Tình hình kinh tế - xã hội thành phố Hải Phòng tháng 4 năm 2018

Thứ bảy - 28/04/2018 21:27
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) thành phố Hải Phòng tháng 4 năm 2018 giảm 0,13% so với tháng trước, tăng 3,14% so với cùng kỳ năm trước và tăng 1,94% so với tháng 12/2017. CPI bình quân 4 tháng đầu năm 2018 so với cùng kỳ năm trước tăng 3,96%.
BÁO CÁO
TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI THÁNG 4, 4 THÁNG NĂM 2018 
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
 
I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ
1. Sản xuất công nghiệp

Chỉ số phát triển sản xuất (PTSX) công nghiệp trên địa bàn thành phố tháng 4 năm 2018 ước giảm 2,82% so với tháng trước và tăng 25,32% so với cùng kỳ. Cộng dồn 4 tháng đầu năm 2018 chỉ số PTSX toàn ngành công nghiệp thành phố dự tính đạt mức tăng 24,01% so với cùng kỳ năm trước, đây là mức tăng cao nhất từ nhiều năm trở lại đây, trong đó: ngành khai khoáng tăng 9,72%; ngành chế biến, chế tạo tăng 27,62%; sản xuất và phân phối điện tăng 2,11%; cung cấp nước và xử lý nước thải, rác thải giảm 11,9%.
Trong 51 nhóm ngành kinh tế cấp 4 có 34 ngành có chỉ số PTSX tăng so với cùng kỳ, trong đó: ngành sản xuất bê tông và các sản phẩm từ xi măng và thạch cao tăng 171,66%; sản xuất thiết bị truyền thông tăng 129,99%; ngành may trang phục tăng 82,72%,...
Có 17 ngành có chỉ số sản xuất giảm, trong đó: ngành đóng tàu và cấu kiện nổi giảm 51,24%; ngành sản xuất thức ăn gia súc giảm 47,65%; ngành sản xuất mô tơ, máy phát, biến thế điện giảm 28,79%; ngành sản xuất thuốc, dược liệu giảm 25,88%;...
Bốn tháng đầu năm 2018 chỉ số PTSX công nghiệp thành phố đạt mức tăng cao so với cùng kỳ năm 2017 chủ yếu đóng góp ở một số ngành công nghiệp trọng điểm. Trong đó ngành sản xuất bê tông và các sản phẩm từ xi măng và thạch cao giữ mức tăng cao nhất (tăng 171,66%), do công ty TNHH bê tông và xây dựng Minh Đức trong tháng 3 đã cung cấp cho dự án Vinfast khối lượng lớn sản phẩm cọc bê tông, dự kiến tháng 4 tiếp tục duy trì sản lượng cao trên 180 nghìn tấn.
Ngành sản xuất trang phục giữ mức tăng cao, tăng 82,72% so với cùng kỳ năm 2017; công ty TNHH may Regina Miracle đã hoàn thành việc đầu tư lắp đặt dự án nhà máy C, đang đào tạo công nhân chuẩn bị đi vào sản xuất, dự kiến thời gian tới sản lượng sản xuất và nhu cầu lao động của doanh nghiệp tiếp tục tăng cao.
Ngành sản xuất sản phẩm điện tử 4 tháng/2018 tăng 78,66% so với cùng kỳ năm 2017, trong đó: sản xuất thiết bị truyền thông tăng 129,99%; sản xuất sản phẩm điện tử dân dụng tăng 57,79%. Đóng góp trên 30% tổng giá trị sản xuất ngành công nghiệp toàn thành phố, với chiến lược đầu tư sản xuất các sản phẩm điện tử mới giúp tập đoàn LG giữ được mức tăng trưởng cao trong thị trường công nghiệp thành phố.
Tuy nhiên tháng 4/2018 ngành sản xuất sản phẩm điện tử giảm 9,61% so với tháng 3/2018, trong đó: sản xuất thiết bị truyền thông giảm 8,98%; sản xuất sản phẩm điện tử dân dụng giảm 9,98%. Do tháng 4 sản phẩm điện thoại và màn hình IVI dự kiến sản xuất và tiêu thụ giảm so tháng trước do đơn hàng của các đối tác lớn giảm như: điện thoại giảm gần 200 nghìn sản phẩm, tương đương giảm 23%; màn hình IVI giảm 100 nghìn sản phẩm tương đương giảm 23%. Việc dừng sản xuất tivi cũng ảnh hưởng đến tốc độ tăng của ngành sản xuất sản phẩm điện tử dân dụng.
Bên cạnh ngành sản xuất thiết bị truyền thông và ngành sản xuất sản phẩm điện tử dân dụng giảm so với tháng 3/2018, trong 51 nhóm ngành kinh tế cấp 4, có thêm 20 ngành sản xuất tháng 4/2018 giảm so với tháng 3/2018, kéo chỉ số PTSX công nghiệp toàn thành phố tháng 4/2018 giảm 2,82% so với tháng 3/2018, do tháng 4 có ngày nghỉ lễ Giỗ tổ Hùng Vương và ngày nghỉ lễ 30/4 nên số ngày sản xuất của các doanh nghiệp giảm. Trong đó giảm nhiều nhất là ngành sản xuất và phân phối điện (giảm 25,77%), ngành sản xuất săm lốp cao su giảm 11,58% do kế hoạch sản xuất tháng 4 giảm; ngành sản xuất sắt thép gang giảm nhẹ so với tháng 3 (giảm 0,21%) do tồn kho cao, một số doanh nghiệp dừng lò để bảo dưỡng, bên cạnh đó công ty cổ phần Luyện thép cao cấp Việt - Nhật hạ thấp sản lượng phôi thép xuống để tập trung chạy thử sản phẩm thép rút mới...
* Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 4/2018 giảm 9,2% so với tháng trước và tăng 11,2% so với cùng kỳ năm trước; cộng dồn 4 tháng năm 2018 chỉ số tiêu thụ tăng 19,7%, trong đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao so cùng kỳ: sản xuất trang phục tăng 94,1%; sản xuất săm, lốp cao su tăng 15,5%; sản xuất thiết bị truyền thông tăng 32,4%; sản xuất bánh bi, bánh răng, hộp số tăng 56,9%; sản xuất phân bón và hợp chất nitơ tăng 11,1%...
Một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm so cùng kỳ: sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm và thủy sản giảm 47,7%; sản xuất thuốc hóa dược giảm 18,8%; sản xuất đồ điện dân dụng giảm 9,5%; sản xi măng, vôi, thạch cao giảm 8,5%; sản xuất dây cáp, dây điện và điện tử khác giảm 8,7% ...
* Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 30/4/2018 ước tăng 8,3% so với tháng trước và tăng 12% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao so cùng kỳ: sản xuất sản phẩm thuốc lá tăng 868,9%; sản xuất plastic và cao su tăng 255,8%; sản xuất bia tăng 16,5%; sản xuất sắt, thép, gang tăng 30,3%; sản xuất phân bón và hợp chất nitơ tăng 48,9%; sản xuất thiết bị truyền thông tăng 277%...
Một số ngành có chỉ số tồn kho so với cùng kỳ giảm: sản xuất săm lốp cao su giảm 40,8%; sản xuất sản phẩm điện tử dân dụng giảm 76%; sản xuất may trang phục giảm 41%, sản xuất xi măng, vôi giảm 14,4%; sản xuất sản phẩm từ plastic giảm 31,6%.
* Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/4/2018 tăng 1,4% so với tháng trước và tăng 16,3% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó lao động khu vực doanh nghiệp nhà nước giảm 1,1%; lao động doanh nghiệp ngoài nhà nước tăng 9,1%; lao động doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 23,1%.
 Chia theo ngành cấp I: lao động ngành khai khoáng giảm 3,2%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 17,1%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng giảm 2,5%; ngành cung cấp nước, quản lý, xử lý nước rác thải, nước thải tăng 0,78%.
Một số ngành chỉ số sử dụng lao động tăng cao: sản xuất sản phẩm điện tử tăng 4,3 lần; sản xuất trang phục tăng 21,8%; sản xuất thiết bị điện tăng 57,7%.
Một số ngành có chỉ số sử dụng lao động giảm: sản xuất và phân phối điện, khí  đốt, nước nóng giảm 2,5%; sản xuất chế biến thực phẩm giảm 13,1%; sản xuất dệt giảm 8,4%.
*  Một số sản phẩm công nghiệp ước 4 tháng năm 2018 so cùng kỳ: quần áo các loại đạt 42 triệu cái, tăng 44,2%; phân bón đạt 86,8 nghìn tấn, tăng 7,1%; màn hình khác đạt 2.794 nghìn cái, tăng 35%; máy giặt đạt 376 nghìn cái, tăng 3,5%; lốp xe đạt 915 nghìn cái, tăng 12,2%; sắt thép các loại 475 nghìn tấn giảm 2,3%; xi măng Portland đen 1.507 nghìn tấn, giảm 11,8%; điện sản xuất 2.399 triệu Kwh, tăng 1,1%.
2. Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản
2.1. Nông nghiệp

* Trồng trọt
Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ Đông xuân toàn thành phố ước đạt 49.595,5 ha, bằng 97,54%, giảm 1.252 ha so với vụ Đông xuân năm trước. Diện tích gieo trồng cây hàng năm giảm ở hầu hết các nhóm cây trồng, trong đó giảm nhiều nhất ở nhóm cây lương thực do một phần đất canh tác chuyển đổi mục đích sử dụng, thu hồi phục vụ cho các dự án khu công nghiệp, công trình xây dựng.
Diện tích lúa Đông xuân gieo cấy ước đạt 34.163,4 ha, đạt 47,3% kế hoạch diện tích lúa cả năm, bằng 97,43%, giảm 901,7 ha so với vụ Đông xuân năm trước. Tính đến thời điểm này lúa sinh trưởng và phát triển bình thường; trà xuân sớm đang ở giai đoạn đứng cái - phân hóa đòng; trà xuân muộn đang ở giai đoạn cuối đẻ nhánh - đứng cái - phân hóa đòng; ước tính diện tích lúa đứng cái làm đòng đạt khoảng 21.240 ha, chiếm hơn 60% diện tích gieo cấy. Dự kiến từ 05/5 - 15/5/2018 lúa sẽ trỗ tập trung đạt 25.700 ha (chiếm 75% diện tích gieo cấy).
Diện tích gieo trồng các loại cây khác vụ Đông xuân 2017 - 2018 ước đạt 15.432,1 ha, bằng 97,78% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Diện tích cây ngô đạt 710,4 ha; khoai lang đạt 612,5 ha; thuốc lào đạt 2.117,6 ha; diện tích nhóm cây rau các loại ước đạt 10.160,3 ha, bằng 100,9%, tăng 90,9 ha so với cùng kỳ năm trước, trong đó: cải các loại đạt 2.012 ha, rau muống đạt 992 ha, dưa các loại đạt 800 ha...
Tình hình sâu bệnh trên cây trồng: Do thời tiết hiện nay đêm về sáng có sương mù, mưa phùn, độ ẩm không khí cao thuận lợi cho bệnh đạo ôn phát triển, tính từ đầu vụ đến nay diện tích lúa nhiễm bệnh và sinh vật gây hại ước 2.070 ha, hiện đã phun trừ trên 1.611 ha, chủ yếu là bệnh đạo ôn lá và chuột phá hoại. Rau màu các loại diện tích nhiễm bệnh 75,7 ha, đã phun trừ 62,7 ha, chủ yếu là bệnh: đốm mắt cua trên cây thuốc lào; sâu xanh, sâu tơ, bọ nhảy trên rau ăn lá; sương mai, héo vàng trên cây ớt…
Giai đoạn hiện nay các cây trồng vụ  Đông xuân sinh trưởng và phát triển tương đối ổn định, tuy nhiên do điều kiện thời tiết cuối tháng 3 đầu tháng 4 ít mưa, làm một số diện tích lúa thiếu nước, dẫn đến cây lúa phát triển chậm, lúa thấp và ít nhánh hơn so với vụ Đông xuân 2017, cây rau màu sinh trưởng phát triển khá, ít sâu bệnh.
* Chăn nuôi
Ước tính tháng 4 năm 2018 số lượng đầu con gia súc, gia cầm hiện có như sau: Đàn trâu đạt 5.315 con, bằng 98,59%, giảm 76 con so với cùng kỳ năm trước; đàn bò đạt 12.898 con, bằng 100,03%, tăng 5 con so với cùng kỳ năm trước; đàn lợn đạt 420.387 con, bằng 95,58%, giảm 6.013 con so với cùng kỳ năm trước; đàn gia cầm đạt 7.080,9 ngàn con, bằng 101,45%, tăng 101,6 ngàn con, trong đó: đàn gà đạt 5.547 ngàn con, bằng 101,34%, tăng 73,6 ngàn con so với cùng kỳ năm trước.
Thời tiết tháng 4/2018 tương đối thuận lợi cho đàn vật nuôi phát triển. Giá con giống tương đối ổn định, giá thức ăn gia súc, gia cầm vẫn tiếp tục tăng nhẹ so với tháng trước do biến động về giá nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi; giá sản phẩm gia cầm xuất chuồng có xu hướng tăng so với tháng trước.
Tình hình dịch bệnh: Công tác kiểm tra, giám sát dịch bệnh đàn gia súc, gia cầm trên địa bàn được chính quyền các cấp, các ngành quan tâm chỉ đạo tích cực, vì vậy tính đến thời điểm hiện tại toàn thành phố không phát sinh thêm ổ dịch bệnh nào.
2.2. Lâm nghiệp
Ước thực hiện tháng 4 năm 2018, sản lượng gỗ khai thác đạt 230 m3, tăng 12,2%; sản lượng củi khai thác đạt 5.400 ste, bằng 100% so với cùng kỳ năm trước; ước 4 tháng/2018 sản lượng gỗ khai thác đạt 870 m3, tăng 4,8%; sản lượng củi khai thác đạt 18.100 ste, tăng 0,6% so với cùng kỳ năm trước.
Thực hiện kế hoạch bảo vệ, phát triển và sử dụng bền vững diện tích rừng, đất lâm nghiệp theo quy hoạch rừng thành phố Hải Phòng giai đoạn 2017-2020, tính đến 15/4/2018 toàn thành phố đã trồng được 105,5 ngàn cây lâm nghiệp trồng phân tán, bằng 100% so với cùng kỳ năm trước.
Trong tháng 4/2018 trên địa bàn thành phố xảy ra 01 vụ cháy rừng, nâng tổng số vụ cháy rừng 4 tháng/2018 lên 03 vụ, giảm 70% về số vụ so với cùng kỳ năm trước. Vụ cháy xảy ra tại núi Sơn Đào, huyện Thủy Nguyên gây thiệt hại khoảng 5,1 ha chủ yếu là thảm thực bì; nâng tổng diện tích rừng bị cháy lên 5,65 ha, giảm 75,7% diện tích rừng thiệt hại so với cùng kỳ năm trước; nguyên nhân cháy là do người dân đốt vàng mã.
2.3. Thủy sản
Sản lượng nuôi trồng và khai thác thủy sản tháng 4/2018 ước đạt 13.326,1 tấn,tăng 1.120,4 tấn (+ 9,18%) so với cùng kỳ năm trước; ước tính 4 tháng/2018 đạt 49.904,5 tấn, tăng 3.453,5 tấn (+ 7,43%) so với cùng kỳ năm trước.
* Nuôi trồng
Diện tích nuôi trồng thủy sản ước thực hiện tháng 4/2018 đạt 9.131,4 ha, tăng 9,25% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: diện tích nuôi cá các loại đạt 5.581,3 ha; tăng 1,99%; tôm các loại đạt 2.337,6 ha, giảm 6,18%; thủy sản khác đạt 1.212,6 ha, tăng 207,09% so với cùng kỳ năm trước. Ước 4 tháng/2018 diện tích nuôi trồng đạt 12.652,7 ha, tăng 7,55% so với cùng kỳ năm trước; chia ra: diện tích nuôi cá các loại 7.024,6 ha, tăng 3,65%; tôm các loại 4.362,6 ha, giảm 4,03%; thủy sản khác 1.265,6 ha, tăng 186,42% so với cùng kỳ năm trước.
Sản lượng thủy sản nuôi trồng thu hoạch ước thực hiện tháng 4/2018 đạt 6.418,1 tấn, tăng 11,71% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: sản lượng cá ước đạt 3.516,7 tấn, tăng 4,24%; tôm các loại đạt 350,8 tấn, tăng 10,73%; thủy sản khác đạt 2.550,6 tấn, tăng 24,12%. Ước 4 tháng/2018, sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 24.713 tấn, tăng 9,05% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: sản lượng cá ước đạt 15.043,6 tấn, tăng 4,85%; tôm các loại đạt 1.447,1 tấn, tăng 9,51%; thủy sản khác đạt 8.222,3 tấn, tăng 17,6%.
Khu vực nuôi lồng bè với các đối tượng nuôi chính có giá trị kinh tế cao như cá song, cá giò, cá sủ…sản lượng thu hoạch 4 tháng/2018 ước đạt 721,4 tấn, tăng 0,73%; sản lượng nhuyễn thể như hầu, ngao hoa,... ước đạt 146,6 tấn tăng 0,72% so với cùng kỳ năm trước.
* Khai thác
Sản lượng thủy sản khai thác tháng 4/2018 ước đạt 6.908 tấn tăng 6,93% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: khai thác cá đạt 3.770,7 tấn, tăng 18,16%; tôm các loại đạt 579,9 tấn, tăng 3,7%; thủy sản khác đạt 2.557,4 tấn, giảm 5,62%. Tổng sản lượng khai thác 4 tháng/2018 ước đạt 25.191,5 tấn, tăng 5,89% so với cùng kỳ năm 2017, chia ra: khai thác cá đạt 13.753,4 tấn, tăng 12,86%; tôm các loại đạt 2.115,5 tấn, tăng 8,3%; thủy sản khác đạt 9.322,7 tấn, giảm 3,39% so với cùng kỳ năm trước.
Bước sang tháng 4/2018 là thời điểm bắt đầu vụ cá Nam, hoạt động khai thác tàu cá tập trung ở 03 nhóm nghề chính (lưới kéo, chụp mực, lưới rê), trong đó: nhóm nghề chụp mực và lưới rê tại thời điểm đầu và chính vụ cá Nam đạt hiệu quả đánh bắt khá cao, nhiều tàu hoạt động nghề lưới rê đã chuyển nghề rê vụ cá Bắc sang vụ cá Nam sớm hơn theo quy luật. Riêng đối với tàu nghề lưới kéo đa số là tàu nhỏ, công suất bé hoạt động chủ yếu ở vùng biển hạn chế III và thường xuyên nằm bờ nên hiệu quả hoạt động không cao, thị trường tiêu thụ hải sản đảm bảo, làm giá mặt hàng hải sản tương đối cao; giá nhiên liệu cho hoạt động khai thác giữ mức tương đối ổn định đã tạo động lực cho ngư dân hăng say bám biển.
Bên cạnh những thuận lợi nghề khai thác biển hiện nay còn gặp nhiều khó khăn trong đó khó khăn nhất hiện nay là tình trạng thiếu lao động vẫn diễn ra phổ biến ở nhiều địa phương trên địa bàn thành phố, nhất là lao động lành nghề. Nhiều chủ tàu đã phải chậm chuyến biển do không tìm đủ lượng lao động cần thiết để tham gia đánh bắt trên biển.
3. Đầu tư xây dựng
Vốn đầu tư thực hiện tháng 4/2018 ước đạt 538,35 tỷ đồng, tăng 59,11% so cùng kỳ. Chia ra:
- Vốn ngân sách nhà nước cấp thành phố ước 478,12 tỷ đồng, tăng so với cùng kỳ 70,48%;
- Vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước 46,15 tỷ đồng, tăng so với cùng kỳ 2,81%;
- Vốn ngân sách nhà nước cấp xã  ước 14,07 tỷ đồng, tăng so với cùng kỳ 8,23%.
Dự tính vốn đầu tư thực hiện 4 tháng/2018 đạt 1.704,43 tỷ đồng, tăng 58,55% so cùng kỳ. Chia ra:
- Vốn ngân sách nhà nước cấp thành phố ước 1.500,88 tỷ đồng, tăng so với cùng kỳ 70,11%;
- Vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước 147,46 tỷ đồng, tăng so cùng kỳ 3,47%;
- Vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước 56,09 tỷ đồng, tăng so với cùng kỳ 11,73%.
Trong những tháng đầu năm 2018, các dự án, công trình xây dựng diễn ra sôi động trên địa bàn thành phố. Nguồn vốn đầu tư từ ngân sách thành phố 4 tháng/2018 tăng cao so với cùng kỳ, cao hơn mức tăng của 4 tháng/2017 (4 tháng/2017 tăng 18,89%). Đạt được mức tăng đó là do vốn thực hiện từ nguồn vốn cân đối ngân sách thành phố dự kiến tăng 130,12% so với cùng kỳ. Một số các dự án trọng điểm của thành phố được đầu tư bằng nguồn vốn này đang được thi công quyết liệt như: dự án đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật khu đô thị mới Bắc Sông Cấm; dự án Thoát nước mưa, Thoát nước thải và quản lý chất thải rắn Hải Phòng giai đoạn I; dự án Phát triển giao thông đô thị thành phố Hải Phòng…
Bên cạnh nguồn vốn cân đối ngân sách thành phố có tốc độ tăng cao so với cùng kỳ, nguồn vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu dự kiến 4 tháng đầu năm 2018 giảm 44,27% so với cùng kỳ do các dự án được sử dụng bằng nguồn vốn này thực hiện với khối lượng nhỏ như: dự án đầu tư xây dựng Mở rộng khu bay - Cảng hàng không quốc tế Cát Bi đang thực hiện nốt gói thầu số 34, khối lượng thực hiện 3 tỷ đồng/tháng; dự án đầu tư, cải tạo nâng cấp đường 356 (đoạn từ ngã ba Hiền Hào đến ngã ba Áng Sỏi huyện Cát Hải)... Phần lớn các dự án này được triển khai thực hiện từ những năm trước, phân bổ vốn ngân sách trung ương năm 2018 sẽ được dùng để trả cho vốn cân đối ngân sách thành phố.
Thực hiện nguồn vốn nước ngoài (ODA) dự kiến 4 tháng/2018 tăng 11,54% so với cùng kỳ. Năm 2018, nguồn vốn này bố trí cho 7 dự án: dự án phát triển giao thông đô thị Hải Phòng; dự án thoát nước mưa, nước thải và quản lý chất thải rắn; dự án Quản lý đất đai; dự án cung cấp trang thiết bị y tế cho Bệnh viện phụ sản Hải Phòng và các dự án trong chương trình mục tiêu ứng phó với biến đổi khí hậu và tăng trưởng nhanh.
Tình hình thực hiện một số dự án trọng điểm đến thời điểm hiện nay trên địa bàn:
- Dự án cầu Hoàng Văn Thụ  đến thời điểm hiện tại thực hiện 85% khối lượng công việc, tương đương 2.240 tỷ đồng, dự kiến 13/5/2018 sẽ thông xe kỹ thuật và hoàn thành vào tháng 7/2018.
- Dự án cải thiện điều kiện vệ sinh môi trường: sử dụng vốn ODA và vốn đối ứng. Năm 2018 Ủy ban nhân dân thành phố giao kế hoạch vốn ngân sách Trung ương (ODA) cho dự án là 250 tỷ đồng và vốn đối ứng từ ngân sách thành phố dự kiến là 80 tỷ đồng, vốn thành phố vay lại từ nguồn ODA là 216,2 tỷ đồng. Thực tế những tháng đầu năm 2018 nhiều gói thầu bị chậm tiến độ do nhu cầu về vốn chưa được đáp ứng kịp thời. Gói thầu Xây dựng nhà máy xử lý nước thải Vĩnh Niệm đến hết tháng 3/2018 hoàn thành được 95,17% khối lượng, dự kiến cuối tháng 4/2018 hoàn thành.
- Dự án xây dựng tuyến đường từ cầu Lạng Am đến cầu Nhân Mục, huyện Vĩnh Bảo được khởi công vào ngày 12/10/2017 với tổng mức đầu tư 995 tỷ đồng, năm 2018 dự án được bố trí 104 tỷ đồng (nguồn vốn xây dựng cơ bản tập trung 54 tỷ đồng và tiền sử dụng đất 50 tỷ đồng). Dự án dự kiến hoàn thành sau 20 tháng thi công.
- Dự án đầu tư chỉnh trang sông Tam Bạc (đoạn từ cầu Lạc Long đến công viên Tam Bạc) với tổng mức đầu tư 1.454 tỷ đồng sẽ được khởi công vào đúng dịp 30/4/2018, đây là dự án có ý nghĩa và quan trọng góp phần xây dựng thành phố Hải Phòng ngày càng văn minh, hiện đại.
* Tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngoài
Tính đến 15/04/2018 Hải Phòng có 541 dự án còn hiệu lực:
Tổng vốn đầu tư :    15.540,423 triệu USD
Vốn điều lệ  :      5.195,059 triệu USD
Vốn Việt Nam góp :     211,597 triệu USD
Nước ngoài góp :      4.983,462 triệu USD
Từ nửa cuối tháng 3 đến 15/4/2018 có 11 dự án cấp mới và 5 dự án điều chỉnh tăng vốn, trong đó đáng kể nhất là 02 dự án của nhà đầu tư Nhật Bản: công ty TNHH Minato Việt Nam điều chỉnh tăng 85 triệu USD, nâng tổng số vốn đầu tư của công ty lên 105 triệu USD; dự án Nhà máy sản xuất các sản phẩm đất hiếm của công ty TNHH Vật liệu nam châm Shin - Etsu Việt Nam điều chỉnh tăng 64 triệu USD, nâng tổng số vốn đầu tư của công ty lên 231 triệu USD.
Từ đầu năm đến 15/4/2018, toàn thành phố đã cấp giấy chứng nhận đầu tư cho 25 dự án đến từ 6 quốc gia và vùng lãnh thổ với tổng số vốn đầu tư đạt 63,7 triệu USD, tăng 8,9% so với cùng kỳ năm trước; 22 dự án điều chỉnh tăng vốn đầu tư, với số vốn tăng là 952,79 triệu USD, tăng 171,65 triệu USD so với tháng trước và tăng 801,21 triệu USD so với cùng kỳ năm trước. Các dự án mới và tăng vốn chủ yếu ở ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.
Phân loại các dự  án được cấp phép mới:
Theo loại hình đầu tư: 100% vốn nước ngoài có 24 dự án, vốn đầu tư đạt 63,6 triệu USD; liên doanh có 01 dự án, vốn đầu tư đạt 156 nghìn USD.
Theo lĩnh vực đầu tư: công nghiệp chế biến, chế tạo vẫn là lĩnh vực thu hút được nhiều sự quan tâm của nhà đầu tư nước ngoài với 11 dự án, vốn đầu tư đạt 54,3 triệu USD (chiếm 85% tổng số vốn cấp mới); lĩnh vực bán buôn, bán lẻ đứng thứ hai với 9 dự án, vốn đầu tư đạt 4,1 triệu USD (chiếm 6,45%); lĩnh vực chuyên môn khoa học công nghệ có 2 dự án, vốn đầu tư 4,6 triệu USD (chiếm 7,2%)...
Theo đối tác đầu tư: tính từ  đầu năm đến 15/4/2018, thành phố có 6 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Hải Phòng. Đứng đầu là nhà đầu tư Hàn Quốc với 13 dự án, vốn đầu tư chiếm 57,3% tổng vốn đăng ký cấp mới, đạt 36.541 nghìn USD; thứ hai là nhà đầu tư Hồng Kông có 2 dự án với vốn đầu tư 15.132 nghìn USD (chiếm 23,7%); Nhật Bản có 2 dự án, vốn đầu tư đạt 5.560 nghìn USD (chiếm 8,7%)...
Cũng từ đầu năm đến 15/4/2018, có 3 dự án thu hồi do không triển khai, 3 dự án chấm dứt hoạt động theo quyết định của nhà đầu tư, trong đó có 01 dự án trong khu công nghiệp và 05 dự án ngoài khu công nghiệp.
Ước thực hiện vốn đầu tư 40,0%.
4. Tổng mức lưu chuyển hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 4 năm 2018 ước đạt 9.436,46 tỷ đồng, tăng 0,45% so với tháng trước và tăng 15,14% so với cùng kỳ năm trước. Cộng dồn 4 tháng đầu năm 2018, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 37.380,18 tỷ đồng, tăng 14,78% so với cùng kỳ năm trước.
* Chia theo khu vực kinh tế 
- Khu vực kinh tế nhà nước ước đạt 250,94 tỷ đồng, tăng 0,64% so với tháng trước, tăng 16,63% so với cùng kỳ năm trước. Cộng dồn 4 tháng đầu năm 2018, khu vực kinh tế nhà nước ước đạt 1.019,75 tỷ đồng, tăng 9,10% so với cùng kỳ năm trước;
- Khu vực kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 8.715,40 tỷ đồng, tăng 0,41% so với tháng trước và tăng 15,21% so với cùng kỳ năm trước. Cộng dồn 4 tháng đầu năm 2018, khu vực kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 34.495,96 tỷ đồng, tăng 15,32% so với cùng kỳ năm trước;
- Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 470,12 tỷ đồng, tăng 1,17% so với tháng trước, tăng 13,09% so với cùng kỳ năm trước. Cộng dồn bốn tháng đầu năm 2018, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt gần 1.864,47 tỷ đồng, tăng 7,46% so với cùng kỳ năm trước.
* Chia theo ngành hoạt động
- Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 4 năm 2018 ước đạt 7.345,55 tỷ đồng, tăng 0,74% so với tháng trước, tăng 15,66% so với cùng kỳ năm trước. Cộng dồn 4 tháng đầu năm 2018, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 29.224,22 tỷ đồng, tăng 14,16% so với cùng kỳ năm trước.
Hầu hết các ngành hàng ước tính doanh thu tháng 4/2018 đều tăng hơn so với tháng trước như ngành hàng lương thực thực phẩm (tăng 0,91%); ngành đồ dùng trang thiết bị gia đình (tăng 0,78%); gỗ và vật liệu xây dựng (tăng 0,89%); phương tiện đi lại (tăng 0,89%)… Riêng ngành hàng may mặc ước tính doanh thu giảm (0,32%) do đang trong thời điểm giao mùa nên nhu cầu mua sắm của người dân chưa cao.
Tính chung 4 tháng đầu năm 2018, tổng mức bán lẻ hàng hóa tăng ở tất cả các ngành hàng, trong đó: nhóm ngành lương thực thực phẩm tăng 15,11%; vật phẩm văn hóa giáo dục tăng 18,28%; xăng dầu tăng 19,23%; nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) tăng 10,24%...
- Doanh thu dịch vụ lưu trú tháng 4 năm 2018 ước đạt 116,25 tỷ đồng, tăng 1,42% so với tháng trước và tăng 16,23% so với cùng kỳ năm trước. Cộng dồn 4 tháng/2018 doanh thu lưu trú đạt 425,37 tỷ đồng, tăng 13,05% so với cùng kỳ năm 2017.
- Doanh thu dịch vụ ăn uống tháng 4 năm 2018 ước đạt 1.224,89 tỷ đồng, tăng 19,02% so với cùng kỳ năm trước. Cộng dồn 4 tháng/2018 doanh thu ăn uống đạt 4.581,52 tỷ đồng, tăng 18,96% so với cùng kỳ năm 2017.
- Doanh thu du lịch lữ hành tháng 4 năm 2018 ước đạt 14,59 tỷ đồng, tăng 3,06% so với tháng trước, tăng 27,64% so với cùng kỳ năm trước. Cộng dồn 4 tháng/2018 doanh thu lưu trú đạt 55,79 tỷ đồng tăng 23,36% so với cùng kỳ năm 2017.
- Doanh thu dịch vụ khác tháng 4 năm 2018 ước đạt 735,18 tỷ đồng, tăng 2,77% so với tháng trước, tăng 4,40% so với cùng kỳ năm trước. Cộng dồn 4 tháng đầu năm 2018, doanh thu dịch vụ khác ước đạt 3.093,28 tỷ đồng, tăng 14,83% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu tháng 4/2018 của các ngành dịch vụ hầu hết tăng so với tháng 3/2018 như: dịch vụ bất động sản ước tăng 3,18%; hoạt động hành chính hỗ trợ ước tăng 1,06%; hoạt động dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước tăng 4,02% do trong tháng có các ngày nghỉ lễ Giỗ tổ Hùng Vương (10/3 âm lịch), nghỉ lễ 30/4-1/5 nên nhu cầu vui chơi giải trí của người dân tăng
5. Hoạt động lưu trú và lữ hành 
Tổng lượt khách do các cơ sở lưu trú và lữ hành thành phố phục vụ ước tháng 4 năm 2018 đạt 549,57 nghìn lượt, tăng 3,07% so với tháng trước và tăng 13,59% so với cùng tháng năm 2017; trong đó khách quốc tế ước đạt 61,77 nghìn lượt, tăng 2,91% so với tháng trước và tăng 14,48% so với cùng tháng năm trước. Cộng dồn 4 tháng đầu năm 2018, tổng lượt khách do các cơ sở lưu trú và lữ hành thành phố phục vụ ước đạt 2.137,57 nghìn lượt, tăng 12,9% với với năm 2017; trong đó khách quốc tế ước đạt 238.26 nghìn lượt, tăng 9,65%.
Đối với hoạt động lữ hành, lượt khách lữ hành tháng 4 năm 2018 ước đạt 10 nghìn lượt, tăng 1,96% so với tháng trước, tăng 13,54% so với cùng kỳ năm trước. Cộng dồn 4 tháng năm 2018, lượt khách lữ hành ước đạt 38,09 nghìn lượt, tăng 12,26% so với cùng kỳ năm 2017.
6. Vận tải hàng hóa và hành khách
6.1. Vận tải hàng hoá

Khối lượng hàng hoá vận chuyển tháng 4 năm 2018 ước đạt 15,0 triệu tấn, tăng 4,72% so với tháng trước và tăng 19,16% so với cùng tháng năm trước. Ước tính 4 tháng năm 2018 khối lượng hàng hoá vận chuyển đạt 57,3 triệu tấn, tăng 15,06% so với cùng kỳ năm trước.
Khối lượng hàng hóa luân chuyển tháng 4 năm 2018 đạt 8.294,2 triệu tấn.km, tăng 6,17% so với tháng trước và tăng 19,21% so với cùng tháng năm trước. Ước tính 4 tháng năm 2018 khối lượng hàng hóa luân chuyển đạt 31.426,4 triệu tấn.km, tăng 15,93% so với cùng kỳ năm trước.
6.2. Vận tải hành khách 
Khối lượng hành khách vận chuyển tháng 4 năm 2018 đạt 5,1 triệu lượt, tăng 5,04% so với tháng trước, tăng 16,41% so với cùng tháng năm trước. Ước tính 4 tháng năm 2018 khối lượng hành khách vận chuyển đạt 19,5 triệu lượt, tăng 14,14% so với cùng kỳ năm trước.
Khối lượng hành khách luân chuyển tháng 4 năm 2018 đạt 208,2 triệu Hk.km, tăng 4,96% so với tháng trước và tăng 18,14% so với cùng tháng năm trước. Ước tính 4 tháng năm 2018 khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 780,8 triệu Hk.km, tăng 14,21% so với cùng kỳ năm trước.
6.3. Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải
Dịch vụ kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải phát triển ổn định, cụ thể doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng 4 năm 2018 ước đạt 2.159,5 tỷ đồng, tăng 2,43% so với tháng trước và tăng 17,83% so với cùng tháng năm trước. Ước tính 4 tháng năm 2018 doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 8.435,3 tỷ đồng, tăng 14,48% so với cùng kỳ năm trước.
6.4. Ga Hải Phòng
Tổng doanh thu tháng 4 năm 2018 Ga Hải Phòng ước đạt 10,3 tỷ đồng, tăng 4,91% so với tháng trước, tăng 2,75% so với cùng tháng năm trước. Ước tính 4 tháng năm 2018 tổng doanh thu của Ga Hải Phòng đạt 39,6 tỷ đồng, giảm 9,89% so với cùng kỳ năm trước.
Tổng số hành khách vận chuyển tháng 4 năm 2018 ước đạt 47 ngàn lượt người, tăng 6,5% so với tháng trước, giảm 15,1% so với cùng tháng năm trước. Ước tính 4 tháng số hành khách đạt 180,7 ngàn lượt người, giảm 9,89% so với cùng kỳ năm 2017.
Tổng số hàng hóa vận chuyển tháng 4 năm 2018 ước đạt 112 ngàn tấn, tăng 5,9% so với tháng trước, giảm 3,09% so với cùng tháng năm trước; ước tính 4 tháng hàng hóa vận chuyển đạt 402,6 ngàn tấn, tăng 1,19% so với cùng kỳ năm 2017.
6.5. Sân bay Cát Bi
Tháng 4 năm 2018 tổng doanh thu của Sân bay Cát Bi ước đạt 19 tỷ đồng, tăng 12,16% so với tháng trước; giảm 2,6% so với cùng tháng năm 2017; 4 tháng năm 2018 tổng doanh thu của Sân bay Cát Bi ước đạt 69 tỷ đồng, tăng 2,52% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu tháng 4/2018 giảm so với cùng tháng năm trước do một số tuyến bay ngừng hoạt động, cùng với đó là doanh thu từ hoạt động quảng cáo giảm.
Số lần máy bay hạ, cất cánh tháng 4 năm 2018 ước đạt 1.250 chuyến, tăng 9,84% so với tháng trước, tăng 9,46% so với cùng tháng năm 2017; ước tính 4 tháng/2018 số lần máy bay hạ, cất cánh đạt 4.736 chuyến, giảm 4,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó chuyến bay ngoài nước tháng 4/2018 ước đạt 90 chuyến, giảm 19,64% so với cùng kỳ; 4 tháng/2018 ước đạt 353 chuyến, giảm 17,52% so với cùng kỳ.
Tổng số hành khách tháng 4 năm 2018 ước đạt 197,5 ngàn lượt người, tăng 7,67% so với tháng trước, tăng 20,14% so với cùng tháng năm 2017; ước tính 4 tháng tổng số hành khách ước đạt 745,5 ngàn lượt, tăng 6,21% so với cùng kỳ năm trước.
Tổng số hàng hóa tháng 4 năm 2018 ước đạt 1.450 tấn, tăng 3,5% so với tháng trước, tăng 73,65% so với cùng tháng năm 2017; ước tính 4 tháng tổng số hàng hóa thông qua đạt 4.982 tấn, tăng 54,15% so với cùng kỳ năm trước.
7. Hàng hoá thông qua cảng
Sản lượng hàng hóa thông qua cảng tháng 4 năm 2018 ước đạt 8,555 triệu TTQ, tăng 2,51% so với tháng trước và tăng 16,95% so với cùng kỳ năm trước, cụ thể:
- Khối cảng thuộc kinh tế Nhà nước ước đạt 3,227 triệu TTQ, tăng 1,61% so với tháng trước, trong đó:
+ Cảng thuộc khối doanh nghiệp nhà nước Trung ương ước đạt 3,207 triệu TTQ, tăng 1,39% so với tháng trước, giảm 6,78% so với cùng kỳ năm trước.
+ Cảng thuộc khối doanh nghiệp Nhà nước địa phương ước đạt 20 nghìn TTQ, tăng 57,15% so với tháng trước, giảm 9,13% so với cùng kỳ năm trước.
- Các cảng thuộc khu vực kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 5,328 triệu TTQ, tăng 3,05% so với tháng trước, tăng 38,29% so với cùng kỳ năm trước.
Cộng dồn 4 tháng đầu năm 2018, sản lượng hàng hóa thông qua cảng trên địa bàn thành phố  đạt 32,990 triệu tấn, tăng 16,75% so với cùng kỳ năm 2017.
* Doanh thu cảng biển tháng 4 năm 2018 của khối cảng trên địa bàn thành phố ước đạt 413,9 tỷ đồng, tăng 1,13% so với tháng trước. Cộng dồn 4 tháng/2018 doanh thu cảng biển ước đạt 1.551,6 tỷ đồng, tăng 4,96% so với cùng kỳ năm trước.
Các cảng trên địa bàn thành phố  đang từng bước đầu tư cơ sở hạ tầng, kỹ thuật nhằm tăng cường năng lực xếp dỡ và tiếp nhận container, tăng khả năng cạnh tranh trong lĩnh vực khai thác tại khu vực phía Bắc, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của khách hàng.
8. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) thành phố Hải Phòng tháng 4 năm 2018 giảm 0,13% so với tháng trước, tăng 3,14% so với cùng kỳ năm trước và tăng 1,94% so với tháng 12/2017. CPI bình quân 4 tháng đầu năm 2018 so với cùng kỳ năm trước tăng 3,96%.
Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 5 nhóm chỉ số giá tăng với mức tăng như sau: nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,01%; nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,01%; nhóm giao thông tăng 1,11%; nhóm văn hóa giải trí và du lịch tăng 0,26%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,06%. Có 4 nhóm hàng giảm là:  nhóm hàng ăn uống và dịch vụ ăn uống giảm 0,45%; nhóm đồ uống và thuốc lá giảm 0,02%; nhóm may mặc, mũ nón, giầy dép giảm 0,90%; nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,04%. Hai nhóm bưu chính viễn thông và nhóm giáo dục có chỉ số giá ổn định.
Nguyên nhân chính làm CPI tháng 4/2018 giảm là do chỉ số giá thực phẩm giảm 0,71% làm cho CPI chung giảm 0,17%, trong đó, chỉ số giá rau tươi, khô và chế biến giảm 4,22% làm cho CPI chung giảm 0,10%; chỉ số giá nhóm may mặc giảm 0,90% làm cho CPI chung giảm 0,07%; chỉ số giá điện sinh hoạt giảm 1,43% góp phần làm CPI chung giảm 0,03%.
Bên cạnh những nhóm mặt hàng có CPI tháng 4/2018 giảm so với tháng trước, thì có những nhóm mặt hàng vẫn tăng giá như: chỉ số giá nhóm lương thực tăng 0,44%; nhóm thịt gia súc tăng 0,47%, trong đó giá thịt lợn tăng 0,71% do các hộ chăn nuôi đã giảm dần việc chăn nuôi lợn nên tổng đàn không tăng, giá thịt lợn bắt đầu tăng trở lại; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống ngoài gia đình tăng 0,02%; nhóm thiết bị và gia đình tăng 0,01%; nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,01%, trong đó chỉ số giá dịch vụ khám sức khỏe trong tháng ổn định…
Chỉ số nhóm giao thông tháng 4/2018 tăng 1,11% so với tháng trước do giá nhiên liệu tăng 2,67%. Ngày 07/4/2018, giá xăng dầu được điều chỉnh tăng với mức tăng cụ thể là xăng RON95-IV tăng 520 đồng/lít, xăng E5 RON92-II tăng 590 đồng/lít, dầu diesel 0,05S-II tăng 640 đồng/ lít và tiếp tục được điều chỉnh tăng 380 đồng/lít vào ngày 23/4/2018.
Chỉ số nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tháng 4/2018 tăng 0,26% so với tháng trước, tác động bởi giá dịch vụ du lịch trọn gói tăng 1,15% do nhu cầu khách đặt tour đi du lịch tăng cao vào dịp nghỉ lễ 30/4-1/5.
* Chỉ số giá vàng 99,99% và Đô la Mỹ:
- Chỉ số giá vàng tháng 4/2018 tăng 0,27% so với tháng trước, tăng 6,69% so với cùng tháng năm 2017, tăng 4,29% so với tháng 12 năm trước. Giá vàng bình quân tháng 4/2018 dao động ở mức 3,720 triệu đồng/chỉ, tăng 10.000 đồng/chỉ. 
- Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 4/2018 tăng 0,15% so với tháng trước, tăng 0,28% so với cùng tháng năm 2017, tăng 0,34% so với tháng 12 năm trước. Tỷ giá USD/VND bình quân tháng 4/2018 dao động ở mức 22.827 đồng/USD, tăng 34 đồng/USD.
9. Hoạt động tài chính, ngân hàng
9.1. Tài chính

Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn tháng 4/2018 ước đạt 6.709,9 tỷ đồng, ước 4 tháng/2018 đạt 21.481 tỷ đồng, bằng 93,9% so cùng kỳ năm trước, trong đó: thu nội địa tháng 4 ước đạt 2.800 tỷ đồng, ước 4 tháng/2018 đạt 7.961,8 tỷ đồng, tăng 16,3% so cùng kỳ; thu hải quan tháng 4/2018 ước đạt 3.500 tỷ đồng, ước 4 tháng/2018 đạt 12.636,9 tỷ đồng, bằng 84,6% so cùng kỳ.
Trong thu nội địa, thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước Trung ương đạt 182 tỷ đồng, ước 4 tháng/2018 đạt 654,8 tỷ đồng, tăng 7,6% so cùng kỳ; thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước địa phương đạt 99,1 tỷ đồng, ước 4 tháng/2018 đạt 325,8 tỷ  đồng, bằng 94,6% so với cùng kỳ; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 341,4 tỷ đồng, ước 4 tháng/2018 đạt 1.074 tỷ đồng, bằng 97,6% so với cùng kỳ; thu từ khu vực cá thể nhỏ và ngoài quốc doanh đạt 409,5 tỷ đồng, ước 4 tháng/2018 đạt 1.393,4 tỷ đồng, tăng 15,4% so cùng kỳ...
Tổng chi cân đối ngân sách địa phương tháng 4/2018 ước đạt 2.333,3 tỷ đồng, ước 4 tháng/2018 đạt 4.862,7 tỷ đồng, bằng 60,3% so với cùng kỳ, trong đó: Chi đầu tư xây dựng cơ bản đạt 1.585,2 tỷ  đồng, ước 4 tháng/2018 đạt 2.062,1 tỷ đồng, bằng 55,5% so với cùng kỳ; chi thường xuyên đạt 713,6 tỷ đồng, ước 4 tháng/2018 đạt 2.640,3 tỷ đồng, bằng 90,2% so cùng kỳ.
9.2. Ngân hàng
* Công tác huy động vốn:
Tổng nguồn vốn huy động trên địa bàn ước thực hiện đến hết tháng 4 năm 2018 đạt 172.568 tỷ đồng, tăng 17,58% so với cùng kỳ năm 2017.
Theo loại tiền: Huy động bằng VND ước đạt 158.672 tỷ đồng, tăng 16,13% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 91,95%; ngoại tệ ước đạt 13.896 tỷ đồng, tăng 37,07% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 8,05%.
Theo hình thức huy động: Huy động tiền gửi tiết kiệm ước đạt 116.456 tỷ đồng, tăng 12,56% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 67,48%; tiền gửi thanh toán ước đạt 51.247 tỷ đồng, tăng 25,57% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 29,70%; phát hành giấy tờ có giá ước đạt 4.865 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 2,82%.
* Công tác tín dụng:
Tổng dư nợ cho vay các thành phần kinh tế ước thực hiện đến hết tháng 4 năm 2018 đạt 102.955 tỷ đồng, tăng 18,61% so với cùng kỳ năm trước.
Cơ cấu dư nợ theo loại tiền: Cho vay bằng VND đạt 94.426 tỷ đồng, tăng 20,46% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 91,72%. Cho vay ngoại tệ (quy đổi VND) ước đạt 8.529 tỷ đồng, tăng 1,35% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 8,28%.
Cơ cấu dư nợ phân theo thời hạn vay: Cho vay ngắn hạn ước đạt 46.526 tỷ đồng, tăng 30,1% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 45,19%; cho vay trung, dài hạn ước đạt 56.429 tỷ đồng, tăng 10,56% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 54,81%.
10. Xuất nhập khẩu hàng hóa
10.1. Xuất khẩu hàng hoá

Kim ngạch xuất khẩu tháng 4 năm 2018 ước đạt 703,7 triệu USD, tăng 7,88% so với tháng trước; trong đó: khu vực kinh tế trong nước ước đạt 169,1 triệu USD, tăng 3,79%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 534,6 triệu USD, tăng 9,24%.
So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 4 năm 2018 ước tăng 26,76%, trong đó: khu vực kinh tế trong nước tăng 16,96%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 30,21%.
Tính chung 4 tháng năm 2018, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 2.513,7 triệu USD, tăng 25,06% so với cùng kỳ năm 2017; trong đó khu vực kinh tế trong nước ước đạt 631,4 triệu USD, tăng 18,38%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 1.882,2 triệu USD, tăng 27,48%.
Một số mặt hàng xuất khẩu trong 4 tháng năm 2018 ước tăng cao so với cùng kỳ năm trước: sản phẩm Plastic đạt 151,8 triệu USD, tăng 23,42%; hàng dệt may đạt 137,7 triệu USD, tăng 23,22%; giày dép đạt 481,8 triệu USD, tăng 19,66%; hàng điện tử đạt 124,8 triệu USD, tăng 32,42%; dây điện và cáp điện đạt 205,3 triệu USD, tăng 23,55%...
10.2. Nhập khẩu hàng hóa 
Kim ngạch nhập khẩu tháng 4 năm 2018 ước đạt 638,4 triệu USD, tăng 4,62% so với tháng trước; trong đó: khu vực kinh tế trong nước đạt 150,8 triệu USD, tăng 2,78%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 487,6 triệu USD, tăng 5,2%. 
So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng 4 năm 2018 tăng 14,59%; trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 11,96%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 15,42%.
Tính chung 4 tháng năm 2018, kim ngạch nhập khẩu ước đạt 2.431,5 triệu USD, tăng 20,93% so với cùng kỳ năm 2017; trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 612,8 triệu USD, tăng 13,61%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 1.818,7 triệu USD, tăng 23,62%.
Một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu trong 4 tháng năm 2018 tăng cao hơn so với cùng kỳ: hóa chất đạt 28,9 triệu USD, tăng 23,46%; phụ liệu hàng may mặc đạt 72,2 triệu USD, tăng 26,4%; phụ liệu giày dép đạt 313 triệu USD, tăng 19,3%; vải may mặc đạt 42,7 triệu USD, tăng 26,59%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 333,1 triệu USD, tăng 19,36%.
II. VĂN HÓA - XÃ HỘI
1. Lao động - thương binh, xã hội

* Công tác lao động, việc làm
Tháng 4 năm 2018 trên địa bàn thành phố tổ chức 03 phiên giao dịch việc làm, với sự tham gia tuyển dụng của 96 lượt doanh nghiệp, nhu cầu tuyển dụng là 6.534 lượt lao động. Tính chung 4 tháng đầu năm 2018 sàn giao dịch việc làm tổ chức 09 phiên giao dịch với sự tham gia tuyển dụng của 316 lượt doanh nghiệp, nhu cầu tuyển dụng là 17.817 lượt lao động. Cung lao động tại Sàn đạt 22.718 lượt người, gấp gần 1,28% nhu cầu tuyển dụng.
Cũng trong 4 tháng đầu năm 2018 ngành Lao động - Thương binh và Xã hội đã đăng kí bảo hiểm thất nghiệp cho 3.564 người (giảm 1,55% so với cùng kỳ năm 2017), giải quyết chế độ Bảo hiểm thất nghiệp cho 3.208 người (tăng 4,87% so với cùng kỳ năm 2017), với kinh phí hơn 45 tỷ đồng (tăng 22% so với cùng kỳ năm 2017); ước cấp mới 239 giấy phép lao động, cấp lại 250 giấy phép lao động, miễn cấp 73 giấy phép lao động cho người nước ngoài làm việc tại Việt Nam; hướng dẫn, tiếp nhận thỏa ước lao động tập thể 36 doanh nghiệp (bằng 97% so với cùng kỳ năm 2017); hướng dẫn, thẩm định và ra thông báo thực hiện nội quy lao động được 34 doanh nghiệp (bằng 92% so với cùng kỳ năm 2017).
Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn thành phố xảy ra 02 cuộc đình công với 1.807 lao động tham gia (giảm 01 cuộc và tăng 330 lao động so với cùng kỳ năm 2017); xảy ra 06 vụ tai nạn làm chết 06 người (giảm 01 vụ và 01 người chết so với cùng kỳ năm 2017), trong đó 02 vụ được xác định là tai nạn lao động, 04 vụ đang trong quá trình điều tra, chưa kết luận là tai nạn lao động.
* Công tác dạy nghề 
Tháng 4 năm 2018 tổ chức Kỳ thi tay nghề cấp thành phố năm 2018, tổng hợp kết quả Hội giảng cấp cơ sở, xây dựng Kế hoạch tổ chức Hội giảng nhà giáo giáo dục nghề nghiệp cấp thành phố 2018; hướng dẫn, thẩm định hồ sơ và cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động giáo dục nghề nghiệp cho 02 đơn vị.
Ước tuyển sinh đào tạo đến hết tháng 4/2018 được 13.800 học sinh - sinh viên, đạt 25,7% kế hoạch năm và bằng 105% so với cùng kỳ năm 2017, trong đó trình độ cao đẳng đạt 150 sinh viên; trung cấp nghề đạt 750 học sinh; sơ cấp và dạy nghề thường xuyên đạt 12.900 học viên; đến hết tháng 4/2018 số tốt nghiệp trình độ sơ cấp và đào tạo thường xuyên ước đạt 9.000 học viên.
* Công tác người có công
Trong tháng 4 năm 2018, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tham mưu trình thành phố Kế hoạch tổ chức các  hoạt động kỷ niệm 71 năm ngày Thương binh, liệt sĩ; tổng kết 5 năm thực hiện Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng. Giải quyết chế độ chính sách đối với 2.047 trường hợp, đề nghị công nhận 24 người có công.
* Công tác giảm nghèo và bảo trợ xã hội
Tháng 4/2018, tiếp nhận 10 đối tượng vào các Trung tâm bảo trợ xã hội, tập trung được 87 lượt người lang thang. Trong 4 tháng đầu năm 2018, đã tiếp nhận 20 đối tượng đưa vào điều trị, chăm sóc và nuôi dưỡng. Tập trung 312 người lang thang, giảm 72 lượt người (giảm 18% so với cùng kỳ năm trước).
Thực hiện chi trả trợ cấp xã hội thường xuyên tại cộng đồng và các chế độ hỗ trợ kinh phí đối với 70.639 người (tăng 2,8% so với cùng kỳ năm 2017) đảm bảo kịp thời, đầy đủ đúng chế độ chính sách. Hướng dẫn, đôn đốc các quận, huyện cấp 106.262 thẻ bảo hiểm y tế (tăng 1,2% so với cùng kỳ), với số tiền trên 95,5 tỷ đồng (tăng 41% so với cùng kỳ) cho đối tượng bảo trợ xã hội, người cao tuổi, người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo.
2. Giáo dục - Đào tạo
Tháng 4 năm 2018, toàn ngành Giáo dục triển khai tổ chức các hoạt động thi đua chào mừng ngày Chiến thắng 30/4 và ngày Quốc tế lao động 1/5; kiểm tra các trường Trung học phổ thông, các Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên và Trung tâm Giáo dục thường xuyên thành phố về công tác ôn thi chuẩn bị cho kỳ thi Trung học phổ thông quốc gia và thực hiện quy chế chuyên môn; tổ chức thành công kỳ thi chọn học sinh giỏi lớp 9 năm học 2017-2018 một cách nghiêm túc, công bằng và đã công bố kết quả tới các thí sinh dự thi; hướng dẫn công tác xét tốt nghiệp Trung học cơ sở năm học 2017 - 2018 tại các quận/huyện.
Trong kỳ thi chọn học sinh dự kỳ thi Olympic quốc tế năm 2018, Hải Phòng có 03 học sinh được lựa chọn (trong đó: Toán học 02, Sinh học 01), 02 dự án tham dự cuộc thi Khoa học kỹ thuật quốc tế tại Mỹ.
3. Y tế và An toàn vệ sinh thực phẩm
* Công tác y tế dự phòng
Ngành y tế tiếp tục chỉ đạo đẩy mạnh công tác phòng chống dịch bệnh đồng thời tăng cường giám sát chủ động tại các đơn vị y tế trên toàn thành phố. Tính đến cuối tháng 3/2018 đã thực hiện 117 lượt giám sát tại các bệnh viện tuyến thành phố; 11 lượt giám sát véc tơ truyền bệnh sốt xuất huyết tại cộng đồng. Tổ chức 01 lớp tập huấn công tác phòng chống dịch cho cán bộ y tế tuyến thành phố, quận/huyện. Tổ chức 02 lớp tập huấn về an toàn tiêm chủng cho cán bộ y tế thuộc Trung tâm y tế Ngô Quyền, Đồ Sơn.
Trong tháng 3/2018, toàn thành phố có 169 ca mắc bệnh tay chân miệng, tăng 104 ca so với tháng 02/2018; bệnh thủy đậu 79 ca, tăng 22 ca so tháng trước; số ca mắc tiêu chảy là 191 ca, giảm 26 ca so tháng trước; 398 ca mắc cúm. Các bệnh nhân đều được phát hiện sớm, điều trị kịp thời. Ngoài ra không để phát sinh các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm.
* Công tác an toàn vệ sinh thực phẩm
Tổ chức Lễ phát động tháng hành động an toàn thực phẩm năm 2018 tại Siêu thị Mega Market. Sở Y tế thành lập Đoàn kiểm tra đột xuất các cơ sở sản xuất kinh doanh thực phẩm chức năng trên địa bàn thành phố, theo đó Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm đã tiến hành kiểm tra an toàn thực phẩm trong kinh doanh dịch vụ ăn uống đối với các bếp ăn tập thể, nhà ăn, căng tin ăn uống và các cơ sở kinh doanh suất ăn sẵn năm 2018. Đã có 221 cơ sở được kiểm tra, kết quả có 179 cơ sở đạt tiêu chuẩn, chiếm tỷ lệ 81%. Nhìn chung công tác an toàn thực phẩm được bảo đảm, không xảy ra ngộ độc thực phẩm trên toàn thành.
4. Văn hóa - Thể thao
Công tác văn hóa: thành lập đội văn nghệ xung kích biểu diễn tại huyện đảo Trường Sa và Nhà giàn DK1; thành lập Đoàn nghệ thuật quần chúng tham gia Liên hoan hát Văn, hát Chầu văn toàn quốc năm 2018 diễn ra từ ngày 25 đến 29/4/2018 tại tỉnh Thừa Thiên Huế. Sở Văn hóa và Thể thao chỉ đạo chấn chỉnh việc đặt tượng không đảm bảo quy định tại khu du lịch và các nơi công cộng khác trên địa bàn thành phố; tăng cường hoạt động bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh trên địa bàn thành phố.
Công tác thể thao: tổ chức giải đua thuyền Rồng thành phố Hải Phòng mở rộng năm 2018 kỷ niệm Chiến thắng Bạch Đằng và giải bóng chuyền bãi biển nữ Hải Phòng mở rộng Cúp Báo Hải Phòng năm 2018 - Chào mừng Đại hội Thể dục thể thao thành phố lần thứ VIII năm 2018; tổ chức giải thể dục Aerobic trong khuôn khổ chương trình Đại hội Thể dục thể thao thành phố lần thứ VIII; tiếp tục phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức các trận thi đấu bóng đá Vô địch quốc gia, Cúp quốc gia mùa giải 2018 trên sân vận động Lạch Tray.
5. Tình hình trật tự an toàn giao thông
Từ ngày 16/3/2018 đến ngày 15/4/2018 trên địa bàn thành phố đã xảy ra 11 vụ tai nạn giao thông đường bộ, bằng cùng kỳ năm trước, không xảy ra tai nạn nghiêm trọng. Các vụ tai nạn làm 06 người chết và 05 người bị thương. So với cùng kỳ tháng 4/2017, số vụ tai nạn giao thông bằng nhau còn số người chết giảm 04 người, số người bị thương tăng 02 người.
Cộng dồn từ đầu năm 2018, toàn thành phố xảy ra 28 vụ tai nạn giao thông đường bộ (giảm 02 vụ so với cùng kỳ), làm 22 người chết và 10 người bị thương. So với 4 tháng/2017, số vụ tai nạn giảm 03 vụ, số người chết giảm 11 (giảm 31,25%), số người bị thương giảm 02 người (giảm 16,67%). Các vụ tai nạn cũng như số người chết, bị thương giảm thể hiện ý thức tham gia giao thông của người dân đã cải thiện và công tác an toàn giao thông đã có bước chuyển biến tích cực.
6. Công tác phòng chống cháy, nổ
Từ ngày 16/3/2018 đến ngày 15/4/2018, trên địa bàn thành phố xảy ra 13 vụ cháy khiến 01 người chết, 01 người bị thương và 01 vụ nổ bình ga ở huyện Tiên Lãng làm 01 người chết, 01 người bị thương. Thiệt hại về tài sản ước tính khoảng 658 triệu đồng và 05 ha thảm thực bì rừng tại huyện Thủy Nguyên. Số vụ cháy, nổ trong tháng 4/2018 tăng 11 vụ so với cùng kỳ năm trước, nâng tổng số vụ cháy, nổ từ đầu năm lên 47 vụ (trong đó: 01 vụ nổ) - tăng 15 vụ (tăng 46,88%). Bốn tháng đầu năm 2018, các vụ cháy, nổ đã làm 02 người chết và 05 người bị thương (tăng 01 người chết, số người bị thương tăng 02 người so cùng kỳ), giá trị thiệt hại 1.264,5 triệu đồng, bằng 44,56% cùng kỳ năm trước./.

Tác giả bài viết: Cục Thống kê Hải Phòng

 Từ khóa: thành phố, tiêu dùng

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Xếp hạng: 0 - 0 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây