khách đi lại bằng đường biển và đường thủy nội địa giảm.
Khối lượng hành khách vận chuyển và luân chuyển quý IV/2018 tăng so với cùng quý năm trước do giao thông bằng đường bộ ngày càng thuận lợi, một số tuyến đường mới như cầu Tân Vũ - Lạch Huyện, đường cao tốc Hải Phòng - Quảng Ninh...được đưa vào sử dụng giúp rút ngắn thời gian di chuyển nên lượng khách đi lại bằng phương tiện đường bộ tăng lên đáng kể.
8.3. Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải
Dịch vụ kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải phát triển ổn định, cụ thể doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng 12 năm 2018 ước đạt 2.436,2 tỷ đồng, tăng 3,34% so với tháng trước và tăng 17,65% so với cùng tháng năm trước. Quý IV ước đạt 7.060,2 tỷ đồng, tăng 13,68% so với cùng quý năm trước. Ước tính 12 tháng năm 2018 doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 26.291,2 tỷ đồng, tăng 14,88% so với cùng kỳ năm trước.
8.4. Ga Hải Phòng
Tổng doanh thu tháng 12 năm 2018 Ga Hải Phòng ước đạt 7,5 tỷ đồng, tăng 5,99% so với tháng trước, giảm 37,69% so với cùng tháng năm trước. Ước tính 12 tháng năm 2018 tổng doanh thu của Ga Hải Phòng đạt 110,8 tỷ đồng, giảm 7,91% so với cùng kỳ năm trước.
Tổng số hành khách vận chuyển tháng 12 năm 2018 ước đạt 41,0 ngàn lượt người, tăng 5,74% so với tháng trước, giảm 12,75% so với cùng tháng năm trước. Ước tính 12 tháng/2018 số hành khách đạt 502,7 ngàn lượt người, giảm 14,50% so với cùng kỳ năm 2017.
Tổng số hàng hóa vận chuyển tháng 12 năm 2018 ước đạt 104,5 ngàn tấn, tăng 6,04% so với tháng trước, tăng 1,15% so với cùng tháng năm trước; ước tính 12 tháng/2018 hàng hóa vận chuyển đạt 1.136,1 ngàn tấn, giảm 6,81% so với cùng kỳ năm 2017.
8.5. Sân bay Cát Bi
Tháng 12 năm 2018 tổng doanh thu của Sân bay Cát Bi ước đạt 21,9 tỷ đồng, tăng 0,40% so với tháng trước; tăng 30,68% so với cùng tháng năm 2017; 12 tháng năm 2018 tổng doanh thu của Sân bay Cát Bi ước đạt 243,7 tỷ đồng, tăng 23,43% so với cùng kỳ năm trước. 
Số lần máy bay hạ, cất cánh tháng 12 năm 2018 ước đạt 1.250 chuyến, tăng 6,11% so với tháng trước, tăng 13,22% so với cùng tháng năm 2017. Ước tính 12 tháng/2018 số lần máy bay hạ, cất cánh đạt 14.374 chuyến, tăng 4,83% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chuyến bay ngoài nước tháng 12/2018 ước đạt 110 chuyến, tăng 19,57% so với cùng kỳ năm trước; 12 tháng/2018 ước đạt 1.127 chuyến, giảm 8,22% so với cùng kỳ. 
Tổng số hành khách tháng 12 năm 2018 ước đạt 201 ngàn lượt người, tăng 5,36% so với tháng trước, tăng 17,32% so với cùng tháng năm 2017. Ước tính 12 tháng/2018 tổng số hành khách ước đạt 2.373,7 ngàn lượt, tăng 15,39% so với cùng kỳ năm trước. 
Tổng số hàng hóa tháng 12 năm 2018 ước đạt 1.800 tấn, tăng 4,11% so với tháng trước, tăng 39,53% so với cùng tháng năm 2017. Ước tính 12 tháng tổng số hàng hóa thông qua đạt 17.128 tấn, tăng 51,29% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó lượng hàng hóa 12 tháng đi tăng 120,92% so với cùng kỳ năm trước, hàng hóa đến tăng 10,63%. Hiện nay hàng hóa đến chủ yếu là hàng hải sản từ Nha Trang, Phú Quốc và cau non, thủy sản miền Tây và trái cây từ Sài Gòn; hàng hóa đi không những có sự tăng trưởng lớn về lượng mà các loại hàng còn rất đa dạng phong phú do các doanh nghiệp bắt đầu khai thác loại hình vận chuyển bằng đường hàng không. Dự kiến sắp tới sẽ có những tuyến bay mới chuyên chở hàng hóa từ các khu công nghiệp và vùng lân cận.
9. Hàng hoá thông qua cảng
Sản lượng hàng hóa thông qua cảng tháng 12 năm 2018 ước đạt 10.790 nghìn TTQ, tăng 2,11% so với tháng trước và tăng 21,43% so với cùng kỳ năm trước, cụ thể: 
- Khối cảng thuộc kinh tế Nhà nước ước đạt 3.269,7 nghìn TTQ, tăng 0,85% so với tháng trước, tăng 1,51% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: 
+ Cảng thuộc khối doanh nghiệp nhà nước Trung ương ước đạt 3.260,4 nghìn TTQ, tăng 0,91% so với tháng trước, tăng 1,57% so với cùng kỳ năm trước.
+ Cảng thuộc khối doanh nghiệp Nhà nước địa phương ước đạt 8,3 nghìn TTQ, giảm 20,1% so với tháng trước, giảm 17% so với cùng kỳ năm trước. 
- Các cảng thuộc khu vực kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 7.521,3nghìnTTQ, tăng 2,67% so với tháng trước, tăng 32,76% so với cùng kỳ năm trước.
Cộng dồn 12 tháng năm 2018, sản lượng hàng hóa thông qua trên địa bàn thành phố đạt 109.022,2 nghìn tấn, tăng 18,44% so với cùng kỳ năm 2017, đạt 101,9% kế hoạch năm 2018.
 Doanh thu cảng biển tháng 12 năm 2018 của khối cảng trên địa bàn thành phố ước đạt 507,6 tỷ đồng, tăng 0,03% so với tháng trước. Cộng dồn 12 tháng/2018 doanh thu cảng biển ước đạt 5.275 tỷ đồng, tăng 14,48% so với cùng kỳ năm trước.
Năm 2018, trên địa bàn thành phố có thêm 2 cảng mới đi vào hoạt động là Cảng quốc tế Lạch Huyện và Cảng nước sâu Nam Đình Vũ. Từ khi đi vào hoạt động 2 cảng đã dần ổn định và đạt mức sản lượng khá. Việc đưa 2 cảng nước sâu này vào hoạt động là giải pháp tích cực, hữu hiệu nhằm giảm tải cho các cảng nằm sâu trong nội địa, giảm áp lực về giao thông trong khu vực nội đô, nâng cao năng lực tiếp nhận hàng hóa. Các cảng tiếp nhận được tàu lớn không những làm giảm chi phí cho hàng hóa xuất nhập khẩu mà còn góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành Logistics Việt Nam trên thị trường khu vực và thế giới.
10. Bưu chính viễn thông 
* Bưu chính, viễn thông Hải Phòng  
Tổng doanh thu bưu chính, viễn thông Hải Phòng tháng 12 năm 2018 ước đạt 137,5 tỷ đồng, tăng 5,68% so với tháng trước, tăng 21,21% so với cùng tháng năm 2017. Ước tính 12 tháng/2018 doanh thu bưu chính, viễn thông đạt 1.450,5 tỷ đồng, tăng 10,42% so với cùng kỳ năm trước.
Số thuê bao điện thoại phát triển mới tháng 12 năm 2018 ước đạt 900 thuê bao, tăng 5,39% so với tháng trước, tăng 11,25% so với cùng tháng năm 2017. Ước tính 12 tháng/2018 số thuê bao điện thoại phát triển mới đạt 14.720 thuê bao, tăng 1,14% so với cùng kỳ năm trước. 
Trong tổng số thuê bao di động trả sau phát triển mới, khu vực ngoại thành tháng 12 năm 2018 ước đạt 605 máy, tăng 80,06% so với cùng tháng năm trước. Ước tính 12 tháng/2018 đạt 6.694 thuê bao, tăng 12% so với cùng kỳ năm trước.
Số thuê bao Internet phát triển mới tháng 12 năm 2018 ước đạt 3.500 thuê bao, tăng 8,90% so với tháng trước, giảm 36,94% so với cùng tháng năm 2017. Ước tính 12 tháng số thuê bao Internet phát triển mới đạt 37,5 ngàn thuê bao, giảm 45,25% so với cùng kỳ năm trước. 
* Chi nhánh Trung tâm viễn thông quân đội Viettel
Tổng doanh thu của Chi nhánh viễn thông quân đội Viettel tháng 12 năm 2018 ước đạt 150 tỷ đồng, tăng 3,45% so với tháng trước, tăng 36,36% so với cùng tháng năm trước. Ước tính 12 tháng/2018 tổng doanh thu của Chi nhánh viễn thông quân đội Viettel ước đạt 1.448,6 tỷ đồng, tăng 14,83% so với cùng kỳ năm trước.
Số máy thuê bao điện thoại phát triển mới ước đạt 12.510 thuê bao, tăng 43,71% so với tháng trước, tăng 79,61% so với cùng tháng năm 2017. Ước tính 12 tháng/2018 số máy thuê bao điện thoại phát triển mới đạt 90,04 ngàn thuê bao, tăng 1,67% so với cùng kỳ năm trước.
Số thuê bao Internet phát triển mới tháng 12/2018 ước đạt 3.500 thuê bao, tăng 12,90% so với tháng trước, tăng 59,09% so với cùng tháng năm trước; Ước tính 12 tháng số thuê bao Intenet phát triển mới đạt 25,0 ngàn thuê bao, tăng 26,26% so với cùng kỳ năm trước.    
11. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) thành phố Hải Phòng tháng 12 năm 2018 giảm 0,25% so với tháng trước, tăng 3,91% so với cùng kỳ năm trước và tăng 3,91% so với tháng 12/2017. CPI bình quân cả năm 2018 so với năm trước tăng 4,29%.
Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 6 nhóm chỉ số giá tháng 12/2018 tăng so với tháng trước với mức tăng như sau: nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,16%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,05%; nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 5,67%; nhóm bưu chính viễn thông tăng 0,02%; nhóm giáo dục tăng 0,03%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,31%. 05 nhóm còn lại có chỉ số giá giảm so với tháng trước là nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,63%; nhóm đồ uống và thuốc lá giảm 0,07%; nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 1,20%; nhóm giao thông giảm 4,11%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,06%.
Nguyên nhân chính làm giảm CPI tháng 12 là chỉ số giá thực phẩm giảm 0,98% làm cho CPI chung giảm 0,26%; chỉ số giá gas giảm 8,97% làm cho CPI chung giảm 0,11%; chỉ số giá xăng dầu diesel giảm 10,77% làm CPI chung giảm 0,40%; chỉ số giá nhóm giao thông giảm 4,11% so với tháng trước do giá xăng dầu được điều chỉnh giảm mạnh trong tháng này, cụ thể tổng mức điều chỉnh giảm giá của xăng RON95-IV là 1.830 đồng/lít, xăng E5-RON 92 là 1.840 đồng/lít; dầu diesel 0,05S-II là 1.630 đồng/lít.
Một số nguyên nhân cơ bản tác động tăng CPI năm 2018: 
- Giá dịch vụ y tế tăng đợt 2 theo Thông tư số 39/2018/TT/BYT ngày 30/11/2018 của Bộ Y tế về việc quy định thống nhất giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế giữa các bệnh viện cùng hạng trên toàn quốc. Bình quân cả năm 2018, chỉ số nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 16,05% so với cùng kỳ, đóng góp vào CPI năm 2018 tăng 1,18%.
- Thực hiện theo quy định tại Nghị quyết số 07/2018/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân thành phố Hải Phòng, mức học phí của khối trung học cơ sở và khối trung học phổ thông đều được điều chỉnh tăng cho năm học 2018-2019 làm cho chỉ số giá nhóm giáo dục tăng 4,42%, đóng góp vào CPI năm 2018 tăng 0,32%. 
- Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,74% đóng góp vào CPI cả năm tăng 1,78%; trong đó nhóm lương thực tăng 7,46%, nhóm thực phẩm tăng 5,93%,do giá gạo tăng cao trong dịp Tết Nguyên đán và tăng theo giá gạo xuất khẩu; giá thịt lợn tăng do sau một thời gian dài thua lỗ, nhiều hộ chăn nuôi nhỏ lẻ, trang trại phải bỏ chuồng nên nguồn cung sản phẩm thịt lợn trên thị trường giảm. 
- Nhóm giao thông năm 2018 tăng 3,82% so với bình quân năm 2017 đóng góp vào CPI chung cả năm tăng 0,33%, tác động chính bởi giá xăng, dầu diesel tăng 15,08%.
- Trong năm 2018 nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 2,48% đóng góp vào CPI chung cả năm tăng 0,30%, tác động chính bởi giá điện được điều chỉnh tăng từ tháng 12/2017. Ngoài ra do ảnh hưởng bởi giá gas thế giới chỉ số giá gas tăng 6,58% so với bình quân cùng kỳ; giá dầu hỏa được điều chỉnh tăng 25,93% so với bình quân cùng kỳ.
- Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 3,31% so với cùng kỳ đóng góp vào CPI chung cả năm tăng 0,12%, chủ yếu bởi chỉ số giá bảo hiểm y tế tăng 7,18% do mức lương cơ sở áp dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức, người hưởng lương, phụ cấp và người lao động làm việc trong các cơ quan, tổ chức được điều chỉnh tăng 90.000 đồng/tháng áp dụng từ ngày 01/7/2018.
* Chỉ số giá vàng 99,99% và Đô la Mỹ: 
- Chỉ số giá vàng tháng 12/2018 tăng 0,37% so với tháng trước, giảm 0,50% so với cùng tháng năm 2017, giảm 0,50% so với tháng 12 năm trước.Giá vàng bình quân tháng 12/2018 dao động ở mức 3,549 triệu đồng/chỉ, tăng 13.000 đồng/chỉ.
- Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 12/2018 giảm 0,07% so với tháng trước, tăng 2,66% so với cùng tháng năm 2017, tăng 2,66% so với tháng 12 năm trước. Tỷ giá USD/VND bình quân tháng 12/2018 dao động ở mức 23.355 đồng/USD, giảm 15 đồng/USD.
12. Hoạt động tài chính, ngân hàng 
12.1. Tài chính 

Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn năm 2018 ước đạt 70.730,5 tỷ đồng, trong đó: thu nội địa ước đạt 24.365,2 tỷ đồng, tăng 11,9% so với cùng kỳ năm trước, bằng 98,5% so với dự toán Hội đồng nhân dân; thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu ước đạt 43.000 tỷ đồng, bằng 95,3% so với cùng kỳ năm trước, bằng 101% so với dự toán Hội đồng nhân dân.
Trong thu nội địa, thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước ước đạt 3.384,1 tỷ đồng, tăng 16,2% so cùng kỳ; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 3.572,4 tỷ đồng, tăng 11,3% so với cùng kỳ; thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh ước đạt 4.285,3 tỷ đồng, tăng 25% so cùng kỳ; thuế thu nhập cá nhân ước đạt 1.821,6 tỷ đồng, tăng 38,2% so cùng kỳ; thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản ước đạt 117,9 tỷ đồng, tăng 45,8% so cùng kỳ.
Tổng chi ngân sách địa phương năm 2018 ước đạt 22.749,6 tỷ đồng, tăng 45,1% so với cùng kỳ, trong đó: chi đầu tư xây dựng cơ bản ước đạt 11.589,5 tỷ đồng, tăng 120,8% so với cùng kỳ; chi thường xuyên ước đạt 9.107,3 tỷ đồng, tăng 26,9% so cùng kỳ, trong chi thường xuyên chi cho sự nghiệp kinh tế ước đạt 1.445,2 tỷ đồng; chi sự nghiệp văn xã ước đạt 5.599,7 tỷ đồng; chi quản lý hành chính ước đạt 1.695,8 tỷ đồng.
12.2. Ngân hàng 
* Công tác huy động vốn:
Tổng nguồn vốn huy động trên địa bàn ước thực hiện đến hết tháng 12 năm 2018 ước đạt 188.160 tỷ đồng, tăng 15,6% so với đầu năm.
Theo loại tiền: Huy động bằng VND ước đạt 177.890 tỷ đồng, tăng 16,58% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 94,54%; ngoại tệ ước đạt 10.270 tỷ đồng, tăng 0,94% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 5,46%. 
Theo hình thức huy động: Huy động tiền gửi tiết kiệm ước đạt 131.610 tỷ đồng, tăng 20,15% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 69,95%; tiền gửi thanh toán ước đạt 52.250 tỷ đồng, tăng 5,7% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 27,77%; phát hành giấy tờ có giá ước đạt 4.300 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 2,28%.
* Công tác tín dụng:
Tổng dư nợ cho vay các thành phần kinh tế ước thực hiện đến hết tháng 12 năm 2018 đạt 115.520 tỷ đồng, tăng 16,7% so với đầu năm.
Cơ cấu dư nợ theo loại tiền: Cho vay bằng VND đạt 107.467 tỷ đồng, tăng 17,94% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 93,03%. Cho vay ngoại tệ (quy đổi VND) ước đạt 8.053 tỷ đồng, tăng 2,38% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 6,97%.
Cơ cấu dư nợ phân theo thời hạn vay: Cho vay ngắn hạn ước đạt 51.826 tỷ đồng, tăng 17,72% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 44,86%; cho vay trung, dài hạn ước đạt 63.694 tỷ đồng, tăng 15,88% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 55,14%.
13. Xuất nhập khẩu hàng hóa
13.1. Xuất khẩu hàng hoá

Kim ngạch xuất khẩu tháng 12 năm 2018 ước đạt 764 triệu USD, giảm 1,03% so với tháng trước; trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 216,3 triệu USD, giảm 0,01%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 547,6 triệu USD, giảm 1,43%. 
So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 12 năm 2018 tăng 26,89%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 23,01%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 28,49%.
Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước thực hiện quý IV năm 2018 đạt 2.249,3 triệu USD, tăng 6,02% so với quý III năm 2018, tăng 30,37% so với cùng kỳ năm 2017.
Tính chung 12 tháng năm 2018, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 8.278 triệu USD, tăng 26,87% so với cùng kỳ năm 2017; trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 2.225,7 triệu USD, tăng 23%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 6.052,2 triệu USD, tăng 28,36%.
Một số mặt hàng xuất khẩu trong năm 2018 có kim ngạch tăng cao so với cùng kỳ năm trước: sản phẩm Plastic đạt 460,2 triệu USD, tăng 23,58%; hàng dệt may đạt 477,6 triệu USD, tăng 34,07%; giày dép đạt 1.641 triệu USD, tăng 15,44%; hàng điện tử đạt 614 triệu USD, tăng 103,68%; dây điện và cáp điện đạt 619,8 triệu USD, tăng 16,09%.
13.2. Nhập khẩu hàng hóa    
Kim ngạch nhập khẩu tháng 12 ước đạt 708,5 triệu USD, giảm 0,26% so với tháng trước; trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 255 triệu USD, giảm 0,14%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 453,5 triệu USD, giảm 0,33%. 
So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng 12 năm 2018 tăng 18,9%; trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 15,35%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 20,99%.
Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu thực hiện quý IV năm 2018 ước đạt 2.117,1 triệu USD, tăng 2,77% so với quý III năm 2018, tăng 21,47% so với cùng kỳ năm 2017.
Tính chung 12 tháng năm 2018, kim ngạch nhập khẩu ước đạt 7.916,4 triệu USD, tăng 20,25% so với cùng kỳ năm 2017; trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 2.342,3 triệu USD, tăng 18,22%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 5.574,1 triệu USD, tăng 21,12%. 
Một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu trong năm 2018 tăng cao hơn so với cùng kỳ: hóa chất đạt 98,8 triệu USD, tăng 20,97%; phụ liệu hàng may mặc đạt 279,9 triệu USD, tăng 26,4%; phụ liệu giày dép đạt 1.044,5 triệu USD, tăng 116,37%; vải may mặc đạt 188,2 triệu USD, tăng 36,72%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 1.057,3 triệu USD, tăng 18,33%.
14. Phân tích một số chỉ tiêu phản ánh về năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất kinh doanh
* Năng suất lao động
Năng suất lao động trên địa bàn thành phố năm 2018 (theo giá hiện hành) ước đạt 178 triệu đồng mỗi lao động, trong đó: khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản có năng suất lao động ước thấp nhất, chỉ đạt 41,1 triệu đồng/lao động; khu vực công nghiệp - xây dựng có năng suất lao động ước cao nhất trong 3 khu vực, đạt 213,8 triệu đồng/lao động, khu vực dịch vụ có năng suất lao động ước đạt 211,3 triệu đồng/lao động.
Tính theo giá so sánh 2010, năng suất lao động trên địa bàn thành phố ước đạt 140,3 triệu đồng/lao động tăng 15,52% so với năm 2017. Trong đó: khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản có năng suất lao động ước đạt 32,6 triệu đồng/lao động, tăng 3,86%; khu vực công nghiệp - xây dựng ước đạt 168,62 triệu đồng/lao động, tăng 23,94%; khu vực dịch vụ ước đạt 166,65 triệu đồng/lao động, tăng 9,51% so với năm 2017.
* Hiệu quả sử dụng vốn (hệ số ICOR)
Hệ số ICOR năm 2018 của thành phố Hải phòng ước bằng 3,47, nghĩa là để tạo ra 1 đồng GRDP cần 3,47 đồng vốn. Hệ số ICOR của Hải Phòng năm 2018 giảm so với năm 2017 (năm 2017 là 3,63), khẳng định nguồn vốn đầu tư vào thành phố năm 2018 đã mang lại hiệu quả cao hơn năm 2017. Các dự án được triển khai và đẩy nhanh tiến độ, sớm đi vào hoạt động đã đóng góp vào mức tăng trưởng chung của toàn thành phố, điều này cũng khẳng định các chính sách cải cách hành chính, hỗ trợ doanh nghiệp, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh… được Thành ủy, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân thành phố áp dụng trong những năm gần đây đã dần mang lại hiệu quả nhất định. Bên cạnh đó việc đầu tư vào các dự án sản xuất công nghệ cao như: các dự án sản xuất thiết bị điện tử của tập đoàn LG và tổ hợp nhà máy sản xuất ôtô VinFast, nhà máy sản xuất điện thoại VinSmart của tập đoàn Vingroup cũng mang lại hiệu quả cao cho nền kinh tế thành phố trong năm 2018.
II. VĂN HÓA - XÃ HỘI
1. Tình hình dân số và lao động

Dân số trung bình năm 2018 của thành phố Hải Phòng ước tính 2.013,8 nghìn người, tăng 16 nghìn người, tương đương tăng 0,8% so với năm 2017. Phân theo khu vực: dân số thành thị 941,9 nghìn người, chiếm 46,8%; dân số nông thôn 1.071,9 nghìn người, chiếm 53,2%. Phân theo giới tính: dân số nam 1.002,1 nghìn người, chiếm 49,8%; dân số nữ 1.011,7 nghìn người, chiếm 50,2%.
Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của thành phố Hải Phòng năm 2018 ước tính 1.138,3 nghìn người, tăng 0,28% so với năm 2017, bao gồm: lao động nam 586,1 nghìn người, tăng 0,52%; lao động nữ 552,2 nghìn người, tăng 0,03%. Xét theo khu vực: lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên thành thị là 486,3 nghìn người, tăng 0,31%; khu vực nông thôn là 652,0 nghìn người, tăng 0,26%.
Lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc năm 2018 ước tính 1.102,4 nghìn người, tăng 0,65% so với năm 2017, bao gồm 222,5 nghìn người đang làm việc ở khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, chiếm 20,2% tổng số (giảm 0,1 điểm phần trăm so với năm 2017); khu vực công nghiệp và xây dựng 418,9 nghìn người, chiếm 38,0% (giảm 0,1 điểm phần trăm); khu vực dịch vụ 461,0 nghìn người, chiếm 41,8% (tăng 0,3 điểm phần trăm).
2. Giải quyết việc làm, an sinh xã hội
* Công tác giải quyết việc làm
Tháng 12 năm 2018 sàn giao dịch việc làm thành phố tổ chức 04 phiên giao dịch việc làm, với 120 lượt doanh nghiệp tham gia tuyển dụng, nhu cầu tuyển dụng là 10.213 lượt lao động; hướng dẫn, tiếp nhận thỏa ước lao động tập thể được 08 doanh nghiệp; ước cấp mới 100 giấy phép lao động, cấp lại 40 giấy phép lao động và miễn cấp 180 giấy phép lao động cho người nước ngoài làm việc tại Việt Nam. Đến thời điểm báo cáo trên địa bàn thành phố không xảy ra đình công, xảy ra 01 vụ tai nạn lao động làm 02 người chết.
Tính chung năm 2018 đã tổ chức được 39 phiên giao dịch việc làm với sự tham gia tuyển dụng của 1.387 lượt doanh nghiệp. Có 82.032 lượt người lao động đến sàn, trong đó 26,84% số người được giới thiệu việc làm, đáp ứng 17,1% nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp. Ước giải quyết việc làm 54.500 lượt lao động, đạt kế hoạch năm 2018 và bằng 100,36% so với cùng kỳ năm 2017, trong đó việc làm trong nước 53.200 lượt lao động, xuất khẩu lao động 1.300 lượt. Tiếp nhận, hướng dẫn xây dựng thỏa ước lao động tập thể cho 281 doanh nghiệp, bằng 202,20%so với năm 2017. Ước cấp mới 900 giấy phép lao động, cấp lại 700 giấy phép lao động cho người lao động làm việc tại thành phố (tăng 3,23% so với năm 2017). Kết quả khảo sát, điều tra tiền lương bình quân chung ước 6,902 triệu đồng/tháng (bằng 112% so với năm 2017).
Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn thành phố xảy ra 05 vụ đình công với 5.380 lao động tham gia (giảm 03 vụ và tăng 3.210 lao động so với năm 2017); xảy ra 13 vụ tai nạn làm 14 người chết (tăng 01 vụ và 02 người chết so với năm 2017).
* Công tác giáo dục nghề nghiệp
Tính đến hết năm 2018 có 69 cơ sở giáo dục nghề nghiệp và có hoạt động giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn thành phố (trong đó có 59 cơ sở giáo dục nghề nghiệp và 10 cơ sở có tham gia hoạt động giáo dục nghề nghiệp) với đội ngũ cán bộ quản lý khoảng 600 người, giáo viên trên 2.600 người đã tuyển sinh đào tạo ước 51.000 học sinh - sinh viên.
Tỷ lệ lao động qua đào tạo ước đạt 80%, đạt 100% kế hoạch năm, tăng 2% so với năm 2017, trong đó tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề là 57%, đạt 100% kế hoạch năm và tăng 15% so với năm 2017, tỷ lệ lao động có chứng chỉ trở lên đạt 33% bằng 100% kế hoạch năm, tăng 1% so với năm 2017.
* Công tác người có công
Tháng 12 năm 2018, giải quyết chế độ chính sách đối với với 719 trường hợp, tiếp nhận, thẩm định để thực hiện chính sách và phục vụ công tác quản lý đối với 57 trường hợp; quyết định công nhận đối với người tham gia kháng chiến và con đẻ của họ bị nhiễm chất độc hóa học đối với 27 người; bàn giao 10 hồ sơ cho Ban Thi đua khen thưởng thành phố đề nghị truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng.
Năm 2018 đã công nhận và đề nghị công nhận 545 trường hợp người có công; đề nghị vinh danh ''Bà mẹ Việt Nam anh hùng" cho 29 trường hợp (bằng 49% so với năm 2017); quyết định về việc trợ cấp một lần và trợ cấp hàng tháng đối với 85 trường hợp Bà mẹ được truy tặng và phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng; giải quyết hồ sơ liệt sỹ 145 trường hợp bằng 126% so với năm 2017; giải quyết hồ sơ thương binh, bệnh binh 49 trường hợp. Thực hiện các loại chế độ chính sách cho đối tượng, trong năm đã giải quyết 11.977 trường hợp hưởng chế độ; chỉ trả trợ cấp ưu đãi thường xuyên hàng tháng cho 31.800 người có công, với kinh phí trên 50 tỷ đồng/tháng đảm bảo kịp thời, đầy đủ, đúng chế độ chính sách.
Thăm hỏi, tặng quà người có công trong năm với tổng kinh phí là 338,212 tỷ đồng, bằng 157,2% so với năm 2017. Trong đó quà thành phố là 299,384 tỷ (bằng 155% so với năm 2017), Trung ương là 19,164 tỷ đồng, (bằng 102% so với năm 2017), các địa phương là 15,47 tỷ đồng (bằng 177% so với 2017), quà dịp Tết Mậu Tuất 165,037 tỷ đồng, (bằng 174,49% so với Tết 2017), quà 27/7 là 172,12 tỷ đồng (bằng 143,35% so với năm 2017) quà Quốc khánh 1,055 tỷ đồng, (bằng 216,63% so với năm 2017).
* Công tác giảm nghèo - bảo trợ xã hội
Năm 2018 tỷ lệ hộ nghèo ước đạt 1,41%, giảm 0,65% so với năm 2017, đạt 100% kế hoạch thành phố giao năm 2018; so đầu kỳ giai đoạn 2016 - 2020 giảm 2,45% bình quân 0,81%/năm đạt chỉ tiêu Nghị quyết Đảng bộ thành phố giao giảm 0,7 - 1%/năm.
Tháng 12/2018, tiếp nhận 09 đối tượng vào các Trung tâm bảo trợ xã hội, tập trung được 52 lượt người lang thang. Trong 12 tháng năm 2018 đã tiếp nhận 60 đối tượng đưa vào điều trị, chăm sóc và nuôi dưỡng tại các cơ sở bảo trợ xã hội, tổng số đối tượng hiện có 719 người, tăng 40 đối tượng so với năm 2017; tập trung 778 lượt người lang thang (bằng 82,3% cùng kỳ). Ước thực hiện chi trả trợ cấp xã hội thường xuyên tại cộng đồng và các chế độ hỗ trợ kinh phí đối với 72.876 người, (tăng 3,17% so với 70.639 người năm 2017) đảm bảo kịp thời, đầy đủ đúng chế độ chính sách.
* Công tác phòng, chống tệ nạn xã hội
Tháng 12 năm 2018 tổ chức quản lý, cai nghiện ma túy tập trung tại các cơ sở cai nghiện ma túy cho 1.444 lượt người, trong đó 137 ngườivào mới; cai nghiện tại gia đình và cộng đồng cho 02 người; kết hợp cùng Công an xét nghiệm ma tuý với 47 đối tượng bị bắt giữ, kiểm tra 35 buổi tại 138 cơ sở kinh doanh nhà nghỉ, khách sạn, quán karaoke... Năm 2018 đã tổ chức quản lý, cai nghiện ma túy tập trung tại các cơ sở cho 2.965 lượt người, bằng 91,15% so với năm 2017; cai nghiện tại gia đình và cộng đồng cho 364 người, bằng 115,2% năm trước; phối hợp với Công an xét nghiệm tìm chất ma túy 116 đợt đối với 629 đối tượng bị bắt giữ, kết quả phát hiện 325 trường hợp dương tính với ma túy; kiểm tra liên ngành 388 buổi tại 1.528 cơ sở kinh doanh nhà nghỉ, khách sạn, karaoke...bằng 107,47% so với năm 2017.
3. Giáo dục - Đào tạo
Trong tháng các đơn vị, trường học tiếp tục chú trọng bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi dự thi quốc gia cấp THPT năm 2018. Các cơ sở giáo dục chuẩn bị sơ kết học kỳ I, triển khai nhiệm vụ học kỳ II năm học 2018-2019, hoàn thành công tác thống kê đầu năm học. Tổ chức thi Giáo viên dạy giỏi các môn văn hóa đối với bậc Tiểu học.
Chất lượng giáo dục toàn diện của thành phố trong năm 2018 được giữ vững, giáo dục mũi nhọn tiếp tục phát triển. Từng bước thực hiện việc đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy được đẩy mạnh thực hiện ở tất cả các cấp học, ngành học. Công tác tổ chức các kỳ thi (thi THPT quốc gia và thi tuyển sinh vào lớp 10) được thực hiện hiệu quả từ rà soát đến coi thi, chấm thi và có sự ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin trong các khâu. Công tác kiểm định chất lượng giáo dục được chú trọng quan tâm đầu tư triển khai, trong năm học 2017-2018 có 35 đơn vị được kiểm định chất lượng giáo dục, tăng 16 đơn vị so với năm học 2016-2017. 
Một số kết quả tích cực ngành giáo dục đạt được trong năm: Tỷ lệ huy động số trẻ trong độ tuổi đi học tiểu học đạt 100%, tỷ lệ trẻ 11 tuổi hoàn thành chương trình tiểu học đạt 99,7%; tỷ lệ học sinh bỏ học xuống dưới 0,1%; tỷ lệ học sinh được công nhận tốt nghiệp trung học cơ sở đạt 99,95%, tỷ lệ tốt nghiệp THPT đạt 99,13%. Công tác phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi quốc gia giữ vững vị trí tốp đầu trong các tỉnh thành phố. Bên cạnh đó, ngành Giáo dục và Đào tạo còn một số hạn chế cần được khắc phục: đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý trình độ không đồng đều, thừa thiếu cục bộ; công tác hướng nghiệp và phân luồng học sinh sau THCS và THPT chưa tốt; hội nhập quốc tế trong giáo dục chưa sâu,…
4. Y tế và An toàn vệ sinh thực phẩm 
* Công tác y tế dự phòng
Ngành y tế đã chủ động xây dựng kế hoạch phòng, chống dịch bệnh và chuẩn bị đầy đủ cơ số thuốc, hóa chất, phương tiện; đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, hướng dẫn các đơn vị triển khai kế hoạch tăng cường giám sát, phòng chống dịch bệnh; kiểm tra đánh giá điều kiện vệ sinh, giám sát chất lượng nước ăn uống, sinh hoạt theo Thông tư 50/2015/TT-BYT cho các công ty cấp nước; kiểm tra công tác y tế trường học được 290 trường; quản lý đầy đủ mạng lưới y tế cơ sở, nhà máy, xí nghiệp trong phạm vi được giao quản lý. Diễn biến một số bệnh truyền nhiễm trong tháng 11/2018 so với tháng 10/2018: 40 ca sốt xuất huyết (tăng 05 ca); 223 ca tay chân miệng (giảm108 ca); 22 ca thủy đậu (tăng 09 ca); 25 ca quai bị (giảm 03 ca); 164 ca tiêu chảy (giảm 39 ca); 479 ca cúm (tăng 75 ca); 15 ca sởi (giảm 03 ca).
* Công tác an toàn vệ sinh thực phẩm
Đoàn Thanh tra Bộ Y tế kiểm tra việc sử dụng và kinh doanh sản phẩm dinh dưỡng cho trẻ nhỏ tại 3 bệnh viện và 2 cơ sở kinh doanh. Trong tháng không để xảy ra ngộ độc thực phẩm trên địa bàn thành phố. Từ đầu năm y tế đã tiến hành kiểm tra sát sao việc thực hiện các quy định bảo đảm an toàn thực phẩm tại các cơ sở chế biến sản xuất, kinh doanh thực phẩm, dịch vụ ăn uống trên địa bàn toàn thành phố. Đã xảy ra 2 vụ ngộ độc thực phẩm tập thể với 47 trường hợp bị ngộ độc, không gây nguy hiểm tính mạng.
* Công tác phòng, chống HIV/AIDS
Tính đến ngày 30/11/2018, lũy tích người nhiễm HIV 12.296 người, số người chuyển sang AIDS 6.279 người, số người chết do AIDS là 4.543 người, số người nhiễm HIV hiện còn sống là 7.753 người. Xu hướng dịch HIV/AIDS tại thành phố Hải Phòng giảm dần 10 năm trở lại đây. Lây truyền qua đường tình dục ngày càng chiếm ưu thế có liên quan đến việc sử dụng các chất ma túy mới trong nhóm đối tượng khách hàng mua dâm và gái mại dâm, nam quan hệ đồng giới diễn ra rất phức tạp.
5. Văn hóa - Thể thao
* Công tác văn hóa
Năm 2018, lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn trên địa bàn thành phố Hải Phòng có nhiều khởi sắc, các chương trình đã tạo được không khí tưng bừng vui tươi, phấn khởi, tạo ấn tượng sâu sắc với nhân dân và bạn bè quốc tế như: Kỷ niệm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam 03/02; 43 năm Ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước; kỷ niệm ngày sinh chủ tịch Hồ Chí Minh 19/5; kỷ niệm 63 năm Ngày giải phóng Hải Phòng (13/5) gắn với Lễ hội Hoa Phượng đỏ - Hải Phòng 2018; kỷ niệm 73 năm cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, chương trình nghệ thuật "Mừng xuân Mậu Tuất - 2018",...Sở Văn hoá và Thể Thao đã cấp 14 giấy phép biểu diễn nghệ thuật, tiếp nhận 54 thông báo tổ chức biểu diễn. Các đoàn nghệ thuật đã dàn dựng 05 vở diễn/chương trình nghệ thuật và chỉnh sửa.
6. Tình hình trật tự an toàn giao thông
Từ ngày 16/11/2018 đến ngày 15/12/2018 trên địa bàn Hải Phòng đã xảy ra 05 vụ tai nạn giao thông đường bộ làm chết 04 người và bị thương 04 người. So với cùng kỳ năm 2017, số vụ tai nạn giao thông bằng nhau, số người chết tăng 01 người và số người bị thương tăng 04 người. 
Cộng dồn từ đầu năm 2018 toàn thành phố đã xảy ra tổng cộng 98 vụ tai nạn giao thông, trong đó đường bộ 97 vụ, đường thủy 01 vụ, làm 85 người chết, 44 người bị thương. Trong 4 quý năm 2018, quý II có số vụ tai nạn và số người bị thương lớn nhất (chiếm 31,63% tổng số vụ và 40,91% số người bị thương), quý IV số người chết vì tai nạn nhiều nhất chiếm 30,95%. So sánh với năm 2017, số vụ tai nạn giao thông giảm 1,01%, số người chết giảm 4,49%, số người bị thương giảm 6,38%. Các vụ tai nạn chủ yếu từ va chạm cá nhân, do người dân chưa chấp hành đúng luật, không tuân thủ các biện pháp đảm bảo an toàn giao thông. Nhìn chung công tác an toàn giao thông được đảm bảo, không để xảy ra tai nạn đặc biệt nghiêm trọng.
7. Công tác phòng chống cháy, nổ
Từ ngày 16/11/2018 đến ngày 15/12/2018 toàn thành phố đã xảy ra 04 vụ cháy, làm bị thương 01 người, giá trị thiệt hại về tài sản đang trong quá trình xác minh. So với cùng kỳ năm 2017, số vụ cháy giảm 04 vụ và số người bị thương tăng 01 người. Quý IV/2018 xảy ra tổng cộng 50 vụ cháy nổ, chiếm 51,02% tổng số vụ cả năm, làm 01 người chết và 04 người bị thương.
Cộng dồn cả năm 2018, toàn thành phố đã xảy ra 142 vụ cháy, nổ làm 05 người chết và 10 người bị thương, giá trị tài sản thiệt hại ước tính 13.245,1 triệu đồng. So với năm 2017, số vụ cháy tăng 84,42%, số người chết tăng 400%, số người bị thương giảm 16,67% và giá trị tài sản thiệt hại ước tính giảm 12,94%. Phần lớn các vụ là cháy nhỏ xảy ra ở hộ dân cư, cùng một số vụ tại doanh nghiệp, nguyên nhân do sự bất cẩn và thiếu thốn phương tiện phòng cháy chữa cháy. Các vụ cháy xảy ra đã được cảnh sát phòng cháy chữa cháy cứu hộ, cứu nạn nhanh chóng kịp thời và hiệu quả, không để xảy ra cháy lan, cháy lớn, đảm bảo an toàn cho người dân và các cơ quan tổ chức.
Khái quát lại, năm 2018 kinh tế - xã hội thành phố Hải Phòng đạt được kết quả toàn diện trên mọi lĩnh vực, tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) ước đạt 16,27%, cao nhất từ trước đến nay và cao thứ hai cả nước (sau tỉnh Hà Tĩnh ước tăng 20,8%); hầu hết các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu của thành phố đạt mức tăng cao so với cùng kỳ; môi trường đầu tư kinh doanh thành phố tiếp tục được cải thiện tích cực. Hải Phòng được các doanh nghiệp đánh giá là một trong những địa phương có môi trường đầu tư hấp dẫn nhất. Cùng với việc phát triển kinh tế, tình hình chính trị ổn định, quốc phòng, an ninh, trật an toàn xã hội được giữ vững. Bên cạnh những kết quả đã đạt được, tình hình kinh tế trên địa bàn thành phố vẫn còn một số vấn đề tồn tại, hạn chế đáng chú ý: Một số dự án công nghiệp lớn trên địa bàn thành phố chưa hoạt động theo đúng công suất thiết kế, tiêu thụ sản phẩm đầu ra còn nhiều khó khăn do ảnh hưởng chung của nền kinh tế; sản xuất nông nghiệp vẫn gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của thiên tai, dịch bệnh, sản xuất còn manh mún; giải phóng mặt bằng tại một số dự án hạ tầng kỹ thuật của thành phố chưa đảm bảo tiến độ; thu ngân sách chưa đạt như kỳ vọng;... 
Để thực hiện thắng lợi kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2019, các cấp, các ngành, địa phương, đơn vị cần tập trung cao công tác chỉ đạo, điều hành, nghiêm túc quán triệt, thực hiện các văn bản chỉ đạo của Thành ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân thành phố về triển khai thực hiện nhiệm vụ, trong đó tập trung vào các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu sau:
Một là, đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến, thu hút đầu tư vào nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, vào các khu, vùng công nghệ cao theo quy hoạch; đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ tạo ra các vùng sản xuất lớn, các chuỗi cung ứng sản phẩm an toàn từ sản xuất chế biến và tiêu thụ nông sản, thực phẩm.
Hai là, tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; trong đó tập trung hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.
Ba là, siết chặt kỷ luật, kỷ cương tài chính, ngân sách và đầu tư công; tăng cường kiểm soát các nguồn thu, áp dụng triệt để, nghiêm minh các giải pháp chống thất thu, gian lận thuế, nợ đọng thuế.
Bốn là, thực hiện đầy đủ, kịp thời các chính sách, chế độ ưu đãi người có công; tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia Xây dựng nông thôn mới và Giảm nghèo bền vững; chú trọng giải quyết việc làm gắn với phát triển thị trường lao động.
Năm là, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, chủ động phòng chống thiên tai, dịch bệnh.
Sáu là, đẩy mạnh cải cách chế độ công vụ, công chức, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước; siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính; xây dựng chính quyền điện tử gắn với sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; đẩy mạnh phòng chống tham nhũng, lãng phí, giải quyết tố cáo, khiếu nại.
Bảy là, củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội./.

Tác giả bài viết: Cục Thống kê Hải Phòng

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Xếp hạng: 0 - 0 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019

Hỏi đáp Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây