Tình hình kinh tế - xã hội thành phố Hải Phòng tháng 5 năm 2018

Thứ ba - 29/05/2018 04:42
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 5 năm 2018 ước đạt 9.923,92 tỷ đồng, tăng 5,14% so với tháng trước và tăng 19,01% so với cùng kỳ năm trước
BÁO CÁO
TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI THÁNG 5, 5 THÁNG NĂM 2018
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ
1. Sản xuất công nghiệp

Chỉ số phát triển sản xuất (PTSX) công nghiệp trên địa bàn thành phố tháng 5 năm 2018 ước tăng 7,15% so tháng trước và tăng 24,5% so với cùng kỳ. Cộng dồn 5 tháng đầu năm 2018 chỉ số PTSX toàn ngành công nghiệp thành phố duy trì mức tăng cao, tăng 23,78% so với cùng kỳ năm 2017, trong đó: ngành khai khoáng tăng 12,59%; ngành chế biến, chế tạo tăng 26,67%; sản xuất và phân phối điện tăng 6,43%; cung cấp nước và xử lý nước thải, rác thải giảm 10,45%.
Trong 51 nhóm ngành kinh tế cấp 4 có 32 ngành có chỉ số PTSX công nghiệp 5 tháng đầu năm 2018 tăng so với cùng kỳ, trong đó: ngành sản xuất bê tông và các sản phẩm từ xi măng và thạch cao là ngành tăng 137,56%; tiếp theo sản xuất thiết bị truyền thông tăng 131,4%; ngành may trang phục tăng 70,33%,...
Có 19 ngành có chỉ số PTSX công nghiệp giảm, trong đó: ngành đóng tàu và cấu kiện nổi giảm 49,89%; ngành sản xuất thức ăn gia súc giảm 46,42%; ngành sản xuất mô tơ, máy phát, biến thế điện giảm 16,56%; ngành máy móc và thiết bị văn phòng giảm 14,02%;...
Năm tháng đầu năm 2018 chỉ số PTSX công nghiệp thành phố tiếp tục đạt mức tăng cao so với cùng kỳ năm 2017 (tăng 23,78%) chủ yếu đóng góp ở một số ngành công nghiệp trọng điểm, trong đó tình hình sản xuất của một số doanh nghiệp có đóng góp lớn trong tăng trưởng của toàn ngành công nghiệp:
Ngành sản xuất bê tông và các sản phẩm từ xi măng và thạch cao tiếp tục giữ mức tăng cao nhất (tăng 137,56%), trong đó công ty TNHH bê tông và xây dựng Minh Đức trong tháng 4 năm 2018 đã cung cấp cho các dự án xây dựng thành phố một khối lượng lớn sản phẩm cọc bê tông, dự kiến tháng 5 sản lượng sẽ giảm dần do dự án nhà máy ô tô Vinfast đã dần hoàn thiện phần xây dựng cơ bản (chỉ số PTSX công nghiệp ngành sản xuất bê tông và các sản phẩm từ xi măng và thạch cao tháng 5/2018 giảm 11,21% so với tháng 4/2018).
Nhóm ngành sản xuất sản phẩm điện tử 5 tháng/2018 đạt mức tăng 85,88% so với cùng kỳ, trong đó: sản xuất các thiết bị truyền thông tăng 131,4%; sản xuất sản phẩm điện tử dân dụng tăng 66% do có sự đóng góp của tập đoàn LG tại Hải Phòng. Các dự án của tập đoàn LG sản xuất sản phẩm công nghệ cao trong 5 tháng đầu năm 2018 tiếp tục giữ mức ổn định và mở rộng đầu tư với quy mô lớn, chiếm 38,5% doanh thu toàn ngành, tạo việc làm cho gần 8000 lao động, đóng góp lớn cho tăng trưởng công nghiệp toàn thành phố năm 2018. Công ty TNHH LG Electronics và LG Display Hải Phòng dự kiến tháng 5/2018 sẽ tăng sản lượng sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm màn hình ti vi và điện thoại, máy giặt...   
Ngành sản xuất trang phục 5 tháng đầu năm 2018 đạt mức tăng 70,33% so với cùng kỳ năm 2017; công ty TNHH may Regina Miracle trong tháng 4 và tháng 5 năm 2018 sản lượng sản xuất và tiêu thụ thấp hơn nhiều so với tháng trước do các đơn hàng đã tập trung sản xuất và xuất kho trong tháng 3/2018 là tháng kết thúc năm tài chính của công ty. Hiện nay công ty đã hoàn thành việc đầu tư lắp đặt dự án nhà máy C, tiếp tục đào tạo công nhân chuẩn bị đi vào sản xuất, dự kiến thời gian tới sản lượng sản xuất và nhu cầu lao động của doanh nghiệp sẽ tăng cao.
Ngành sản xuất và phân phối điện có chỉ số PTSX công nghiệp 5 tháng/2018 tăng 6,43% so với cùng kỳ năm trước, tháng 5/2018 tăng 5,11% so với tháng 4/2018. Tháng 5/2018 thời tiết bắt đầu nắng nóng, lượng mưa giảm dần nên công ty cổ phần Nhiệt điện Hải Phòng huy động phát cao hơn để phục vụ nhu cầu sinh hoạt của người dân cũng như điều kiện làm việc của các cơ quan, xí nghiệp, hạn chế tối đa tình trạng mất điện trên diện rộng trong những tháng cao điểm mùa hè.
Bên cạnh các ngành có chỉ số PTSX công nghiệp tăng, trong 51 ngành kinh tế cấp 4 có 19 ngành kinh tế có chỉ số PTSX công nghiệp 5 tháng năm 2018 giảm so với cùng kỳ, trong đó giảm nhiều nhất là ngành đóng tàu và cấu kiện nổi (giảm 49,89%) do các công ty đóng tàu những tháng đầu năm sản xuất vẫn gặp nhiều khó khăn, không ký được các hợp đồng lớn; ngành sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm giảm 46,4%; sản xuất máy móc và thiết bị văn phòng giảm 14,02% do không nhận được nhiều đơn hàng; sản xuất bia giảm 11,55% chủ yếu giảm ở các sản phẩm bia đóng chai của công ty bia Habeco Hải Phòng, do nhu cầu của thị trường cần tiêu thụ các dòng sản phẩm cao cấp hơn đồng thời người tiêu dùng có xu hướng sử dụng bia chai có dung tích nhỏ hơn...
* Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tháng 5/2018 tăng 0,85% so với tháng trước và tăng 2,97% so với cùng kỳ năm trước, cộng dồn 5 tháng đầu năm 2018 chỉ số tiêu thụ tăng 15,2%, trong đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao so cùng kỳ: sản xuất trang phục tăng 69,1%; sản xuất săm, lốp cao su tăng 12,6%; sản xuất thiết bị truyền thông tăng 18,8%; sản xuất bánh bi, bánh răng, hộp số tăng 41,6%; sản xuất phân bón và hơp chất nitơ tăng 10%, sản xuất bê tông và các sản phẩm từ xi măng tăng 137,8%....
Một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm so cùng kỳ: sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm và thủy sản giảm 44,9%; sản xuất thuốc hóa dược giảm 19,6%; sản xuất xi măng, vôi, thạch cao giảm 5,3%; sản xuất dây cáp, dây điện và điện tử khác giảm 4,7%; sản xuất bia giảm 10,1%...
* Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 31/5/2018 ước tăng 12,19% so với tháng trước và tăng 12,38% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao so cùng kỳ: sản xuất plastic và cao su dạng nguyên sinh tăng 189%; sản xuất phân bón và hợp chất nitơ tăng 120,4%; sản xuất thiết bị truyền thông tăng 17,9%; sản xuất các cấu kiện kim loại tăng 18,7%; sản xuất đồ điện dân dụng tăng 54,3%...
Một số ngành có chỉ số tồn kho giảm so với cùng kỳ như: sản xuất săm lốp cao su giảm 40,2%; sản xuất sản phẩm điện tử dân dụng giảm 51,3%; sản xuất xi măng, vôi giảm 7,1%; sản xuất sản phẩm từ plastic giảm 36,1%; sản xuất máy móc và thiết bị văn phòng giảm 54,1%...
        * Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/5/2018 ước tăng 1,6% so với tháng trước và tăng 14,2% so với cùng kỳ, trong đó lao động khu vực doanh nghiệp nhà nước giảm 2,2%; lao động doanh nghiệp ngoài nhà nước tăng 8,3%; lao động doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 19,9%.
Chia theo ngành cấp I: ngành khai khoáng giảm 5,6%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 15,1%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng giảm 6,8%; ngành cung cấp nước, quản lý, xử lý nước rác thải, nước thải tăng 0,4%.
Một số ngành chỉ số sử dụng lao động tăng cao: sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính tăng 4,7 lần; sản xuất trang phục tăng 21,7%; sản xuất thiết bị điện tăng 55,4%.
Một số ngành có chỉ số sử dụng lao động giảm: sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng giảm 6,8%; sản xuất chế biến thực phẩm giảm 15,1%; sản xuất dệt giảm 6,6%.
       *  Một số sản phẩm công nghiệp ước 5 tháng năm 2018 so với cùng kỳ: quần áo các loại đạt 51,5 triệu cái, tăng 39,8%; phân khoáng hoặc phân hóa học đạt 116,7 nghìn tấn, tăng 14,9%; màn hình khác đạt 3.604,9 nghìn cái, tăng 30,76%; máy giặt đạt 484 nghìn cái, tăng 5,7%; lốp hơi đạt 1.185 nghìn cái, tăng 12,1%; gang, thỏi, thép, thanh que sắt các loại đạt 604 nghìn tấn giảm 1,9%; xi măng Portland đen 2.066 nghìn tấn giảm 7,5%; điện sản xuất 3.164 triệu Kwh, tăng 5,9%...
2. Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản
2.1. Nông nghiệp

* Trồng trọt
Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ Đông xuân năm 2018 toàn thành phố đạt 49.397,7 ha, bằng 97,15%, giảm 1.449,2 ha so với vụ Đông xuân năm 2017.
Diện tích lúa gieo cấy vụ Đông xuân đạt 34.264,8 ha, bằng 97,72%, giảm 800,3 ha so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân giảm do chuyển đổi mục đích sử dụng đất, từ đất lúa sang quỹ đất phục vụ cho các dự án cụm công nghiệp, xây dựng khu tái định cư, các công trình thủy lợi, giao thông; một phần do chuyển đổi cơ cấu cây trồng trong nội bộ ngành nông nghiệp, từ diện tích đất lúa kém hiệu quả sang nuôi thủy trồng thủy sản, cây trồng khác có hiệu quả cao hơn.
Điểm sáng trong sản xuất lúa vụ Đông xuân năm nay là hầu hết các đơn vị đã tổ chức tiếp nhận và thực hiện tốt ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp; đưa nhiều bộ giống lúa có thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất cao, chất lượng tốt vào cơ cấu gieo trồng của địa phương.
Ước đến ngày 20/5/2018, diện tích lúa trỗ đạt 32.500 ha, đạt 93,0% diện tích gieo cấy, lúa trỗ tập trung từ 10-20/5/2018 đạt trên 90% diện tích gieo cấy; trà lúa xuân sớm chỉ còn 1.824 ha, chiếm 5,3% trong tổng diện tích gieo cấy, giảm 507 ha so với vụ xuân năm trước.
Diện tích ngô đạt 708,6 ha, bằng 86,26%, giảm 113 ha so với vụ Đông xuân năm trước. Nhiều giống ngô mới được đưa vào sản xuất cho năng suất cao, tuy nhiên bà con nông dân chưa đầu tư mở rộng diện tích trồng ngô vì đa số sản phẩm trồng ra các hộ tự sản tự tiêu và khó bảo quản sản phẩm sau thu hoạch.
Diện tích nhóm cây lấy củ có chất bột đạt 767,1 ha, bằng 101,38%, tăng 10,4 ha so với vụ Đông xuân năm trước, trong đó cây khoai lang có diện tích lớn nhất là 640,8 ha, bằng 101,49%, tăng 9,4 ha so với cùng kỳ năm trước.
Diện tích cây thuốc lào đạt 2.113,1 ha, bằng 85,47%, giảm 359 ha so với cùng kỳ năm trước, diện tích thuốc lào giảm chủ yếu ở các vùng trồng cho năng suất thấp, chất lượng thuốc không ngon, không được giá bán cao trên thị trường.
Diện tích nhóm rau - đậu - hoa, cây cảnh đạt 10.461,6 ha, bằng 98,09%, giảm 203,7 ha so với vụ Đông xuân năm trước, trong đó: nhóm cây rau các loại đạt 9.807,7 ha, bằng 97,4%, giảm 261,6 ha; nhóm đậu các loại đạt 64,1 ha, bằng 104,81%, tăng 3 ha; nhóm hoa, cây cảnh các loại đạt 589,7 ha, bằng 110,27%, tăng 54,9 ha. Để đáp ứng được nhu cầu của thị trường, bà con nông dân đã tập trung mở rộng diện tích, trong đó tập trung nhiều nhất ở huyện An Dương với diện tích đạt 325,4 ha chiếm tỷ trọng 55% tổng diện tích hoa, cây cảnh toàn thành phố. Nhiều giống hoa đa dạng về màu sắc và chủng loại nhằm đáp ứng thị hiếu của người chơi hoa, mang lại thu nhập cao hơn trên cùng một đơn vị diện tích gieo trồng cho các hộ trồng hoa và cây cảnh.
Trong nhóm cây gia vị cây ớt là cây trồng chủ lực có diện tích 694,1 ha chiếm tỷ trọng đến 90% tổng diện tích nhóm cây gia vị, bằng 95,41%, giảm 33,4 ha so với vụ Đông xuân năm trước do thời gian qua thị trường tiêu thụ cây ớt hạn chế, khó bảo quản, giá bán sản phẩm thấp.
Tình hình sâu bệnh trên cây trồng: Thời điểm hiện nay thời tiết có mưa, độ ẩm không khí cao là điều kiện thuận lợi cho bệnh đạo ôn cổ bông phát triển, gây hại. Các đơn vị chức năng đã có công điện, chỉ thị về chỉ đạo phòng trừ bệnh đạo ôn cổ bông đến các địa phương.
Giai đoạn hiện nay diện tích lúa đã trỗ khá đồng đều, tuy nhiên vẫn có 1 số diện tích lúa trỗ đầu tháng 5 năm 2018 có hiện tượng phoi hạt trên bông lúa rải rác ở một số giống lúa Thiên ưu 8, Khang dân 18, TBR225; cây rau màu sinh trưởng phát triển khá, ít sâu bệnh chuẩn bị cho thu hoạch.
* Chăn nuôi
Ước thực hiện tháng 5 năm 2018 số lượng đầu con gia súc, gia cầm hiện có như sau: đàn trâu đạt 5.315 con, bằng 98,75%, giảm 67 con so với cùng kỳ năm trước; đàn bò đạt 13.082 con, bằng 100,30%, tăng 39 con so với cùng kỳ năm trước; đàn lợn đạt 405.612 con, bằng 96,28%, giảm 15.655 con so với cùng kỳ năm trước; đàn gia cầm đạt 7.248,9 nghìn con, bằng 100,04%, tăng 2,9 nghìn con, trong đó: đàn gà đạt 5.766,1 nghìn con, bằng100,92%, tăng 52,6 nghìn con so với cùng kỳ năm trước.
Thời tiết đầu tháng 5/2018 tương đối thuận lợi cho đàn vật nuôi phát triển do chưa xuất hiện các đợt nắng nóng cao điểm của mùa hè; giá con giống gia cầm giữ mức ổn định, giá lợn giống tăng, thức ăn chăn nuôi chưa có biến động về giá; giá một số sản phẩm chăn nuôi có xu hướng tăng, đặc biệt là giá lợn hơi tăng mạnh, gia cầm và giá sản phẩm không qua giết thịt ổn định.
Tình hình dịch bệnh: Công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm được các cấp ngành tích cực tuyên truyền về giải pháp “phòng hơn chống” như: vệ sinh chuồng trại, kiểm dịch, kiểm soát vận chuyển và giết mổ…, công tác tổ chức tiêm phòng các loại vacxin được triển khai đồng bộ ở các địa phương nên cơ bản đàn gia súc gia cầm ổn định không phát sinh thêm ổ dịch bệnh nào.
2.2. Lâm nghiệp
Ước tháng 5 năm 2018, sản lượng gỗ khai thác đạt 125 m3, bằng 78,62%; củi khai thác đạt 3.130 ste, bằng 76,03% so với cùng kỳ năm trước. Ước 5 tháng/2018, sản lượng gỗ khai thác đạt 995 m3, bằng 100,61%; củi khai thác bằng 21.230 ste, bằng 96% so với cùng kỳ năm trước. Diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt 16 ha thuộc các Dự án phát triển nâng cao năng suất, chất lượng rừng như: dự án phục hồi và phát triển rừng phòng hộ ven biển, ven sông; dự án phục hồi và phát triển rừng ven biển tại quần đảo Cát Bà...; số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 135,5 ngàn cây, bằng 100% so với cùng kỳ năm trước.
Trong tháng 5/2018 không có vụ cháy và phá rừng trái phép nào xảy ra.
2.3. Thủy sản
Sản lượng nuôi trồng và khai thác thủy sản tháng 5/2018 ước đạt 13.183,4 tấn, tăng 949,3 tấn (+7,76%) so với cùng kỳ năm trước; ước 5 tháng/2018 đạt 63.087,9 tấn, tăng 4.403,3 tấn (+7,5%) so với cùng kỳ năm trước.
* Nuôi trồng
Diện tích nuôi trồng thủy sản ước thực hiện tháng 5/2018 đạt 8.792,2 ha, tăng 5,05% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: diện tích nuôi cá các loại đạt 5.363,6 ha giảm 2,13%; tôm các loại đạt 2.326,8 ha, giảm 6,61%, thủy sản khác đạt 1.101,8 ha, tăng 177,21% so với cùng kỳ năm trước. Ước 5 tháng/2018 diện tích nuôi trồng đạt 13.398,5 ha, tăng 4,33%, chia ra: diện tích nuôi cá các loại 7.226,9 ha tăng 0,75%; tôm các loại 5.006,8 ha, giảm 3,95%; thủy sản khác 1.164,8 ha tăng 154,95% so với cùng kỳ năm trước.
Sản lượng thủy sản nuôi trồng thu hoạch ước thực hiện tháng 5/2018 đạt 6.242,4 tấn, tăng 7,84% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: sản lượng cá đạt 3.630,8 tấn, tăng 5,29%; tôm các loại đạt 461,3 tấn, tăng 13,04%; thủy sản khác đạt 2.150,3 tấn, tăng 7,9%. Ước 5 tháng/2018, sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 30.955,4 tấn, tăng 8,81%, chia ra: sản lượng cá đạt 18.674,4 tấn, tăng 5,29%; tôm các loại đạt 1.908,4 tấn, tăng 10,34%; thủy sản khác đạt 10.372,6 tấn, tăng 15,45% so với cùng kỳ năm trước.
Khu vực nuôi lồng bè với các đối tượng nuôi chính có giá trị kinh tế cao như cá song, cá giò, cá sủ…sản lượng thu hoạch ước 5 tháng/2018 đạt 872,3 tấn, tăng 0,63% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng nhuyễn thể như hầu, ngao hoa,... ước đạt 180,2 tấn, tăng 0,64% so với cùng kỳ năm trước.
* Khai thác
Sản lượng khai thác tháng 5/2018 ước đạt 6.941,0 tấn tăng 7,69% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: khai thác cá đạt 3.727,3 tấn, tăng 16,46%; tôm đạt 538,6 tấn, tăng 5,01%; thủy sản khác đạt 2.675,1 tấn, giảm 2,09%. Tổng sản lượng khai thác 5 tháng/2018 ước đạt 32.132,6 tấn, tăng 6,28% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: khai thác cá đạt 17.480,7 tấn, tăng 13,61%; tôm đạt 2.654,1 tấn, tăng 7,63%; thủy sản khác đạt 11.997,8 tấn, giảm 3,1%. Sản lượng khai thác biển ước 5 tháng/2018 đạt 30.070,6 tấn tăng 7,13% so với cùng kỳ năm trước (cá 16.359,6 tấn, tôm 2.505,7 tấn và thủy sản khác 11.205,3 tấn).
Hiện nay là thời điểm chính vụ cá Nam, tình hình thời tiết trên biển tương đối thuận lợi cho hoạt động khai thác hải sản của ngư dân, các tàu lưới kéo, chụp mực, lưới rê, hoạt động hiệu quả. Bên cạnh đó các ban ngành Thành phố thường xuyên thông tin dự báo thời tiết trên radio, Đài thông tin Duyên hải Hải Phòng và thông tin dự báo ngư trường để ngư dân tiếp cận lập kế hoạch sản xuất hiệu quả.
3. Đầu tư xây dựng
Dự tính vốn đầu tư thực hiện tháng 5/2018 đạt 608,68 tỷ đồng, tăng 77,22% so cùng kỳ. Chia ra:
- Vốn ngân sách nhà nước cấp thành phố ước đạt 545,7 tỷ đồng, tăng 97,61% so với cùng kỳ;
- Vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước đạt 45,3 tỷ đồng, giảm so với cùng kỳ 10,13%;
- Vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 17,68 tỷ đồng, tăng so với cùng kỳ 4,64%.
Dự tính vốn đầu tư thực hiện 5 tháng/2018 là 2.316,6 tỷ đồng, tăng 63,33% so cùng kỳ. Chia ra:
- Vốn ngân sách nhà nước cấp thành phố ước 2.052,4 tỷ đồng, tăng so với cùng kỳ 77,17%;
- Vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước 189,9 tỷ đồng, giảm so cùng kỳ 1,54%;
- Vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước 74,3 tỷ đồng, tăng so với cùng kỳ 10,74%
Vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý 5 tháng đầu năm 2018 có sự tăng trưởng vượt bậc so với cùng kỳ do ngay từ những tháng đầu năm thành phố đã quyết liệt trong chỉ đạo, tập trung nguồn lực cho các dự án công trình sử dụng nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý, trong đó điển hình là nguồn vốn cân đối ngân sách thành phố (dự kiến 5 tháng/2018 tăng 139,25% so với cùng kỳ). Nguồn vốn này tập trung cho phát triển không gian đô thị gồm các dự án: dự án đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật khu đô thị mới Bắc Sông Cấm với tổng vốn đầu tư gần 10.000 tỷ đồng; dự án thoát nước mưa, nước thải và quản lý chất thải rắn Hải Phòng giai đoạn I; dự án phát triển giao thông đô thị thành phố Hải Phòng...
Bên cạnh nguồn vốn cân đối ngân sách thành phố có tốc độ tăng cao so với cùng kỳ, nguồn vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu dự kiến 5 tháng đầu năm 2018 giảm 42,39% so với cùng kỳ do những dự án được sử dụng nguồn vốn này thực hiện với khối lượng nhỏ như: dự án đầu tư xây dựng Mở rộng khu bay - Cảng hàng không quốc tế Cát Bi đang thực hiện nốt gói thầu số 34, khối lượng thực hiện 3 tỷ đồng/tháng; dự án đầu tư, cải tạo nâng cấp đường 356 (đoạn từ ngã ba Hiền Hào đến ngã ba Áng Sỏi huyện Cát Hải).... Phần lớn các dự án này đã triển khai thực hiện từ những năm trước, phân bổ vốn ngân sách trung ương sẽ được dùng để trả cho vốn cân đối ngân sách thành phố.
Thực hiện nguồn vốn nước ngoài (ODA) dự kiến 5 tháng/2018 tăng 5,09% so với cùng kỳ. Năm 2018, nguồn vốn này bố trí cho 7 dự án: dự án phát triển giao thông đô thị Hải Phòng; dự án thoát nước mưa, nước thải và quản lý chất thải rắn; dự án Quản lý đất đai; dự án cung cấp trang thiết bị y tế cho Bệnh viện phụ sản Hải Phòng; và các dự án trong chương trình mục tiêu ứng phó với biến đổi khí hậu và tăng trưởng nhanh.
Tình hình thực hiện một số dự án lớn đến thời điểm hiện nay:
- Dự án cầu Hoàng Văn Thụ đến thời điểm hiện tại thực hiện 86% khối lượng công việc, tương đương gần 2.300 tỷ đồng, dự kiến quý 4/2018 sẽ hoàn thành.
- Dự án cải thiện điều kiện vệ sinh môi trường: sử dụng vốn ODA và vốn đối ứng những tháng đầu năm 2018 nhiều gói thầu bị chậm tiến độ hoàn thành do nhu cầu về vốn chưa được đáp ứng kịp thời. Gói thầu Xây dựng nhà máy xử lý nước thải Vĩnh Niệm đến hết tháng 3/2018 hoàn thành được 95,17% khối lượng, khối lượng giải ngân đến thời điểm hiện tại mới đạt 48,01%.    
- Ngày 14/5/2018 dự án đầu tư chỉnh trang lại sông Tam Bạc (đoạn từ cầu Lạc Long đến công viên Tam Bạc) với tổng mức đầu tư 1.454 tỷ đồng và dự án xây dựng trục đường Hồ Sen - Cầu Rào 2, đoạn từ nút giao với đường Nguyễn Văn Linh đến ngã 3 đường Chợ Con với tổng mức đầu tư 1.405 tỷ đồng đã chính thức được khởi công, đây là hai dự án có ý nghĩa hết sức quan trọng góp phần xây dựng thành phố Hải Phòng ngày càng văn minh, hiện đại. Hiện tại hai dự án đang trong quá trình chuẩn bị mặt bằng và sẽ nhanh chóng triển khai thực hiện các hạng mục chính, phấn đấu hoàn thành vào cuối năm 2018.
* Tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngoài
Tính đến 15/5/2018 Hải Phòng có 543 dự án còn hiệu lực:
Tổng vốn đầu tư:      15.547,768 triệu USD
Vốn điều lệ:                5.215,784 triệu USD
Vốn Việt Nam góp:       251,732  triệu USD
Nước ngoài góp:        4.964,052  triệu USD
Từ đầu năm đến 15/5/2018, toàn thành phố có 28 dự án cấp mới với số vốn 72,8 triệu USD và 24 dự án điều chỉnh tăng vốn với số vốn tăng là 957,1 triệu USD. Các dự án mới và tăng vốn chủ yếu ở ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.
Từ nửa cuối tháng 4 đến 15/5/2018 có 3 dự án cấp mới và 2 dự án điều chỉnh tăng vốn là dự án sản xuất linh kiện và bộ phận cơ khí chính xác của Công ty TNHH Vina - Bingo của nhà đầu tư Nhật Bản điều chỉnh tăng 1,3 triệu USD, nâng tổng số vốn của công ty sau điều chỉnh lên 6,3 triệu USD và dự án dịch vụ Serveone Việt Nam của Công ty TNHH Serveone (Việt Nam) của nhà đầu tư Hàn Quốc điều chỉnh tăng 3 triệu USD, nâng tổng số vốn đầu tư của công ty sau điều chỉnh lên 27 triệu USD.
Cũng từ đầu năm đến 15/5/2018, có 3 dự án thu hồi do không triển khai, 4 dự án chấm dứt hoạt động theo quyết định của nhà đầu tư, trong đó có 2 dự án trong khu công nghiệp và 5 dự án ngoài khu công nghiệp.
Ước thực hiện Vốn đầu tư 40,35%.
4. Tổng mức lưu chuyển hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 5 năm 2018 ước đạt 9.923,92 tỷ đồng, tăng 5,14% so với tháng trước và tăng 19,01% so với cùng kỳ năm trước. Cộng dồn 5 tháng đầu năm 2018, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 46.950,78 tỷ đồng, tăng 14,80% so với cùng kỳ năm trước.
* Chia theo khu vực kinh tế
- Khu vực kinh tế nhà nước đạt 279,61 tỷ đồng, tăng 7,78% so với tháng trước, tăng 19,89% so với cùng kỳ năm trước. Cộng dồn 5 tháng đầu năm 2018, khu vực kinh tế nhà nước ước đạt 1.307,85 tỷ đồng, tăng 11,98% so với cùng kỳ năm trước;
- Khu vực kinh tế ngoài nhà nước đạt 9.201,65 tỷ đồng, tăng 5,14% so với tháng trước và tăng 19,04% so với cùng kỳ năm trước. Cộng dồn 5 tháng đầu năm 2018, khu vực kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 43.378,21 tỷ đồng, tăng 15,30% so với cùng kỳ năm trước;
- Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 442,65 tỷ đồng, tăng 3,49% so với tháng trước, tăng 17,80% so với cùng kỳ năm trước. Cộng dồn 5 tháng đầu năm 2018, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 2.264,72 tỷ đồng, tăng 7,29% so với cùng kỳ năm trước.
* Chia theo ngành hoạt động
- Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 5 năm 2018 ước đạt 7.606,15 tỷ đồng, tăng 4,26% so với tháng trước, tăng 19,80% so với cùng kỳ năm trước. Cộng dồn 5 tháng đầu năm 2018, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 36.424,45 tỷ đồng, tăng 14,03% so với cùng kỳ năm trước;
Hầu hết các ngành hàng đều ước tính doanh thu tháng 5/2018 tăng hơn so với tháng trước như ngành hàng lương thực thực phẩm (tăng 1,55%); hàng may mặc (tăng 4,13%); ngành đồ dùng trang thiết bị gia đình (tăng 4,63%); gỗ và vật liệu xây dựng (tăng 5,75%); phương tiện đi lại (tăng 0,98%), xăng dầu (tăng 4,46%), nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) (tăng 2,54%)...
Tính chung 5 tháng đầu năm 2018, tổng mức bán lẻ hàng hóa tăng 14,03% so với cùng kỳ năm 2017, chủ yếu tăng ở các nhóm ngành lương thực, thực phẩm (tăng 14,62%); may mặc (tăng 20,21%), đồ đùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình (tăng 13,56%), vật phẩm văn hóa giáo dục (tăng 17,71%); xăng dầu (tăng 17,97%); nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) (tăng 9,94%)...
- Doanh thu dịch vụ lưu trú tháng 5/2018 ước đạt 134 tỷ đồng, tăng 14,21% so với tháng trước và tăng 23,42% so với cùng kỳ năm trước. Cộng dồn 5 tháng/2018 doanh thu lưu trú đạt 561 tỷ đồng, tăng 15,63% so với cùng kỳ năm 2017.
- Doanh thu dịch vụ ăn uống tháng 5/2018 ước đạt 1.341 tỷ đồng, tăng 8,95% so với tháng trước và tăng 18,72% so với cùng kỳ năm trước. Cộng dồn 5 tháng/2018 doanh thu ăn uống đạt 5.928 tỷ đồng, tăng 19,02% so với cùng kỳ năm 2017.
- Doanh thu du lịch lữ hành tháng 5/2018 ước đạt 17,28 tỷ đồng, tăng 13,27% so với tháng trước, tăng 36,95% so với cùng kỳ năm trước. Cộng dồn 5 tháng/2018 doanh thu lưu trú đạt 73,73 tỷ đồng tăng 27,48% so với cùng kỳ năm 2017.
- Doanh thu dịch vụ khác tháng 5/2018 ước đạt 825,63 tỷ đồng, tăng 5,82% so với tháng trước, tăng 11,75% so với cùng kỳ năm trước. Cộng dồn 5 tháng/2018, doanh thu dịch vụ khác ước đạt 3.963,99 tỷ đồng, tăng 15,48% so với cùng kỳ năm trước.
Doanh thu các ngành dịch vụ tháng 5/2018 tăng so với tháng 4/2018 ở các nhóm: dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ (+4,30%), dịch vụ giáo dục và đào tạo (+5,72%), dịch vụ nghệ thuật và vui chơi giải trí (+2,35%), dịch vụ sửa chữa máy vi tính, đồ dùng cá nhân và gia đình (+2,27%). Trong tháng 5/2018, thành phố khởi công một số dự án trọng điểm như: nút giao thông Nguyễn Văn Linh, dự án xây dựng trung tâm thương mại Aeon mall, các dự án chỉnh trang đô thị… một số hộ dân cư trong diện di rời tìm chỗ ở mới nên nhu cầu về giá bất động sản, dịch vụ bất động sản tăng lên.
5. Hoạt động lưu trú và lữ hành    
Tổng lượt khách do các cơ sở lưu trú và lữ hành thành phố phục vụ ước tháng 5/2018 đạt 654,03 nghìn lượt, tăng 14,88% so với tháng trước và tăng 19,13% so với cùng tháng năm 2017, trong đó khách quốc tế đạt 68 nghìn lượt, tăng 10,46% so với tháng trước và tăng 16,63% so với cùng tháng năm trước. Cộng dồn 5 tháng đầu năm 2018, tổng lượt khách do các cơ sở lưu trú và lữ hành thành phố phục vụ ước đạt 2.811 nghìn lượt, tăng 15,1% so với năm 2017, trong đó khách quốc tế đạt 306,26 nghìn lượt, tăng 11,09%.
Đối với hoạt động lữ hành, lượt khách lữ hành tháng 5 năm 2018 đạt 9,8 nghìn lượt, tăng 13,55% so với tháng trước, tăng 9,56% so với cùng kỳ năm trước. Cộng dồn 5 tháng năm 2018, lượt khách lữ hành ước đạt 46,2 nghìn lượt, tăng 27,48% so với cùng kỳ năm 2017. Tháng 5 là thời điểm khởi động mùa du lịch biển và cũng là thời điểm các hãng hàng không và công ty lữ hành tung ra các tour du lịch với mức giá hấp dẫn nên nhu cầu du lịch của người dân tăng cao.
6. Vận tải hàng hóa và hành khách
6.1. Vận tải hàng hoá

Khối lượng hàng hoá vận chuyển tháng 5 năm 2018 ước đạt 14,5 triệu tấn, tăng 0,96% so với tháng trước và tăng 16,5% so với cùng tháng năm trước. Ước tính 5 tháng năm 2018 khối lượng hàng hoá vận chuyển đạt 71,2 triệu tấn, tăng 14,39% so với cùng kỳ năm trước.
Khối lượng hàng hóa luân chuyển tháng 5 năm 2018 ước đạt 7.936,4 triệu tấn.km, tăng 1,46% so với tháng trước và tăng 17,36% so với cùng tháng năm trước. Ước tính 5 tháng năm 2018 khối lượng hàng hóa luân chuyển đạt 38.891 triệu tấn.km, tăng 14,83% so với cùng kỳ năm trước.
6.2. Vận tải hành khách
Khối lượng hành khách vận chuyển tháng 5 năm 2018 ước đạt 5,2 triệu lượt, tăng 3,35% so với tháng trước, tăng 16,06% so với cùng tháng năm trước. Ước tính 5 tháng năm 2018 khối lượng hành khách vận chuyển đạt 24,7 triệu lượt, tăng 14,45% so với cùng kỳ năm trước.
Khối lượng hành khách luân chuyển tháng 5 năm 2018 đạt 214,5 triệu Hk.km, tăng 4,07% so với tháng trước và tăng 21,12% so với cùng tháng năm trước. Ước tính 5 tháng năm 2018 khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 993,2 triệu Hk.km, tăng 15,39% so với cùng kỳ năm trước.
Khối lượng hành khách vận chuyển và luân chuyển tháng 5/2018 tăng so với tháng trước do đang là thời điểm mùa du lịch biển ở Cát Bà, Đồ Sơn, nhu cầu đi lại bằng xe khách, taxi, tàu thủy,... tăng cao. Mặt khác từ khi cầu đường ô tô Tân Vũ - Lạch Huyện được khánh thành và đưa vào khai thác sử dụng, lưu lượng phương tiện ra huyện Cát Hải, đảo Cát Bà du lịch ngày càng tăng.
6.3. Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải
Dịch vụ kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải phát triển ổn định, cụ thể doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng 5 năm 2018 ước đạt 2.125,3 tỷ đồng, tăng 0,55% so với tháng trước và tăng 17,41% so với cùng tháng năm trước. Ước tính 5 tháng năm 2018 doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 10.514,8 tỷ đồng, tăng 14,56% so với cùng kỳ năm trước.
6.4. Sân bay Cát Bi
Tháng 5 năm 2018 tổng doanh thu của Sân bay Cát Bi ước đạt 18,5 tỷ đồng, giảm 8,54% so với tháng trước; giảm 5,13% so với cùng tháng năm 2017; 5 tháng năm 2018 tổng doanh thu của Sân bay Cát Bi ước đạt 88,7 tỷ đồng, tăng 2,22% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu tháng 5/2018 giảm so với cùng kỳ năm trước do một số tuyến bay ngừng hoạt động, cùng với đó là doanh thu từ hoạt động quảng cáo tiếp tục giảm do hiệu quả hoạt động không cao.
Số lần máy bay cất, hạ cánh tháng 5 năm 2018 ước đạt 1.090 chuyến, giảm 6,84% so với tháng trước, giảm 4,55% so với cùng tháng năm 2017. Ước tính 5 tháng/2018 số lần máy bay cất, hạ cánh đạt 5.746 chuyến, giảm 5,74% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó chuyến bay ngoài nước tháng 5/2018 ước đạt 90 chuyến, giảm 19,64% so với cùng kỳ. Số lần máy bay hạ, cất cánh giảm do 1 số tuyến bay ngừng hoạt động cả trong và ngoài nước.
Tổng số hành khách tháng 5 năm 2018 ước đạt 192 ngàn lượt người, giảm 1,91% so với tháng trước, tăng 16,79% so với cùng tháng năm 2017; ước tính 5 tháng/2018 tổng số hành khách ước đạt 935,7 ngàn lượt, tăng 8,02% so với cùng kỳ năm trước.
Tổng số hàng hóa tháng 5 năm 2018 ước đạt 1.250 tấn, giảm 11,35% so với tháng trước, tăng 49,7% so với cùng tháng năm 2017; ước tính 5 tháng/2018 tổng số hàng hóa thông qua đạt 6.192 tấn, tăng 52,25% so với cùng kỳ năm trước.
7. Hàng hoá thông qua cảng
Sản lượng hàng hóa thông qua cảng tháng 5 năm 2018 ước đạt 8,895 triệu TTQ, tăng 3,85% so với tháng trước và tăng 18,65% so với cùng kỳ năm trước, cụ thể:
- Khối cảng thuộc kinh tế Nhà nước ước đạt 3,349 triệu TTQ, tăng 5,4% so với tháng trước, giảm 2,83% so với cùng kỳ năm trước, trong đó:
+ Cảng thuộc khối doanh nghiệp nhà nước Trung ương ước đạt 3,329 triệu TTQ, tăng 4,8% so với tháng trước, giảm 2,96% so với cùng kỳ.
+ Cảng thuộc khối doanh nghiệp Nhà nước địa phương ước đạt 20 ngàn TTQ, tăng 22,55% so với cùng kỳ.
- Các cảng thuộc khu vực kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 5,546 triệu TTQ, tăng 2,93% so với tháng trước, tăng 36,92% so với cùng kỳ.
Cộng dồn 5 tháng đầu năm 2018, sản lượng hàng hóa thông qua trên địa bàn thành phố đạt 41,895 triệu tấn, tăng 17,17% so với cùng kỳ năm 2017.
* Doanh thu cảng biển tháng 5 năm 2018 của khối cảng trên địa bàn thành phố ước đạt 408,2 tỷ đồng, tăng 10,34% so với tháng trước. Cộng dồn 5 tháng/2018 doanh thu cảng biển ước đạt 1.915,8 tỷ đồng, tăng 1,83% so với cùng kỳ năm trước.
Tháng 5 năm 2018, cảng nước sâu Nam Đình Vũ và Cảng Container quốc tế Hải Phòng đi vào hoạt động; cảng Nam Đình Vũ có đủ điều kiện tiếp nhận các tàu có trọng tải lên đến 40.000 tấn; cảng Container quốc tế Hải Phòng là cảng nước sâu đầu tiên của khu vực kinh tế trọng điểm phía Bắc, có khả năng tiếp nhận tàu container sức chở 14.000 TEU. Việc đưa vào khai thác các cảng này là giải pháp tích cực, hữu hiệu nhằm giảm tải cho các cảng nằm sâu trong nội địa, giảm áp lực về giao thông trong khu vực nội đô, nâng cao năng lực tiếp nhận hàng hóa. Các cảng này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của ngành kinh tế biển và tác động phát triển cộng sinh cho các ngành kinh tế khác, góp phần khẳng định vị thế của Hải Phòng trong việc trở thành mắt xích quan trọng kết nối các vành đai kinh tế.
8. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) thành phố Hải Phòng tháng 5 năm 2018 tăng 0,55% so với tháng trước, tăng 4,67% so với cùng kỳ năm trước và tăng 2,50% so với tháng 12/2017. CPI bình quân 5 tháng đầu năm 2018 so với cùng kỳ năm trước tăng 4,10%.
Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 7 nhóm chỉ số giá tháng 5/2018 tăng so với tháng trước với mức tăng cụ thể như sau: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,09%; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,25%; nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,06%; nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,33%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,02%; nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,03%; nhóm giao thông tăng 1,47%. Có 02 nhóm hàng giảm là nhóm văn hóa giải trí và du lịch giảm 0,60%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác giảm 0,01%. Hai nhóm còn lại là bưu chính viễn thông và giáo dục ổn định.
Nguyên nhân chính làm CPI tháng 5/2018 tăng là chỉ số giá thực phẩm tăng 1,67% làm cho CPI chung tăng 0,38%; giá gas tăng 2,89% làm cho CPI chung tăng 0,03%; giá xăng dầu diesel tăng 3,06% làm CPI chung tăng 0,10%....
Tháng 5/2018 chỉ số giá lương thực tăng 0,50%, giá thực phẩm tăng 1,67% so với tháng trước do giá thịt gia súc tươi sống tăng. Sau một thời gian dài thua lỗ, nhiều hộ chăn nuôi giảm dần việc chăn nuôi nên số lượng đàn lợn giảm. Bên cạnh đó, việc Trung Quốc tăng thuế nhập khẩu thịt lợn từ Mỹ lên 25%, nhu cầu thu gom thịt lợn chờ xuất sang Trung Quốc tăng cao khiến giá thịt lợn cũng tăng cao.
Chỉ số nhóm nhà ở, chất đốt và vật liệu xây dựng tháng 5/2018 tăng 0,33% so với tháng trước, tác động chính bởi chỉ số giá gas tăng do ảnh hưởng của giá gas thế giới, giá gas tháng 5/2018 tăng 10.000 đồng/bình 12kg.
Chỉ số nhóm giao thông tăng 1,47% so với tháng trước do giá nhiên liệu tăng 3,58% so với tháng trước. Giá xăng dầu được điều chỉnh tăng 02 lần trong tháng vào hai ngày 08/5 và ngày 23/5. Tổng cộng giá xăng A95 tăng 1.010đồng/lít, giá xăng E5 tăng 1.010 đồng/lít, giá dầu diezel tăng 960 đồng/lít nên bình quân tháng 5/2018 giá xăng dầu tăng 3,85% so với tháng trước.
Chỉ số nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,60% so với tháng trước, tác động bởi giá hoa tươi giảm 8,03% và giá dịch vụ du lịch trọn gói trong nước giảm 2,88% do giá phòng, giá các dịch vụ vui chơi, giải trí giảm sau dịp nghỉ lễ 30/4 - 01/5.
* Chỉ số giá vàng 99,99% và Đô la Mỹ:
- Chỉ số giá vàng tháng 5/2018 giảm 0,86% so với tháng trước, tăng 5,84% so với cùng tháng năm 2017, tăng 3,39% so với tháng 12 năm trước. Giá vàng bình quân tháng 5/2018 dao động ở mức 3,688 triệu đồng/chỉ, giảm 32.000 đồng/chỉ.
- Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 5/2018 giảm 0,10% so với tháng trước, tăng 0,23% so với cùng tháng năm 2017, tăng 0,24% so với tháng 12 năm trước. Tỷ giá USD/VND bình quân tháng 5/2018 dao động ở mức 22.805 đồng/USD, giảm 22 đồng/USD.
9. Hoạt động tài chính, ngân hàng
9.1. Tài chính

Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn tháng 5/2018 ước đạt 5.364,7 tỷ đồng, ước 5 tháng/2018 đạt 27.243,3 tỷ đồng, bằng 95,8% so cùng kỳ năm trước, trong đó: thu nội địa tháng 5/2018 ước đạt 1.709,8 tỷ đồng, ước 5 tháng/2018 đạt 9.450 tỷ đồng, tăng 18,3% so cùng kỳ; thu hải quan tháng 5/2018 ước đạt 3.500 tỷ đồng, ước 5 tháng/2018 đạt 16.033,5 tỷ đồng, bằng 83,2% so cùng kỳ.
Trong thu nội địa, thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước Trung ương đạt 133 tỷ đồng, ước 5 tháng/2018 đạt 751,4 tỷ đồng, tăng 2% so cùng kỳ; thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước địa phương đạt 86,2 tỷ đồng, ước 5 tháng/2018 đạt 452,2 tỷ đồng, tăng 0,8% so với cùng kỳ; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 155 tỷ đồng, ước 5 tháng/2018 đạt 1.223,6 tỷ đồng, bằng 87,4% so với cùng kỳ; thu từ khu vực cá thể nhỏ và ngoài quốc doanh đạt 347,1 tỷ đồng, ước 5 tháng/2018 đạt 1.708,3 tỷ đồng, tăng 21,9% so cùng kỳ.
Tổng chi cân đối ngân sách địa phương tháng 5/2018 ước đạt 2.580,5 tỷ đồng, ước 5 tháng/2018 đạt 6.982,5 tỷ đồng, bằng 74,7% so với cùng kỳ, trong đó: chi đầu tư xây dựng cơ bản đạt 1.712,5 tỷ đồng, ước 5 tháng/2018 đạt 3.340,6 tỷ đồng, bằng 83,6% so với cùng kỳ; chi thường xuyên đạt 738,1 tỷ đồng, ước 5 tháng/2018 đạt 3.315,7 tỷ đồng, bằng 91,6% so cùng kỳ.
9.2. Ngân hàng
* Công tác huy động vốn:
Tổng nguồn vốn huy động trên địa bàn ước thực hiện đến hết tháng 5 năm 2018 đạt 175.898 tỷ đồng, tăng 20,06% so với cùng kỳ năm 2017.
Theo loại tiền: Huy động bằng VND ước đạt 164.572 tỷ đồng, tăng 20,52% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 93,56%; ngoại tệ ước đạt 11.326 tỷ đồng, tăng 13,68% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 6,44%.
Theo hình thức huy động: Huy động tiền gửi tiết kiệm ước đạt 122.996 tỷ đồng, tăng 16,76% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 69,92%; tiền gửi thanh toán ước đạt 48.217 tỷ đồng, tăng 17,12% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 27,41%; phát hành giấy tờ có giá ước đạt 4.685 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 2,67%.
* Công tác tín dụng:
Tổng dư nợ cho vay các thành phần kinh tế ước thực hiện đến hết tháng 5 năm 2018 đạt 105.218 tỷ đồng, tăng 19,06% so với cùng kỳ trước.
Cơ cấu dư nợ theo loại tiền: Cho vay bằng VND đạt 96.626 tỷ đồng, tăng 20,25% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 91,83%. Cho vay ngoại tệ (quy đổi VND) ước đạt 8.592 tỷ đồng, tăng 7,07% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 8,17%.
Cơ cấu dư nợ phân theo thời hạn vay: Cho vay ngắn hạn ước đạt 47.895 tỷ đồng, tăng 30,06% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 45,52%; cho vay trung, dài hạn ước đạt 57.323 tỷ đồng, tăng 11,19% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 54,48%.
10. Xuất nhập khẩu hàng hóa
10.1. Xuất khẩu hàng hoá

Kim ngạch xuất khẩu tháng 5 năm 2018 ước đạt 705,6 triệu USD, tăng 1,07% so với tháng trước; trong đó: khu vực kinh tế trong nước đạt 166,9 triệu USD, tăng 0,62%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 538,7 triệu USD, tăng 1,21%.
So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 5 năm 2018 tăng 27,79%, trong đó: khu vực kinh tế trong nước tăng 23,79%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 29,07%.
Tính chung 5 tháng năm 2018, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 3.213,9 triệu USD, tăng 25,43% so với cùng kỳ năm 2017; trong đó: khu vực kinh tế trong nước đạt 795,1 triệu USD, tăng 18,98%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 2.418,7 triệu USD, tăng 27,71%.
Một số mặt hàng xuất khẩu trong 5 tháng năm 2018 có kim ngạch tăng cao so với cùng kỳ năm trước: sản phẩm Plastic đạt 194,1 triệu USD, tăng 25,86%; hàng dệt may đạt 179,3 triệu USD, tăng 23,26%; giày dép đạt 621,5 triệu USD, tăng 21,57%; hàng điện tử đạt 164,9 triệu USD, tăng 31,32%; dây điện và cáp điện đạt 260,4 triệu USD, tăng 24%...
10.2. Nhập khẩu hàng hóa
Kim ngạch nhập khẩu tháng 5 năm 2018 ước đạt 642,8 triệu USD, tăng 1,68% so với tháng trước; trong đó: khu vực kinh tế trong nước đạt 154,1 triệu USD, tăng 1,2%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 488,7 triệu USD, tăng 1,84%.
So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng 5 năm 2018 tăng 14,34%; trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 11,36%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 15,32%.
Tính chung 5 tháng năm 2018, kim ngạch nhập khẩu ước đạt 3.068,1 triệu USD, tăng 19,25% so với cùng kỳ năm 2017; trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 768,4 triệu USD, tăng 13,36%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 2.299,7 triệu USD, tăng 21,35%.
Một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu trong 5 tháng năm 2018 tăng cao hơn so với cùng kỳ: hóa chất đạt 37,6 triệu USD, tăng 21,83%; phụ liệu hàng may mặc đạt 91,7 triệu USD, tăng 21,33%; phụ liệu giày dép đạt 409,2 triệu USD, tăng 19,77%; vải may mặc đạt 51,9 triệu USD, tăng 17,03%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 419,5 triệu USD, tăng 18,3%.
II. VĂN HÓA - XÃ HỘI
1. Lao động - thương binh, xã hội

* Công tác Lao động, việc làm
Tháng 5 năm 2018 trên địa bàn thành phố đã tổ chức 03 phiên giao dịch việc làm, với sự tham gia tuyển dụng của 121 lượt doanh nghiệp, nhu cầu tuyển dụng là 8.017 lượt lao động. Cộng dồn 5 tháng đầu năm 2018 sàn giao dịch việc làm đã tổ chức 12 phiên giao dịch (trong đó có 01 phiên “Ngày hội việc làm với thanh niên” và 01 phiên lưu động) với sự tham gia tuyển dụng của 437 lượt doanh nghiệp, với nhu cầu tuyển dụng 25.834 lượt lao động. Cung lao động tại Sàn đạt 31.750 lượt người, gấp gần 1,23% nhu cầu tuyển dụng.
Số lượng đăng kí bảo hiểm thất nghiệp trong 5 tháng đầu năm là 5.669 người (tăng 9,08% so với cùng kỳ năm 2017), giải quyết chế độ bảo hiểm thất nghiệp cho 4.382 người (giảm 3,07% so với cùng kỳ năm 2017), với kinh phí hơn 62 tỷ đồng (tăng 11,28%); hướng dẫn, tiếp nhận thỏa ước lao động tập thể 46 doanh nghiệp (bằng 97% so với cùng kỳ năm 2017); hướng dẫn, thẩm định và ra thông báo thực hiện nội quy lao động được 44 doanh nghiệp (bằng 93% so với cùng kỳ năm 2017).
 Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn thành phố xảy ra 03 cuộc đình công với 1.877 lao động tham gia (bằng số cuộc và tăng 427 lao động so với cùng kỳ năm 2017); xảy ra 06 vụ tai nạn làm chết 06 người (giảm 01 vụ và 01 người chết so với cùng kỳ năm 2017).
* Công tác giáo dục nghề nghiệp
 Tháng 5 năm 2018 tổ chức thành công Kỳ thi tay nghề cấp thành phố và tham gia Kỳ thi tay nghề toàn quốc năm 2018 của Đoàn Hải Phòng. Ước tuyển sinh đào tạo đến hết tháng 5/2018 được 15.000 học sinh, sinh viên đạt 29% kế hoạch năm và bằng 111% so với cùng kỳ năm 2017, trong đó trình độ cao đẳng đạt 150 sinh viên; trung cấp nghề đạt 750 học sinh; sơ cấp và dạy nghề thường xuyên đạt 14.100 học viên; đến hết tháng 5 số tốt nghiệp trình độ sơ cấp và đào tạo thường xuyên ước đạt 9.800 học viên.
* Công tác người có công
Trong tháng 5/2018 giải quyết chế độ chính sách đối với 752 trường hợp; quyết định điều dưỡng tập trung đối với 183 người có công và thân nhân với kinh phí 406 triệu đồng; đề nghị công nhận 116 người có công. 5 tháng đầu năm 2018 đã giải quyết chế độ chính sách cho 3.933 trường hợp; đề nghị cấp lại 357 bằng Tổ quốc ghi công bị mất, hỏng; thẩm định 5.346 đối tượng người có công.
* Công tác giảm nghèo và bảo trợ xã hội
Tháng 5/2018, tiếp nhận 01 đối tượng vào các Trung tâm bảo trợ xã hội, 03 đối tượng tâm thần tại cộng đồng vào nuôi dưỡng tập trung tại Trung tâm điều dưỡng người tâm thần. Tập trung được 60 lượt người lang thang. Tổ chức các đợt cao điểm tập trung được 15 người lang thang trên toàn thành phố trước, trong và sau Lễ hội Hoa Phượng đỏ - Hải Phòng 2018.
2. Giáo dục - Đào tạo
Các trường học tổ chức kiểm tra học kỳ II, hoàn thành kế hoạch năm học 2017 - 2018; tổ chức các hoạt động kỷ niệm Lễ Chiến thắng 30/4, ngày Quốc tế Lao động 1/5, ngày giải phóng Hải Phòng 13/5, ngày Sinh nhật Bác 19/5. Trong cuộc thi Khoa học kỹ thuật Quốc tế - Intel ISEF 2018 tại Mỹ, đoàn Hải Phòng có 01 dự án đạt giải 3 cũng là giải 3 duy nhất của đoàn Việt Nam. Hoàn thành hướng dẫn tuyển sinh đầu cấp và Kế hoạch tuyển sinh vào lớp 10 năm học 2018 - 2019, thông báo tuyển sinh vào trường THPT chuyên Trần Phú. Sở Giáo dục và Đào tạo triển khai phối hợp với Thành Đoàn xây dựng kế hoạch hoạt động Hè năm 2018.
3. Y tế và An toàn vệ sinh thực phẩm
* Công tác y tế dự phòng
Trong tháng trung tâm Y tế dự phòng đã giám sát 33 lượt tại các bệnh viện tuyến thành phố; 07 lượt giám sát véc tơ truyền bệnh sốt xuất huyết tại tại 6 quận huyện. Tính đến 30/4/2018, toàn thành phố ghi nhận 02 ca sốt xuất huyết; 355 ca tay chân miệng, tăng 186 ca so với tháng 3/2018; 220 ca mắc tiêu chảy, tăng 29 ca so tháng trước; 424 ca nhiễm cúm, tăng 26 ca so với tháng 3/2018. Các bệnh nhân đều được phát hiện sớm, điều trị kịp thời.
* Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm
Tháng 5 năm 2018 thành phố xảy ra 02 vụ ngộ độc thực phẩm làm 47 người mắc ngộ độc, không gây chết người. Sở Y tế tiếp tục kiểm tra đột xuất các cơ sở sản xuất kinh doanh thực phẩm trên địa bàn thành phố, theo đó có 08 cơ sở được kiểm tra, kết quả có 5 cơ sở đạt tiêu chuẩn, đạt tỷ lệ 62,5%. Hoạt động thanh, kiểm tra các cơ sở sẽ tiếp tục để nâng cao hiệu quả công tác vệ sinh an toàn thực phẩm.
4. Văn hóa - Thể thao
Công tác văn hóa: trong Liên hoan hát Văn, hát Chầu văn toàn quốc năm 2018 tại thành phố Huế, đoàn nghệ thuật Hải Phòng đã giành 02 giải xuất sắc.
Công tác thể thao: tổ chức thành công lớp Hướng dẫn viên Thể dục thể thao Hè năm 2018; lớp tập huấn nghiệp vụ dành cho cán bộ, công chức cộng tác viên thể dục thể thao cơ sở theo "Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới". Tổ chức thành công giải Bóng chuyền bãi biển nữ Hải Phòng mở rộng 2018 chào mừng Đại hội Thể dục thể thao thành phố lần thứ VIII - Khai trương du lịch Đồ Sơn 2018; giải Thể dục Thể hình, giải Bóng bàn trong chương trình Đại hội Thể dục thể thao thành phố lần thứ VIII. Tập trung lực lượng chuẩn bị tham gia thi đấu Đại hội Thể dục thể thao toàn quốc lần thứ VIII tại Hà Nội.
5. Tình hình trật tự an toàn giao thông
Tháng 5/2018 trên địa bàn thành phố đã xảy ra 12 vụ tai nạn giao thông (trong đó đường bộ 11 vụ, đường thủy 01 vụ) làm 10 người chết và 06 người bị thương, lần lượt đều tăng 01 vụ tai nạn, 04 người chết và 01 người bị thương so với tháng trước. So với tháng 5/2017, số vụ tai nạn giao thông bằng nhau, số người chết giảm 03 người, số người bị thương giảm 02 người.
Cộng dồn từ đầu năm 2018, toàn thành phố xảy ra 40 vụ tai nạn giao thông, trong đó đường bộ 39 vụ (giảm 03 vụ so với cùng kỳ) và đường thủy 01 vụ, làm 32 người chết và 16 người bị thương. So với 5 tháng năm 2017, số vụ tai nạn giảm 03 vụ, số người chết giảm 14 người (giảm 30,43%), số người bị thương giảm 04 người (giảm 20%). Các vụ tai nạn và số người chết, bị thương giảm so với cùng kỳ dù vậy vẫn giữ xu hướng tăng trong các tháng vào hè, đòi hỏi các biện pháp quyết liệt hơn để cải thiện vấn đề an toàn giao thông trên địa bàn.
6. Công tác phòng chống cháy, nổ
Trong tháng 5/2018 đã xảy ra 05 vụ cháy giảm 09 vụ so với tháng 4/2018, trong đó có 01 vụ cháy 0,8 ha thảm thực bì rừng ở huyện Thủy Nguyên, 02 vụ cháy nhà dân thiệt hại 3 triệu đồng và 02 vụ cháy đang xác định giá trị thiệt hại. Các vụ cháy không gây thiệt hại về người.
Tháng 5/2018 cơ quan Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy thành phố đã tiến hành rà soát bổ sung giá trị thiệt hại các vụ cháy nổ từ đầu năm. Qua đó, từ đầu năm đến thời điểm báo cáo trên địa bàn thành phố đã xảy ra 53 vụ cháy, nổ tăng 08 vụ so với cùng kỳ (tăng 17,78%). Năm tháng đầu năm, các vụ cháy, nổ đã làm 04 người chết và 05 người bị thương (tăng 03 người chết, số người bị thương giảm 01 người so cùng kỳ), giá trị thiệt hại 9.866,8 triệu đồng, tăng 38,72% so cùng kỳ năm trước./.
 

Tác giả bài viết: Cục Thống kê Hải Phòng

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Xếp hạng: 0 - 0 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây