Tình hình kinh tế - xã hội thành phố Hải Phòng tháng 3 năm 2018

Thứ tư - 28/03/2018 21:47
Quý I năm 2018 các hoạt động thương mại, dịch vụ và du lịch trên địa bàn thành phố tiếp tục ổn định và phát triển. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 3/2018 ước đạt 9.415,68 tỷ đồng, tăng 5,50% so với tháng trước và tăng 16,53% so với cùng kỳ năm trước
BÁO CÁO
TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI THÁNG 3, QUÝ I NĂM 2018
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

 
Năm 2018 là năm bản lề, có ý nghĩa quan trọng trong việc đẩy mạnh thực hiện và phấn đấu hoàn thành các mục tiêu Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội thành phố 5 năm 2016 - 2020, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XV. Trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế và thương mại thế giới dự báo cao hơn năm 2017, trong nước kinh tế vĩ mô được duy trì ổn định, lạm phát được kiểm soát, Chính phủ tiếp tục thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh.
Từ những kết quả đã đạt được trong năm 2017, ngay từ những tháng đầu năm 2018, Ủy ban nhân thành phố đã tập trung cao công tác chỉ đạo, điều hành để phấn đấu hoàn thành và hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu kinh tế - xã hội năm 2018. Năm 2018 thành phố tiếp tục chọn chủ đề chủ đề năm là: "Tăng cường kỷ cương thu, chi ngân sách - Cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh", đã được các cấp, các ngành triển khai thực hiện nghiêm túc và đồng bộ. Ngay sau kỳ nghỉ tết Nguyên đán các Sở, ngành, địa phương và doanh nghiệp đã chấp hành nghiêm kỷ cương công vụ, tập trung ngay vào công việc và ổn định sản xuất, kinh doanh. Do vậy, quý I năm 2018 tình hình kinh tế - xã hội của thành phố phát triển ổn định, nhiều chỉ tiêu kinh tế đạt tốc độ tăng cao so với cùng kỳ như: sản xuất công nghiệp tiếp tục duy trì đà tăng trưởng cao, hoạt động thương mại dịch vụ đáp ứng tốt cho nhu cầu của sản xuất và tiêu dùng của nhân dân; nhiều công trình, dự án trọng điểm được tích cực triển khai thực hiện. Kết quả quý I năm 2018 đạt được như sau:
I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ
1. Về tăng trưởng kinh tế

 

Cơ cấu GRDP (%)

Tốc độ tăng trưởng
so với cùng kỳ(%)
 (Theo giá SS 2010)

Đóng góp vào mức tăng trưởng quý 1/2018 (điểm%)

TỔNG SỐ

100

15,01

15,01

- Nông lâm, nghiệp và thủy sản

4,70

3,31

0,16

- Công nghiệp - Xây dựng

39,91

22,10

8,67

- Thương mại - Dịch vụ

49.94

11,27

5,66

- Thuế sản phẩm trừ trợ cấp

5,45

8,95

0,52


Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) theo giá so sánh 2010, ước tính quý I năm 2018 đạt 33.414 tỷ đồng, tăng 15,01% so cùng kỳ năm trước (quý I/2017 tăng 12,7%), trong đó: khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,31% (kế hoạch tăng 2,75%); đóng góp 0,16 điểm % vào mức tăng chung; khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 22,10% (kế hoạch tăng 20,5%), đóng góp 8,67 điểm % vào mức tăng chung; khu vực dịch vụ tăng 11,27% (kế hoạch tăng 12,1%), đóng góp 5,66 điểm % vào mức tăng chung.
Trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, ngành thủy sản có mức tăng cao nhất, tăng 7,48% so với cùng kỳ; ngành lâm nghiệp tăng 2,77%; ngành nông nghiệp tăng 1,42% là kết quả tích cực của việc chuyển đổi linh hoạt cơ cấu cây trồng trên đất trồng lúa thời gian qua (quý I/2017 giảm 2,36%).
Trong khu vực công nghiệp - xây dựng, ngành công nghiệp tăng 22,26% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 7,85 điểm % vào tốc độ tăng chung, trong đó chủ yếu là ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 24,25%, đóng góp 7,69 điểm %; ngành xây dựng tăng 20,69% cao hơn tốc độ tăng 15,20% của cùng kỳ năm trước, đóng góp 0,83 điểm %. Năm 2018 thành phố Hải Phòng tiếp tục tập trung nguồn lực đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng giao thông đô thị trọng điểm, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp tìm hiểu cơ hội đầu tư cũng như các nhà đầu tư đã và đang triển khai các dự án tại Thành phố, đóng góp lớn trong mức tăng trưởng chung toàn thành phố.
Tiếp đến là khu vực dịch vụ tăng 11,27% so với cùng kỳ. Quý I/2018 hoạt động thương mại dịch vụ trên địa bàn thành phố nhìn chung ổn định, tăng trưởng khá. Quý I/2018 có kỳ nghỉ tết Nguyên đán dài ngày và các ngày lễ như Valentine, Quốc tế phụ nữ 8/3 đã thúc đẩy hoạt động thương mại dịch vụ trên địa bàn thành phố, góp phần trong mức tăng trưởng chung của khu vực dịch vụ, trong đó một số ngành có mức tăng cao như: bán buôn, bán lẻ tăng 12,43%; vận tải, kho bãi tăng 14,77%; dịch vụ lưu trú, ăn uống tăng 17,4%...
Về cơ cấu kinh tế trên địa bàn tiếp tục chuyển dịch theo đúng định hướng, tỷ trọng ngành dịch vụ và công nghiệp giữ mức hợp lý, ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm dần, trong khi vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng cao ở các ngành kinh tế. Đây là sự chuyển dịch cơ cấu tích cực phù hợp với yêu cầu thúc đẩy nhanh sự tăng trưởng kinh tế theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa. Cụ thể: khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm tỷ trọng 4,70%, khu vực công nghiệp, xây dựng chiếm 39,91%; khu vực dịch vụ chiếm 49,94%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 5,45%.
2. Sản xuất công nghiệp
Ba tháng đầu năm 2018 ngành công nghiệp giữ vững mức tăng trưởng cao, chỉ số phát triển sản xuất (PTSX) toàn ngành công nghiệp thành phố tháng 3/2018 ước tăng 38,45% so tháng trước và tăng 22,62% so với cùng kỳ; dự tính 3 tháng đầu năm 2018 đạt mức tăng 22,57% so với cùng kỳ, trong đó: ngành chế biến, chế tạo tăng 26,48%; ngành khai khoáng tăng 4,27%; ngành sản xuất và phân phối điện giảm 0,14%; ngành cung cấp nước và xử lý nước thải, rác thải giảm 12,61%.
Trong 51 nhóm ngành kinh tế cấp 4 có 27 ngành có chỉ số PTSX công nghiệp tăng so với cùng kỳ: ngành sản xuất bê tông và các sản phẩm từ xi măng tăng 174,5%; sản xuất thiết bị truyền thông tăng 135,68%; ngành may trang phục tăng 86,18%,...
Có 24 ngành có chỉ số PTSX công nghiệp giảm, trong đó: ngành đóng tàu và cấu kiện nổi giảm 51,1%; ngành sản xuất thức ăn gia súc giảm 49,9%; ngành sản xuất mô tơ, máy phát, biến thế điện giảm 36,33%; ngành sản xuất thuốc, dược liệu giảm 26,10%; ngành xi măng giảm 13,13%...
Tình hình sản xuất của một số doanh nghiệp ảnh hưởng đến mức tăng chung:
Ngành sản xuất bê tông và các sản phẩm từ xi măng có sự tăng trưởng đột biến (tăng 174,5%), điển hình là công ty TNHH bê tông và xây dựng Minh Đức với các sản phẩm cọc bê tông ly tâm dự ứng lực đã được Tập đoàn Vingroup tin tưởng lựa chọn là nhà thầu duy nhất cung cấp và thi công toàn bộ phần cọc cho Dự án Tổ hợp sản xuất ôtô Vinfast (Cát Hải - Hải Phòng), công ty đã tập trung mọi nguồn lực, sản xuất 3 ca liên tục, sản lượng tăng hơn 3 lần so cùng kỳ.
Tiếp theo là ngành sản xuất thiết bị truyền thông, sản xuất điện tử dân dụng đều duy trì được tốc độ tăng cao với sự hoạt động ổn định của tập đoàn LG tại Hải Phòng. Trong 3 tháng đầu năm 2018, tập đoàn LG dự kiến sẽ đóng góp hơn 51,6% doanh thu toàn ngành, thu hút và tạo việc làm cho gần 7.000 lao động. Các dự án của tập đoàn LG sẽ tạo thêm nhiều cơ hội việc làm, đóng góp lớn cho sự tăng trưởng ngành công nghiệp thành phố trong năm 2018.
Ngành may mặc vẫn tiếp tục nằm trong nhóm ngành có tốc độ tăng cao (tăng 86,16%), dự kiến tháng 3/2018 sản lượng đạt 11,55 triệu sản phẩm, trong đó đóng góp chủ yếu của công ty TNHH may Regina Miracle,sản lượng sản xuất của công ty dự kiến còn tiếp tục tăng trong thời gian tới khi tháng 2/2018 công ty đăng ký tăng 260 triệu USD vốn đầu tư để mở rộng sản xuất các sản phẩm nội y cao cấp, quần áo và giầy thể thao.
Bên cạnh các ngành sản xuất ổn định và tăng công suất, đóng góp lớn cho tăng trưởng toàn ngành công nghiệp thành phố thì có một số ngành công nghiệp có tỷ trọng lớn như xi măng, sắt thép, sản xuất phân bón, đóng tàu... giảm sản xuất do tiêu thụ chậm, tồn kho cao, không có đơn hàng, cụ thể:
Sản xuất xi măng: Dự kiến tháng 3/2018 tăng 77,24% so tháng trước và giảm 17,12% so với cùng kỳ; dự kiến 3 tháng đầu năm 2018 giảm 13,13% so với cùng kỳ, do thị trường xuất khẩu clanhke chính là Trung Quốc giảm sản xuất do có sự siết chặt các tiêu chuẩn về môi trường tại quốc gia này.
Sản xuất sắt thép: Dự kiến 3 tháng đầu năm 2018, chỉ số PTSX ngành thép giảm so cùng kỳ giảm 2,09%. Những tháng đầu năm 2018, sản xuất sắt thép gặp khó khăn do giá phôi vẫn ở mức cao và khó mua, Trung Quốc đóng cửa một số nhà máy sản xuất phôi lạc hậu gây ô nhiễm làm nguồn cung hạn chế; bên cạnh đó việc giá điện được điều chỉnh tăng từ tháng 12/2017 dẫn đến đẩy giá phôi thế giới tăng. Ngoài ra, do giá nguyên liệu thế giới biến động tăng cao nên công ty Dong bu chuyên sản xuất gang đã ngừng sản xuất từ tháng 8/2017.
Sản xuất phân bón: dự kiến tháng 3/2018 tăng 16,36% so với tháng trước, tăng 6,56% so với cùng kỳ năm trước; cộng dồn 3 tháng/2018 ước giảm 2,33% so với 3 tháng/2017.
Sản xuất và phân phối điện: tháng 3 năm 2018 lượng điện phát ra ước đạt 1.005 triệu KWh tăng 13,48% so tháng trước, giảm 18,1% so cùng kỳ; dự kiến 3 tháng/2018 chỉ số PTSX ngành điện giảm 0,14% so với cùng kỳ.
Các doanh nghiệp đóng tàu 3 tháng đầu năm vẫn gặp nhiều khó khăn, dự kiến tháng 3/2018 tăng 21,07% so với tháng trước nhưng vẫn giảm 57,76% so với cùng kỳ; 3 tháng đầu năm 2018 giảm 51,1% so với cùng kỳ năm trước.
Ngoài ra việc công ty TNHH LG Electronics ngừng sản xuất tivi từ tháng 01/2018 cũng ảnh hưởng đến tốc độ tăng của ngành sản xuất điện tử. Sản phẩm máy phát điện của công ty TNHH GE vẫn khó khăn trong tiêu thụ nên sản xuất đạt mức thấp, doanh thu 3 tháng/2018 giảm 212 tỷ so với cùng kỳ, tương đương giảm 25%.
* Chỉ số tiêu thụ dự kiến toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 3/2018 tăng 17,22% so với tháng trước và tăng 9,19% so với cùng kỳ năm trước, cộng dồn 3 tháng năm 2018 chỉ số tiêu thụ tăng 17,06%, trong đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao so cùng kỳ: sản xuất trang phục tăng 74,2%; sản xuất săm, lốp cao su tăng 17,3%; sản xuất giày dép tăng 18,8%; sản xuất thiết bị truyền thông tăng 45,8%; sản xuất bánh bi, bánh răng, hộp số tăng 45,5%...
Một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm so cùng kỳ: sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm và thủy sản giảm 51,1%; sản xuất thuốc hóa dược giảm 20,1%; sản xuất đồ điện dân dụng giảm 16,3%; sản xi măng, vôi, thạch cao giảm 15,8%...
* Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước đến cuối tháng 3 năm 2018 tăng 15,8% so với tháng trước và tăng 28,3% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao so cùng kỳ: sản xuất đồ điện dân dụng tăng 201%; sản xuất bi, bánh răng, hộp số tăng 18,3%; sản xuất thuốc lá tăng 223%; sản xuất plastic và cao su tăng 25,5%; sản xuất bia tăng 11,6%...
Một số ngành có chỉ số tồn kho so với cùng kỳ giảm như: sản xuất săm lốp cao su giảm 37,2%; sản xuất sắt, thép, gang giảm 25,1%; sản xuất giày dép giảm 7,7%; sản xuất đồ chơi giảm 89%...
* Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/3/2018 tăng 1,3% so với tháng trước và tăng 11,5% so với cùng kỳ, trong đó: lao động khu vực doanh nghiệp nhà nước giảm 1,6%; lao động doanh nghiệp ngoài nhà nước tăng 0,75%; lao động doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 19,3%.
Chia theo ngành cấp I: lao động ngành khai khoáng giảm 24,5%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,2%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng giảm 2,9%; ngành cung cấp nước, quản lý, xử lý rác thải, nước thải tăng 0,98%.
Một số ngành có chỉ số sử dụng lao động giảm như: sửa chữa bảo dưỡng và lắp đặt máy móc giảm 17,5%; sản xuất giường, tủ giảm 2,4%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng giảm 3%.
* Một số sản phẩm công nghiệp ước 3 tháng năm 2018 so cùng kỳ: quần áo các loại 30 triệu cái, tăng 37,8%; phân bón đạt 61,9 nghìn tấn, giảm 2,3%; màn hình khác 2.190 nghìn cái, tăng 39%; máy giặt 265 nghìn cái, giảm 3,4%; lốp xe ô tô đạt 674 nghìn cái, tăng 16,7%; sắt thép các loại 332 nghìn tấn, giảm 4%; xi măng Portland đen 1.017 nghìn tấn, giảm 13%; điện sản xuất 1.809 triệu Kwh, giảm 1,5%.
3. Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản
Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản quý I năm 2018 (theo giá so sánh 2010) ước thực hiện 3.178,9 tỷ đồng, tăng 3,34% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: ngành nông nghiệp ước đạt 2.120,4 tỷ đồng, tăng 1,42%; ngành lâm nghiệp ước đạt 12,5 tỷ đồng, tăng 2,77%; ngành thủy sản ước đạt 1.045,9 tỷ đồng, tăng 7,48%.
3.1. Trồng trọt
* Sản xuất vụ Đông 2017-2018
Tổng diện tích gieo trồng vụ Đông 2017 - 2018 đạt 7.677,4 ha, bằng 98,82%, giảm 91,4 ha so với vụ Đông năm trước; trong đó:
- Cây ngô diện tích gieo trồng đạt 344,8 ha, bằng 75,14%, giảm 114 ha so với cùng kỳ năm trước, do giống cây ngô đem trồng chưa phù hợp với đồng đất, hiệu quả kinh tế không cao; năng suất ngô đạt 53,1 tạ/ha, bằng 100,42%; sản lượng đạt 1.831,4 tấn, bằng 75,45%, giảm 596 tấn so với vụ Đông năm trước.  
- Cây khoai lang diện tích gieo trồng đạt 422,8 ha, bằng 97,98%, giảm 8,7 ha so với cùng kỳ năm trước do thời tiết không thuận lợi cho việc làm đất (thời điểm làm đất mưa kéo dài), một phần do thu hoạch khó bảo quản, người nông dân không tìm được đầu ra cho sản phẩm... Năng suất đạt 114,6 tạ/ha, bằng 101,13%; sản lượng đạt 4.843,4 tấn, bằng 99,09%, giảm 44,4 tấn so với vụ Đông năm trước.
- Nhóm rau - đậu - hoa các loại diện tích gieo trồng đạt 6.341,2 ha, bằng 99,58%, giảm 26,7 ha so với cùng kỳ năm trước, trong đó: rau các loại đạt 6.193,2 ha, bằng 99,69%, giảm 19,2 ha so với cùng kỳ năm trước. Nhiều cây có diện tích gieo trồng tăng cao như: Rau cải xanh tăng 8,3%, dưa hấu tăng 12,68%, tỏi tươi tăng 24,26% so với cùng kỳ năm trước. Năng suất cây trồng giữ được sự ổn định và có xu hướng tăng, năng suất nhóm rau các loại đạt 227,63 tạ/ha, bằng 100,4% so với cùng kỳ năm trước. Tổng sản lượng rau các loại thực hiện 140.975 tấn, bằng 100,09%, tăng 124 tấn so với cùng kỳ năm trước, trong đó một số cây trồng có sự biến động lớn về sản lượng do biến động diện tích gieo trồng như: sản lượng cải các loại thực hiện 29.421 tấn, tăng 2.368,2 tấn; dưa hấu thực hiện 4.667 tấn, tăng 565 tấn; tỏi thực hiện 4.795 tấn, tăng 970,5 tấn; bên cạnh đó sản lượng một số loại cây lại giảm mạnh như: bắp cải đạt 10.696 tấn, giảm 1.807 tấn; khoai tây đạt 11.039 tấn, giảm 526 tấn; su hào đạt 6.117 tấn, giảm 1.944 tấn so với cùng kỳ năm trước.
Vụ Đông năm nay diện tích cây hoa các loại đạt 131,7 ha, bằng 104,01%, tăng 5,08 ha so với cùng kỳ năm trước do nhu cầu hoa phục vụ cho tết Nguyên đán tăng. Sản lượng hoa các loại đạt 29,2 triệu bông, tăng 8,5% tương ứng 2,3 triệu bông so cùng kỳ năm trước.
- Nhóm cây gia vị: cây ớt là cây trồng chủ lực có diện tích 419,5 ha chiếm tỷ trọng đến 90% tổng diện tích của nhóm cây này, bằng 112,94%, tăng 48 ha so với cùng kỳ năm trước; năng suất đạt 230,5 tạ/ha, bằng 101%; sản lượng ớt quả thực hiện 9.671 tấn bằng 114,07%, tăng 1.193 tấn so với vụ Đông năm trước.
* Sản xuất vụ Đông xuân năm 2018
Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ Đông xuân năm 2018 ước thực hiện 48.654,1 ha; đạt 95,69% so chính thức vụ Đông xuân năm 2017.
- Cây lúa: diện tích lúa đã cấy thực hiện 34.275,7 ha đạt 97,75% so với cùng kỳ năm trước; trong đó chủ yếu là lúa xuân muộn với 31.755,8 ha, đạt trên 90% diện tích gieo cấy, còn lại là lúa xuân sớm. Đến trung tuần tháng 3/2018 toàn thành phố đã thực hiện được 1.281 ha diện tích gieo sạ, 768 ha diện tích cấy máy. Thời tiết trong tháng 3/2018 thuận lợi cho cây lúa sinh trưởng và phát triển, lúa đã cấy đều đẻ nhánh rộ đúng thời điểm và bắt đầu chuyển sang giai đoạn đứng cái. Tuy nhiên do thời tiết nóng ẩm nên một số đối tượng sâu bệnh đã xuất hiện rải rác trên lúa như: rầy lưng trắng (chủ yếu rầy trưởng thành), ốc bươu vàng... trên diện tích sâu trũng, hiện đã được bà con nông dân đã tích cực thu gom và phun trừ tương đối tốt.
- Cây trồng khác ước 3 tháng đầu năm 2018 diện tích rau màu vụ Đông xuân thực hiện như sau: ngô đạt 690,5 ha, bằng 84,06%; khoai lang đạt 524,2 ha, bằng 83,02%; thuốc lào đạt 2.350 ha, bằng 95,05%; rau các loại đạt 8.999 ha, bằng 89,37% so với cùng kỳ năm trước… Đến nay, cây vụ Xuân sinh trưởng và phát triển khá thuận lợi, toàn bộ diện tích cây rau, màu trồng vụ Xuân đã được nông dân phun trừ cơ bản, an toàn và đạt hiệu quả, không có diện tích cây trồng bị sinh vật gây hại, gây bệnh ảnh hưởng tới năng suất.
3.2. Chăn nuôi
Mặc dù cuối tháng 02 năm 2018 toàn thành phố xuất hiện một ổ dịch cúm H5N6 tại huyện An Dương, nhưng đã được các đơn vị chức năng kịp thời khoanh vùng, dập dịch, tiêu hủy toàn bộ gia cầm mắc bệnh, đến nay đàn gia súc, gia cầm tiếp tục phát triển ổn định.
Tháng 3 năm 2018 tổng số đàn trâu ước thực hiện đạt 5.157 con, bằng 94,52%, giảm 299 con so với cùng kỳ năm trước; đàn bò ước đạt 13.037 con, bằng 100,3%, tăng 39 con so với cùng kỳ năm trước; đàn lợn ước đạt 426.644 con bằng 97,81%, giảm 9.561 con so với cùng kỳ năm trước; đàn gia cầm ước đạt 7.158,3 ngàn con bằng 101,64%, tăng 115,5 ngàn con so với cùng kỳ năm trước, trong đó: đàn gà 5.601,4 ngàn con bằng 101,7%, tăng 93,6 ngàn con so với cùng kỳ năm trước.
Thời tiết trong quý I năm 2018 có nhiều đợt rét đậm, rét hại kéo dài gây khó khăn cho đàn vật nuôi phát triển cũng như làm tăng chi phí trong chăn nuôi như điện, than... để sưởi ấm. Giá giống vật nuôi tương đối ổn định, giá thức ăn chăn nuôi tháng 3/2018 tăng nhẹ so cùng kỳ; giá sản phẩm chăn nuôi đầu ra tương đối ổn định so với cùng kỳ.
Tình hình dịch bệnh: Sau khi tiêu hủy 3.200 con gia cầm tại xã Đại Bản, huyện An Dương vào tháng 2, công tác thú y được đảm bảo, kiểm soát tốt khu vực xảy ra dịch bệnh, không để dịch lây lan sang khu vực lân cận và không phát sinh ổ dịch mới. Đến nay đàn gia súc, gia cầm nuôi trên địa bàn thành phố đã phát triển ổn định, không phát hiện thêm gia cầm ốm, chết, phải tiêu hủy do các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm.
Sản phẩm ngành chăn nuôi: Ước quí I năm 2018 sản lượng thịt trâu, bò xuất chuồng đạt 545,8 tấn, tăng 2,4%; thịt lợn hơi đạt 17.165,1 tấn, tăng 0,4%; sản lượng thịt gia cầm đạt 11.876,3 tấn tăng 1,2%; trong đó sản lượng thịt gà ước đạt 9.532,6 tấn tăng 1,1% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng trứng gia cầm các loại ước đạt 77,8 triệu quả tăng 0,6%; trong đó sản lượng trứng gà ước đạt 49,6 triệu quả, tăng 0,3% so với cùng kỳ năm trước. Sau tết Nguyên đán giá thực phẩm ổn định, có phần giảm nhẹ so với trước và trong Tết. Giá con giống tăng do nhu cầu tái đàn lớn, giá thức ăn chăn nuôi tăng do biến động của thị trường nguyên liệu.
3.3. Lâm nghiệp
Ước thực hiện 3 tháng đầu năm 2018, sản lượng gỗ khai thác đạt 640 m3 tăng 2,4%; sản lượng củi đạt 12.700 ste, tăng 0,8% so với cùng kỳ năm trước, sản lượng gỗ và củi chủ yếu được khai thác từ rừng trồng; số cây trồng phân tán và Tết trồng cây trong toàn thành đạt 70 ngàn cây, bằng cùng kỳ năm trước.
Trong tháng 3 năm 2018, xảy ra 01 vụ cháy rừng, nâng tổng số vụ cháy rừng 3 tháng/2018 lên 02 vụ. Vụ cháy xảy ra tại khu rừng tạp cỏ lau huyện Cát Hải ngày 11/3/2018 với diện tích thiệt hại vào khoảng 4.200 m2 gây thiệt hại cho tuyến cáp quang Viettel chạy qua địa bàn; nguyên nhân gây cháy do người dân đốt vàng mã.
3.4. Thủy sản
Hoạt động nuôi trồng và đánh bắt thủy sản những tháng đầu năm 2018 có nhiều khởi sắc, ước tính tháng 3/2018 tổng sản lượng thủy sản nuôi trồng và khai thác đạt 13.074,2 tấn, tăng 8,29% so với cùng kỳ năm trước, 3 tháng/2018 ước đạt 36.578,2 tấn tăng 6,81% so với cùng kỳ năm trước.
* Nuôi trồng
Diện tích nuôi trồng thủy sản ước thực hiện tháng 3/2018 đạt 9.244,1 ha, tăng 11,41%; ước 3 tháng/2018 đạt 11.560,7 ha, tăng 9,77% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: diện tích nuôi cá các loại đạt 6.594,6 ha, tăng 5,98%; tôm các loại đạt 3.710,6 ha, giảm 4,35%; thủy sản khác 1.255,6 ha, tăng 192,36% so với cùng kỳ năm trước.
Sản lượng thủy sản nuôi trồng tháng 3/2018 ước thực hiện 6.554,0 tấn, tăng  13,58% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: sản lượng cá ước đạt 3.735,7 tấn, tăng 4,7%; tôm các loại 352,7 tấn, tăng 12,98%; thủy sản khác 2.465,6 tấn, tăng 30,44%. Ước thực hiện 3 tháng/2018, sản lượng nuôi trồng đạt 18.294,9 tấn, tăng 8,15% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: sản lượng cá đạt 11.526,9 tấn, tăng 5,03%; tôm các loại 1.096,3 tấn tăng 9,15%; thủy sản khác đạt 5.671,7 tấn tăng 14,88%.
Các trại, cơ sở sản xuất giống thủy sản ổn định, sản lượng sản phẩm con giống trong 3 tháng/2018 vẫn tăng cao, cụ thể sản lượng cá giống các loại đạt 510,6 triệu con tăng 2,88%; tôm giống các loại đạt 211 triệu con tăng 14,55%; thủy sản giống các loại đạt 56,5 triệu con tăng 10,9% so với cùng kỳ năm trước.
* Khai thác
Sản lượng thủy sản khai thác tháng 3/2018 ước đạt 6.520,2 tấn, tăng 3,46% so với cùng kỳ năm trước; trong đó sản lượng cá các loại đạt 3.631 tấn, tăng 9,51%; tôm các loại đạt 532,4 tấn, tăng 6,76%; thủy sản khác 2.356,8 tấn, giảm 5,28%. Ước thực hiện 3 tháng/2018, sản lượng thủy sản khai thác đạt 18.283,3 tấn, tăng 5,51% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: cá các loại đạt 9.982,7 tấn, tăng 10,98%; tôm các loại 1.535,4 tấn, tăng 10,14%; thủy sản khác 6.765,2 tấn, giảm 2,52% so với cùng kỳ năm trước.
Tình hình thời tiết tương đối thuận lợi cho nghề khai thác thủy sản. Trên các ngư trường quanh đảo Bạch Long Vỹ, Long Châu - Cát Bà, trong thời gian qua xuất hiện nhiều loài thủy sản có giá trị kinh tế như: mực ống, cá song, mú lang, bạc má, cá nục, cá trích… Các địa phương có nghề khai thác phát triển như Thủy Nguyên, Kiến Thụy, Đồ Sơn tổ chức lại sản xuất, hình thành các tổ, đội, mô hình liên doanh, liên kết trên biển nhằm đảm bảo sự hỗ trợ lẫn nhau tốt nhất trong những chuyến đi biển dài ngày.
4. Đầu tư xây dựng
4.1. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội

Quý 1 năm 2018, ước tính vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn là 11.003,8 tỷ đồng, tăng 31,26% so với cùng kỳ. Chia ra:
- Vốn nhà nước trên địa bàn thực hiện là 1.854 tỷ đồng, giảm 20,24% so với cùng kỳ, trong đó: Vốn Trung ương quản lý là 614,7 tỷ đồng, giảm 59,66% so với cùng kỳ; vốn địa phương quản lý là 1.239,2 tỷ đồng, tăng 54,78% so với cùng kỳ;
- Vốn ngoài nhà nước thực hiện là 5.953,7 tỷ đồng, tăng 79,90% so cùng kỳ;
- Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện là 3.196 tỷ đồng, tăng 16,27 % so cùng kỳ.
Ngay từ những ngày đầu năm 2018 các dự án công trình trọng điểm của thành phố đều được đẩy mạnh tiến độ và thực hiện với khối lượng lớn. Khu vực Nhà nước dự tính quý I/2018, vốn đầu tư thực hiện đạt 1.854 tỷ đồng, giảm đi 20,24% so với cùng kỳ, trong đó vốn Trung ương quản lý giảm 59,66% so với cùng kỳ do các dự án trọng điểm đầu tư từ nguồn vốn Trung ương đã hoàn thành trong năm 2017 và được đưa vào sử dụng. Bên cạnh đó, năm 2018 vốn bố trí cho dự án Cảng Lạch Huyện giảm 60% so với năm 2017.
Vốn đầu tư do địa phương quản lý dự kiến quý I/2018 đạt trên 1,2 nghìn tỷ đồng, tăng 54,78% so với cùng kỳ. Ngoài nguồn vốn từ ngân sách, năm 2018 thành phố vay lại từ nguồn vốn ODA của trung ương với tổng khoản vay là 983,2 tỷ đồng (phân bổ trong năm 2018) cho 3 dự án là dự án Phát triển giao thông đô thị thành phố 216,2 tỷ đồng; dự án Thoát nước mưa, thoát nước thải và quản lý chất thải rắn Hải Phòng giai đoạn I là 762,5 tỷ đồng; dự án Tăng cường quản lý đất đai và cơ sở dữ liệu đất đai là 4,4 tỷ đồng.
Trong mức tăng vốn đầu tư thực hiện quý I/2018, đóng góp chính là khu vực vốn ngoài nhà nước (chiếm 54% trong tổng số vốn thực hiện toàn thành phố). Điển hình là 6 dự án của tập đoàn Vingroup đang triển khai với với tổng đầu tư lên tới gần 70 nghìn tỷ đồng; tiếp đó là tập đoàn Sungroup đầu tư tại Cát Hải với tổng vốn đầu tư trên 5 nghìn tỷ đồng cho giai đoạn 1 của dự án; dự án cầu Bạch Đằng, đường dẫn và nút giao cuối tuyến được đầu tư theo hình thức BOT do công ty cổ phần BOT cầu Bạch Đằng làm chủ đầu tư với tổng mức đầu tư 7.661 tỷ đồng…
Khu vực đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (chiếm 30% tổng mức đầu tư toàn xã hội) quý I/2018 ước đạt 3.196 tỷ đồng, tăng 16,27% so với cùng kỳ, tập trung ở một số dự án lớn như: dự án LG Display Hải Phòng (dự án chuỗi dây chuyền sản xuất các sản phẩm màn hình công nghệ cao) ước thực hiện 63,7 triệu USD; dự án Nhà máy LG Innotek ước vốn đầu tư thực hiện trong quý I/2018 đạt hơn 700 tỷ đồng cho xây dựng lắp đặt; dự án may mặc của công ty Reginal ước thực hiện đầu tư hơn 100 tỷ đồng;  dự án Khách sạn Chuo với tổng đầu tư 1.800 tỷ USD đã được khởi công vào tháng 11/2017, hiện đã ép xong cọc, đang xây phần móng và lên tầng, thực hiện được 5% khối lượng công việc, tương đương 375 tỷ đồng. Ngày 3/3/2018 đã khởi công Khách sạn HTM của chủ đầu tư Hàn Quốc với tổng vốn đầu tư là 150 tỷ đồng. Dự kiến cuối tháng 3/2018 Trung tâm thương mại Aeon Mall của Nhật Bản với tổng mức đầu tư 3.600 tỷ đồng sẽ được khởi công.
Tình hình thực hiện một số dự án lớn đến thời điểm hiện nay trên địa bàn:
* Khu vực Nhà nước
- Dự án Dự án Đầu tư xây dựng Cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng được khởi công vào ngày 14/4/2013, đến nay Gói thầu số 6 - Đê chắn sóng đoạn A, kè bảo vệ, tôn tạo, xử lý nền đất yếu và hạ tầng điện nước đã hoàn thành. Gói thầu số 10- Đê chắn sóng đoạn B và đê chắn cát tiến độ thực hiện 61,1% dự kiến tháng 8/2019 hoàn thành. Gói thầu số 8 - Nạo vét và đổ thải phần A tiến độ thực hiện đạt 95,8%, dự kiến tháng 10/2018 hoàn thành. Gói thầu số 9 - Nạo vét và đổ thải phần B tiến độ thực hiện đạt 97,8%, dự kiến tháng 10/2018 hoàn thành.
- Dự án đầu tư xây dựng Hạ tầng kỹ thuật khu đô thị mới Bắc sông Cấm với tổng mức đầu tư là 9.899 tỷ đồng. Trong đó dự án cầu Hoàng Văn Thụ đến thời điểm hiện tại thực hiện 75% khối lượng công việc, tương đương 1.716 tỷ đồng, dự kiến 13/5/2018 thông xe kỹ thuật và tháng 7/2018 hoàn thành.
* Khu vực Ngoài nhà nước
- Dự án Bệnh viện Vinmec đã hoàn thành xây dựng trong quý I/2018, dự kiến sẽ khánh thành vào tháng 4/2018 với tổng mức đầu tư của dự án là 1.915 tỷ đồng
- Dự án Cầu Vũ Yên dự kiến sẽ hoàn thành trước 30/4/2018 sau thời gian là 5 tháng thi công.
- Dự án Tổ hợp Nhà máy sản xuất ô tô Vinfast của tập đoàn Vingroup dự kiến tháng 4/2018 thi công xong nhà xưởng của xe máy điện, đang tiến hành lắp đặt máy móc thiết bị dự kiến tháng 8/2018 sẽ vận hành nhà xưởng sản xuất xe máy điện. Tháng 9/2018 thi công xong các nhà xưởng sản xuất ô tô. Năm 2019 sẽ cho ra đời sản phẩm ô tô đầu tiên của công ty.
- Dự án Dự án Khu đô thị Vinhomes Imperia đã hoàn thành 100 căn biệt thự trong giai đoạn 1, giai đoạn 2 gần xong phần mộc của 700 căn biệt thự. Tổ hợp trung tâm thương mại Vincom 45 tầng đang thi công ở tầng thứ 21, khối lượng thực hiện đạt trên 40%.
- Ngày 25/11 tập đoàn Flamingo làm chủ đầu tư đã khởi công tổ hợp nghỉ dưỡng 5 sao Flamingo Cát Bà Beach Resort tại bãi biển Cát Cò 2, thị trấn Cát Bà, huyện Cát Hải với tổng đầu tư 3.000 tỷ đồng. Trong quý I/2018 dự án này vẫn đang được tích cực thực hiện.
* Tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngoài
Tính đến 15/3/2018 Hải Phòng có 531 dự án còn hiệu lực:
Tổng vốn đầu tư    :   15.355,215 triệu USD
Vốn điều lệ        :     5.129,835 triệu USD
Vốn Việt Nam góp    :        211,597 triệu USD
Nước ngoài góp    :     4.918,238 triệu USD
Từ đầu năm đến 15/3/2018, toàn thành phố có 14 dự án cấp mới với số vốn 49,8 triệu USD và 18 dự án điều chỉnh tăng vốn với số vốn tăng là 781,14 triệu USD. Các dự án mới và tăng vốn chủ yếu ở ngành công nghiệp chế biến, chế tạo. Trong đó điển hình là dự án NHÀ MÁY LG INNOTEK HẢI PHÒNG của nhà đầu tư Hàn Quốc điều chỉnh tăng 501 triệu USD nâng tổng số vốn đầu tư lên 1.051 triệu USD; dự án công ty TNHH Regina Miracle International Việt Nam của nhà đầu tư Hồng Kông điều chỉnh tăng 260 triệu USD nâng tổng số vốn đầu tư lên 760 triệu USD.
Cũng từ đầu năm đến 15/3/2018, có 3 dự án thu hồi do không triển khai, 2 dự án chấm dứt hoạt động theo quyết định của nhà đầu tư, trong đó có 01 dự án trong khu công nghiệp và 04 dự án ngoài khu công nghiệp.
Ước vốn đầu tư thực hiện 39,9%.
4.2. Xây dựng
Ngay từ những tháng đầu năm 2018 Ủy ban nhân dân thành phố đã tập trung cao công tác chỉ đạo, điều hành để phấn đấu hoàn thành và hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu kinh tế xã hội năm 2018.
Quý 1 năm 2018: Giá trị sản xuất xây lắp quý 1/2018( theo giá so sánh) trên địa bàn thành phố Hải Phòng ước đạt 5.319,9 tỷ đồng, tăng 19,04% so với cùng kỳ năm ngoái. Cụ thể:
Về cơ cấu theo loại công trình:
-    Công trình nhà ở ước đạt 1.644, tỷ đồng tăng 4,75% so với cùng kỳ;
-    Công trình nhà không để ở ước đạt 1.165,3 tỷ đồng tăng 13,77% so với cùng kỳ;
-    Công trình kỹ thuật dân dụng ước đạt 1.645,9 tỷ đồng tăng 57,97% so với cùng kỳ;
-    Xây dựng chuyên dụng ước đạt 864,6 tỷ đồng tăng 3,67% so với cùng kỳ.
Quý 2 năm 2018, Giá trị sản xuất xây lắp quý 2/2018( theo giá so sánh) trên địa bàn thành phố Hải Phòng ước đạt 8.562,5tỷ đồng, tăng  22,21% so với cùng kỳ năm ngoái. Cụ thể:
-    Công trình nhà ở ước đạt 2.444,9 tỷ đồng tăng 11,80% so với cùng kỳ;
-    Công trình nhà không để ở ước đạt 1.924,1 tỷ đồng tăng 29,87% so với cùng kỳ;
-    Công trình kỹ thuật dân dụng ước đạt 3.158,1 tỷ đồng tăng 41,20% so với cùng kỳ;
-    Xây dựng chuyên dụng ước đạt 1.035,4 tỷ đồng giảm 5,96% so với cùng kỳ;
Dự tính 6 tháng đầu năm 2018:  Giá trị sản xuất xây lắp 6 tháng đầu năm 2018 ( theo giá so sánh) ước đạt 14.092,3 tỷ đồng, tăng 22,48% so với cùng kỳ năm ngoái. Cụ thể:
-    Công trình nhà ở ước đạt 4.366,8 tỷ đồng tăng 16,05% so với cùng kỳ;
-    Công trình nhà không để ở ước đạt 3.010,3 tỷ đồng tăng 19,90% so với cùng kỳ;
-    Công trình kỹ thuật dân dụng ước đạt 4.711,2 tỷ đồng tăng 43,16% so với cùng kỳ;
Xây dựng chuyên dụng ước đạt 2.004,0 tỷ đồng tăng 3,24% so với cùng kỳ;
5. Tổng mức lưu chuyển hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
Quý I năm 2018 các hoạt động thương mại, dịch vụ và du lịch trên địa bàn thành phố tiếp tục ổn định và phát triển. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 3/2018 ước đạt 9.415,68 tỷ đồng, tăng 5,50% so với tháng trước và tăng 16,53% so với cùng kỳ năm trước. Cộng dồn 3 tháng đầu năm 2018, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 27.965,48 tỷ đồng, tăng 14,75% so với cùng kỳ năm trước.
* Chia theo khu vực kinh tế
- Khu vực kinh tế nhà nước đạt 238,08 tỷ đồng, tăng 0,58% so với tháng trước, tăng 4,24% so với cùng kỳ năm trước. Cộng dồn 3 tháng đầu năm 2018, khu vực kinh tế nhà nước ước đạt 757,54 tỷ đồng, tăng 5,28% so với cùng kỳ năm trước;
- Khu vực kinh tế ngoài nhà nước đạt 8.709,21 tỷ đồng, tăng 5,55% so với tháng trước và tăng 16,79% so với cùng kỳ năm trước; 3 tháng đầu năm 2018, khu vực kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 25.809,86 tỷ đồng, tăng 15,49% so với cùng kỳ năm trước;
- Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 468,39 tỷ đồng, tăng 7,30% so với tháng trước, tăng 18,68% so với cùng kỳ năm trước; 3 tháng đầu năm 2018, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt gần 1.398,07 tỷ đồng, tăng 7,33% so với cùng kỳ năm trước;
* Chia theo ngành hoạt động
- Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 3 năm 2018 ước đạt 7.385,15 tỷ đồng, tăng 1,63% so với tháng trước, tăng 16,38% so với cùng kỳ năm trước. Cộng dồn 3 tháng đầu năm 2018, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt gần 21.972,41 tỷ đồng, tăng 14,15% so với cùng kỳ năm trước.
Sau tháng giêng năm 2018, sức tiêu thụ hàng hóa bắt đầu tăng trở lại. Một số ngành có doanh thu tháng 3/2018 ước tính tăng hơn so với tháng trước như ngành hàng lương thực thực phẩm (tăng 1,8%); ngành đồ dùng trang thiết bị gia đình (tăng 1,67%); gỗ và vật liệu xây dựng (tăng 1,78%); xăng dầu (tăng 2,05%)... Tuy nhiên, một số ngành hàng ước tính doanh thu trong tháng 3/2018 giảm so với tháng 2/2018 như ngành hàng nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) ước tính doanh thu tháng 3/2018 giảm 1,5% so với tháng trước do từ ngày 01/3, giá  gas được điều chỉnh giảm theo giá gas thế giới; ngành hàng đá quý, kim loại quý và sản phẩm ước tính doanh thu tháng 3/2018 giảm 0,94% so với tháng 02/2018, nguyên nhân doanh thu của ngành hàng này trong tháng 02/2018 tăng cao là do nhu cầu mua sắm tăng trong ngày vía Thần tài (ngày 10 tháng giêng âm lịch)…
Dự tính quý I/2018 tổng mức bán lẻ hàng hóa tăng 14,15% so với cùng kỳ năm 2017, chủ yếu tăng ở các nhóm ngành lương thực thực phẩm (tăng 14,9%); hàng may mặc (tăng 17,51%); đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình (tăng 14,16%); vật phẩm văn hóa giáo dục (tăng 17,58%); xăng dầu (tăng 19,44%); nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) (tăng 8,83%)...
- Doanh thu dịch vụ lưu trú tháng 3 năm 2018 ước đạt 115 tỷ đồng, tăng 10,19% so với tháng trước và tăng 19,22% so với cùng kỳ năm trước. Cộng dồn 3 tháng đầu năm 2018 ước đạt 309 tỷ đồng, tăng 11,89% so với cùng kỳ năm 2017.
- Doanh thu dịch vụ ăn uống tháng 3 năm 2018 ước đạt 1.258,71 tỷ đồng, tăng 35,04% so với tháng trước và tăng 15,99% so với cùng kỳ năm trước. Cộng dồn 3 tháng đầu năm 2018 ước đạt 3.357 tỷ đồng, tăng 18,95% so với cùng kỳ năm 2017.
- Doanh thu du lịch lữ hành tháng 3 năm 2018 ước đạt 14,37 tỷ đồng, giảm 1,14% so với tháng trước, tăng 26,68% so với cùng kỳ năm trước. Cộng dồn 3 tháng đầu năm 2018 ước đạt 41,42 tỷ đồng, tăng 22,55% so với cùng kỳ năm 2017.
- Doanh thu dịch vụ khác tháng 3 năm 2018 ước đạt 642,83 tỷ đồng, tăng 5,84% so với tháng trước, tăng 18,71% so với cùng kỳ năm trước; tính chung cả quý I/2018, doanh thu dịch vụ khác ước đạt gần 2.285,56 tỷ đồng, tăng 14,87% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu tháng 3/2018 của các ngành dịch vụ hầu hết tăng so với tháng 02/2018 như dịch vụ bất động sản tăng 2,39%; hoạt động dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 7,15%; hoạt động dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội tăng 3,02%...; dịch vụ khác như dịch vụ giặt là, cắt tóc, gội đầu làm đẹp giảm 1,75% do sau Tết nhu cầu về các dịch vụ này của người dân không cao.
6. Hoạt động lưu trú và lữ hành    
Tổng lượt khách tháng 3 năm 2018 do các cơ sở lưu trú và lữ hành thành phố phục vụ ước đạt 534,39 nghìn lượt, tăng 2,45% so với tháng trước và tăng 12,84% so với cùng tháng năm 2017; trong đó khách quốc tế ước đạt 59 nghìn lượt, tăng 6,37% so với tháng trước và tăng 8% so với cùng tháng năm trước. Cộng dồn 3 tháng đầu năm 2018, tổng lượt khách do các cơ sở lưu trú và lữ hành thành phố phục vụ ước đạt 1.589,4 nghìn lượt, tăng 12,76% so với cùng kỳ năm 2017.
Đối với hoạt động lữ hành, lượt khách lữ hành tháng 3 năm 2018 ước đạt 14,3 nghìn lượt, giảm 1,63% so với tháng trước, tăng 6,52% so với cùng kỳ năm trước. Cộng dồn 3 tháng đầu năm 2018, lượt khách lữ hành ước đạt 42,5 nghìn lượt, tăng 12,09% so với cùng kỳ.
7. Vận tải hàng hóa và hành khách
7.1. Vận tải hàng hoá

Khối lượng hàng hoá vận chuyển tháng 3 năm 2018 ước đạt 14,8 triệu tấn, tăng 6,69% so với tháng trước và tăng 19,47% so với cùng tháng năm trước. Ước tính 3 tháng năm 2018 khối lượng hàng hoá vận chuyển đạt 42,8 triệu tấn, tăng 14,98% so với cùng kỳ năm trước.
Khối lượng hàng hóa luân chuyển tháng 3 năm 2018 đạt 7.963,4 triệu tấn.km, tăng 5,84% so với tháng trước và tăng 21,43% so với cùng tháng năm trước. Ước tính 3 tháng năm 2018 khối lượng hàng hóa luân chuyển đạt 23.283,4 triệu tấn.km, tăng 15,55% so với cùng kỳ năm trước.
7.2. Vận tải hành khách
Khối lượng hành khách vận chuyển tháng 3 năm 2018 ước đạt 5,0 triệu lượt, tăng 5,38% so với tháng trước, tăng 17,62% so với cùng tháng năm trước. Ước tính 3 tháng năm 2018 khối lượng hành khách vận chuyển đạt 14,5 triệu lượt, tăng 14,26% so với cùng kỳ năm trước.
Khối lượng hành khách luân chuyển tháng 3 năm 2018 đạt 193,2 triệu Hk.km, tăng 5,49% so với tháng trước và tăng 11,92% so với cùng tháng năm trước. Ước tính 3 tháng năm 2018 khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 567,5 triệu Hk.km, tăng 11,84% so với cùng kỳ năm trước.
7.3. Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải
Dịch vụ kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải phát triển ổn định, cụ thể doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng 3 năm 2018 ước đạt 2.157,2 tỷ đồng, tăng 6,81% so với tháng trước và tăng 23,82% so với cùng tháng năm trước. Ước tính 3 tháng năm 2018 doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 6.324,9 tỷ đồng, tăng 14,25% so với cùng kỳ năm trước.
7.4. Ga Hải Phòng
Tổng doanh thu tháng 3 năm 2018 Ga Hải Phòng ước đạt 6,1 tỷ đồng, tăng 6,49% so với tháng 02 năm 2018, giảm 32,17% so với cùng tháng năm trước. Ước tính 3 tháng đầu năm 2018 tổng doanh thu của Ga Hải Phòng đạt 25,6 tỷ đồng, giảm 24,56% so với cùng kỳ năm trước.
Tổng số hành khách vận chuyển tháng 3 năm 2018 ước đạt 40 ngàn lượt người, tăng 15,59% so với tháng trước, giảm 10,38% so với cùng tháng năm trước. Ước tính 3 tháng đầu năm 2018 số hành khách đạt 129,6 ngàn lượt người, giảm 10,75% so với cùng kỳ năm 2017.
Tổng số hàng hóa vận chuyển tháng 3 năm 2018 ước đạt 80 ngàn tấn, tăng 1,42% so với tháng trước, giảm 19,14% so với cùng tháng năm trước; ước tính 3 tháng đầu năm 2018 hàng hóa vận chuyển đạt 264,9 ngàn tấn, giảm 6,18% so với cùng kỳ năm 2017. Sản lượng hàng hóa vận chuyển tháng 3/2018 giảm sâu chủ yếu do số lượng hàng hóa đi giảm mạnh, chỉ bằng 33,16% so với cùng tháng năm trước, 3 tháng/2018 bằng 49,47% so với cùng kỳ năm trước.
7.5. Sân bay Cát Bi
Tháng 3 năm 2018 tổng doanh thu của Sân bay Cát Bi ước đạt 16,5 tỷ đồng, tăng 3,02% so với tháng trước; tăng 3,10% so với cùng tháng năm 2017; 3 tháng đầu năm 2018 tổng doanh thu của Sân bay Cát Bi ước đạt 49,2 tỷ đồng, tăng 3,1% so với cùng kỳ năm trước.
Số lần máy bay hạ, cất cánh tháng 3 năm 2018 ước đạt 1.290 chuyến, tăng 7,68% so với tháng trước, tăng 11,02% so với cùng tháng năm 2017; ước tính 3 tháng/2018 số lần máy bay hạ, cất cánh đạt 3.624 chuyến, giảm 4,93% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó chuyến bay ngoài nước tháng 3/2018 ước đạt 90 chuyến, với khoảng 12 ngàn lượt hành khách thông qua.
Tổng số hành khách tháng 3 năm 2018 ước đạt 186 ngàn lượt người, tăng 6,54% so với tháng trước, tăng 5,67% so với cùng tháng năm 2017; ước tính 3 tháng/2018 tổng số hành khách đạt 521,4 ngàn lượt, giảm 2,99% so với cùng kỳ năm trước.
Tổng số hàng hóa tháng 3 năm 2018 ước đạt 950 tấn, tăng 13,64% so với tháng trước, tăng 0,21% so với cùng tháng năm 2017; ước tính 3 tháng/2018 tổng số hàng hóa thông qua đạt 3.074 tấn, tăng 28,24% so với cùng kỳ năm trước.
8. Hàng hoá thông qua cảng
Sản lượng hàng hóa thông qua cảng tháng 3 năm 2018 ước đạt 8,207 triệu TTQ, tăng 14,17% so với tháng trước và tăng 10,88% so với cùng kỳ năm trước, cụ thể:
- Khối cảng thuộc kinh tế Nhà nước ước đạt 2,970 triệu TTQ, tăng 3,87% so với tháng trước và giảm 22,38% so với cùng kỳ năm trước, trong đó:
+ Cảng thuộc khối doanh nghiệp nhà nước Trung ương ước đạt 2,960 triệu TTQ, tăng 3,89% so với tháng trước, giảm 22,22% so với cùng kỳ năm trước.
+ Cảng thuộc khối doanh nghiệp Nhà nước địa phương ước đạt 10 ngàn TTQ, bằng tháng trước, giảm 51,36% so với cùng kỳ năm trước.
- Các cảng thuộc khu vực kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 5,237 triệu TTQ, tăng 20,98% so với tháng trước, tăng 46,45% so với cùng kỳ.
Cộng dồn 3 tháng đầu năm 2018, sản lượng hàng hóa thông qua trên địa bàn thành phố đạt 24,297 triệu tấn, tăng 16,01% so với cùng kỳ năm 2017.
* Doanh thu cảng biển tháng 3 năm 2018 của khối cảng trên địa bàn thành phố ước đạt 387,4 tỷ đồng, tăng 15,76% so với tháng trước, tăng 0,05% so với cùng kỳ năm trước. Cộng dồn 3 tháng đầu năm 2018 ước đạt 1.115,9 tỷ đồng, tăng 4,62% so với cùng kỳ năm trước.
 9. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) thành phố Hải Phòng tháng 3 năm 2018 giảm 0,32% so với tháng trước, tăng 2,91% so với cùng kỳ năm trước và tăng 2,09% so với tháng 12/2017. CPI  bình quân 3 tháng đầu năm 2018 so với cùng kỳ năm trước tăng 4,28%
Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 2 nhóm chỉ số giá tăng so với tháng trước với mức tăng như sau: nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,10%; nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,12%. Có 8 nhóm hàng giảm là: nhóm hàng ăn uống và dịch vụ ăn uống giảm 0,30%; nhóm đồ uống và thuốc lá giảm 0,94%; nhóm may mặc, mũ nón, giầy dép giảm 0,78%; nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,12%; nhóm giao thông giảm 0,59%; nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,23%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,30%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác giảm 1,42%. Chỉ số giá nhóm giáo dục ổn định.
Nguyên nhân chính khiến CPI tháng 3 năm 2018 giảm so với tháng trước là do sau Tết Nguyên đán, giá nhiều mặt hàng giảm như: chỉ số giá thịt gia súc giảm 1,12% làm CPI chung giảm 0,06%; chỉ số giá rau tươi, khô và chế biến giảm 4,92% làm cho CPI chung giảm 0,12%; chỉ số giá đồ uống và thuốc lá giảm 0,94% làm cho CPI chung giảm 0,03%; chỉ số nhóm may mặc giảm 0,78% làm cho CPI chung giảm 0,06%.
Chỉ số giá nhóm lương thực tháng 3/2018 tăng 0,38%, chỉ số giá thực phẩm giảm 0,49% so với tháng trước do ảnh hưởng của tình hình thu gom gạo xuất khẩu gạo sang Indonesia làm giá gạo tẻ tăng; giá thực phẩm tươi sống lại giảm do nguồn cung dồi dào. Thời tiết thuận lợi, các loại rau phát triển rất tốt nên giá rau các loại như  bắp cải, cà chua, khoai tây, rau muống giảm từ 6-13%. Tuy nhiên các loại rau gia vị tươi, khô như hành, tỏi,... lại giảm mạnh do đang vào chính vụ.
Chỉ số nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,30%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác giảm 1,42% so với tháng trước do giá hoa giảm mạnh sau Tết; giá các dịch vụ phục vụ cá nhân như cắt tóc, gội đầu giảm do nhu cầu tiêu dùng của người dân sau Tết không cao.
* Chỉ số giá vàng 99,99% và Đô la Mỹ:
- Chỉ số giá vàng tháng 3/2018 giảm 0,13% so với tháng trước, tăng 7,51% so với cùng tháng năm 2017, tăng 4,01% so với tháng 12 năm trước. Giá vàng bình quân tháng 3/2018 dao động ở mức 3,710 triệu đồng/chỉ, giảm 5.000 đồng/chỉ so với tháng trước.    
- Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 3/2018 tăng 0,23% so với tháng trước, giảm 0,19% so với cùng tháng năm 2017, tăng 0,19% so với tháng 12 năm trước. Tỷ giá USD/VND bình quân tháng 3/2018 dao động ở mức 22.793 đồng/USD, tăng 52 đồng/USD so với tháng trước.
10. Bưu chính viễn thông
* Bưu chính, viễn thông Hải Phòng
Tổng doanh thu bưu chính, viễn thông Hải Phòng tháng 3 năm 2018 ước đạt 115 tỷ đồng, tăng 0,81% so với tháng trước, giảm 1,83% so với cùng tháng năm 2017. Ước tính 3 tháng/2018 doanh thu bưu chính, viễn thông đạt 339 tỷ đồng, tăng 6,56% so với cùng kỳ năm trước.
Số thuê bao điện thoại phát triển mới tháng 3 năm 2018 ước đạt 650 thuê bao, tăng 12,26% so với tháng trước, giảm 49,88% so với cùng tháng năm 2017. Ước tính 3 tháng /2018 số thuê bao điện thoại phát triển mới đạt 2.039 thuê bao, giảm 41,15% so với cùng kỳ năm trước.
Số thuê bao Internet phát triển mới tháng 3 năm 2018 ước đạt 5.000 thuê bao, tăng 88,89% so với tháng trước, giảm 13,97% so với cùng tháng năm 2017. Ước tính 3 tháng/2018 số thuê bao Internet phát triển mới đạt 13,5 ngàn thuê bao, giảm 17,88% so với cùng kỳ năm trước.
* Chi nhánh Trung tâm viễn thông quân đội Viettel
Tổng doanh thu của Chi nhánh viễn thông quân đội Viettel tháng 3 năm 2018 ước đạt 106,5 tỷ đồng, tăng 5,45% so với tháng trước, tăng 1,43% so với cùng tháng năm trước. Ước tính 3 tháng năm 2018 tổng doanh thu của Chi nhánh viễn thông quân đội Viettel ước đạt 317,5 tỷ đồng, tăng 3,76% so với cùng kỳ năm trước.
Số máy thuê bao điện thoại phát triển mới ước đạt 4.015 thuê bao, tăng 16,04% so với tháng trước, giảm 28,5% so với cùng tháng năm 2017; ước tính 3 tháng/2018 số máy thuê bao điện thoại phát triển mới đạt 14,4 ngàn thuê bao, giảm 11,71% so với cùng kỳ năm trước.
Số thuê bao Internet phát triển mới tháng 3/2018 ước đạt 1.200 thuê bao, tăng 9,09% so với tháng trước, giảm 11,11% so với cùng tháng năm trước; ước tính 3 tháng/2018 số thuê bao Intenet phát triển mới đạt 4.500 thuê bao, tăng 15,38% so với cùng kỳ năm trước.
11. Hoạt động tài chính, ngân hàng
11.1. Tài chính

Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn tháng 3/2018 ước tính đạt 6.014,9 tỷ đồng, ước 3 tháng/2018 đạt 15.037,9 tỷ đồng, bằng 92,5% so cùng kỳ năm trước, trong đó: thu nội địa tháng 3 ước đạt 2.300 tỷ đồng, ước 3 tháng/2018 đạt 5.413,9 tỷ đồng, tăng 11,7% so cùng kỳ; thu hải quan tháng 3/2018 ước đạt 3.500 tỷ đồng, ước 3 tháng/2018 đạt 9.103,5 tỷ đồng, bằng 81,4% so cùng kỳ.
Trong thu nội địa, thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước Trung ương đạt 149 tỷ đồng, ước 3 tháng/2018 đạt 450,9 tỷ đồng, tăng 2% so cùng kỳ; thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước địa phương đạt 95,4 tỷ đồng, ước 3 tháng/2018 đạt 244,4 tỷ đồng, tăng 4,7% so cùng kỳ; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 298,3 tỷ đồng, ước 3 tháng/2018 đạt 751,3 tỷ đồng, bằng 93,5% so với cùng kỳ; thu từ khu vực cá thể nhỏ và ngoài quốc doanh đạt 351,7 tỷ đồng, ước 3 tháng/2018 đạt 1.093,6 tỷ đồng, tăng 19,2% so cùng kỳ...
Tổng chi cân đối ngân sách địa phương tháng 3/2018 ước tính đạt 1.165,3 tỷ đồng, ước 3 tháng/2018 đạt 2.516,5 tỷ đồng, bằng 42,% so với cùng kỳ, trong đó: Chi đầu tư xây dựng cơ bản đạt 405,6 tỷ đồng, ước 3 tháng/2018 đạt 416,8 tỷ đồng; chi thường xuyên đạt 722,5 tỷ đồng, ước 3 tháng/2018 đạt 1.970,9 tỷ đồng, bằng 89,4% so cùng kỳ.
11.2. Ngân hàng
* Công tác huy động vốn:
Tổng nguồn vốn huy động trên địa bàn ước thực hiện đến hết tháng 3 năm 2018 đạt 170.401 tỷ đồng, tăng 16,73% so với cùng kỳ năm 2017.
Theo loại tiền: Huy động bằng VND đạt 156.128 tỷ đồng, tăng 15,53% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 91,6%; ngoại tệ đạt 14.273 tỷ đồng, tăng 31,69% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 8,4%.
Theo hình thức huy động: Huy động tiền gửi tiết kiệm đạt 115.285 tỷ đồng, tăng 12,05% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 67,66%; tiền gửi thanh toán đạt 50.088 tỷ đồng, tăng 23,27% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 29,39%; phát hành giấy tờ có giá đạt 5.028 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 2,95%.
* Công tác tín dụng:
Tổng dư nợ cho vay các thành phần kinh tế ước thực hiện đến hết tháng 3 năm 2018 đạt 104.289 tỷ đồng, tăng 19,18% so với cùng kỳ trước.
Cơ cấu dư nợ theo loại tiền: Cho vay bằng VND đạt 95.535 tỷ đồng, tăng 20,83% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 91,61%. Cho vay ngoại tệ (quy đổi VND) ước đạt 8.754 tỷ đồng, tăng 3,77% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 8,39%.
Cơ cấu dư nợ phân theo thời hạn vay: Cho vay ngắn hạn đạt 48.061 tỷ đồng, tăng 32,35% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 46,08%; cho vay trung, dài hạn đạt 56.228 tỷ đồng, tăng 9,84% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 53,92%.
12. Xuất nhập khẩu hàng hóa
12.1. Xuất khẩu hàng hoá

Kim ngạch xuất khẩu tháng 3 năm 2018 ước đạt 650,5 triệu USD, tăng 15,03% so với tháng trước, trong đó: khu vực kinh tế trong nước đạt 162,2 triệu USD, tăng 11,51%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 488,3 triệu USD, tăng 16,25%.
So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 3 năm 2018 tăng 22,05%, trong đó: khu vực kinh tế trong nước tăng 18,03%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 23,45%.
Tính chung 3 tháng năm 2018, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 1.808,1 triệu USD, tăng 24,29% so với cùng kỳ năm 2017, trong đó: khu vực kinh tế trong nước đạt 461,6 triệu USD, tăng 18,71%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 1.346,6 triệu USD, tăng 26,32%.
Một số mặt hàng xuất khẩu trong 3 tháng năm 2018 có kim ngạch tăng cao so với cùng kỳ năm trước: sản phẩm Plastic đạt 107,8 triệu USD, tăng 19,12%; hàng dệt may đạt 91,2 triệu USD, tăng 20,44%; giày dép đạt 345,2 triệu USD, tăng 18,91%; hàng điện tử đạt 88,6 triệu USD, tăng 31,72%; dây điện và cáp điện đạt 152,4 triệu USD, tăng 25,93%....
12.2. Nhập khẩu hàng hóa    
Kim ngạch nhập khẩu tháng 3/2018 ước đạt 617,8 triệu USD, tăng 5,76% so với tháng trước, trong đó: khu vực kinh tế trong nước đạt 155 triệu USD, tăng 3,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 462,8 triệu USD, tăng 6,47%.
So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng 3 năm 2018 tăng 18,2%, trong đó: khu vực kinh tế trong nước tăng 13,97%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 19,69%.
Tính chung 3 tháng năm 2018, kim ngạch nhập khẩu ước đạt 1.800,6 triệu USD, tăng 23,88% so với cùng kỳ năm 2017, trong đó: khu vực kinh tế trong nước đạt 470,2 triệu USD, tăng 16,18%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 1.330,4 triệu USD, tăng 26,85%.
Một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu trong 3 tháng năm 2018 tăng cao hơn so với cùng kỳ: Hóa chất đạt 20,2 triệu USD, tăng 20,91%; phụ liệu hàng may mặc đạt 48,1 triệu USD, tăng 23,03%; phụ liệu giày dép đạt 228,9 triệu USD, tăng 20,27%; vải may mặc đạt 25,3 triệu USD, tăng 10,53%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 254,5 triệu USD, tăng 22,83%.
II. VĂN HÓA - XÃ HỘI
1. Lao động - thương binh, xã hội

* Công tác Lao động, việc làm
Quý I, ước giải quyết được 13.600 lượt lao động, bằng 24,95% kế hoạch năm và bằng 98,55% so với cùng kỳ năm 2017 (số lao động giải quyết việc làm giảm so với cùng kỳ năm 2017 do giải quyết việc làm ngành nông, lâm, ngư nghiệp giảm 2,94% và xuất khẩu lao động cũng giảm 29,08% so với cùng kỳ năm 2017. Tuy nhiên, lao động được giải quyết việc làm trong ngành công nghiệp và xây dựng tăng 1,11% và trong ngành dịch vụ tăng 0,31% so với cùng kỳ năm 2017).
Xảy ra 02 cuộc đình công với 1.807 lao động tham gia (giảm 01 cuộc và tăng 357 lao động so với cùng kỳ năm 2017). Xảy ra 04 vụ tai nạn làm chết 04 người, bằng cùng kỳ năm 2017.
* Công tác dạy nghề
Tổng số cơ sở giáo dục nghề nghiệp và có hoạt động giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tại thời điểm báo cáo là 69 đơn vị. Trong quý I/2018 tuyển sinh trên toàn thành phố ước đạt 10.500 học sinh, sinh viên, đạt 20,6% kế hoạch năm và bằng 105% so với cùng kỳ năm 2017.
Tỷ lệ lao động qua đào tạo ước đạt 78,7%, trong đó tỷ lệ lao động qua đào tạo có chứng chỉ từ 3 tháng trở lên đạt 31%.
* Công tác người có công
Tháng 3 năm 2018, giải quyết chế độ chính sách đối với 59 trường hợp, trong đó: chế độ mai táng phí đối với 36 người; trợ cấp hàng tháng: 03 người; xác nhận miễn giảm tiền sử dụng đất theo Quyết định 118/QĐ-TTg: 03 trường hợp; trợ cấp 1 lần đối với người HĐKC được tặng thưởng huân huy chương kháng chiến: 01 người; trợ cấp 1 lần đối với thân nhân Bà mẹ được truy tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”: 11 người; 05 trường hợp được tặng bằng khen theo Quyết định 24/QĐ-TTg. Công nhận 7 người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học; đề nghị phong tặng, truy tặng danh hiệu vinh dự nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” 02 mẹ (01 phong tặng, 01 truy tặng).
* Bảo trợ xã hội
Tháng 3/2018, tiếp nhận 07 đối tượng vào các Trung tâm bảo trợ xã hội, tập trung được 58 lượt người lang thang. Triển khai Kế hoạch tổ chức hoạt động nhân Ngày Công tác xã hội Việt Nam năm 2018; Kế hoạch phát triển nghề công tác xã hội năm 2018.
Trong 3 tháng đầu năm 2018, thăm tặng quà tết Mậu Tuất năm 2018 cho người nghèo và đối tượng bảo trợ xã hội với tổng kinh phí 21.618,7 triệu đồng, bằng 84,4% so với tết Nguyên đán Đinh Dậu năm 2017.
2. Giáo dục - Đào tạo
Trong dịp tết Nguyên đán đón xuân Mậu Tuất năm 2018, các đơn vị, trường học trên địa bàn thành phố đón Tết đảm bảo an toàn, trang trọng và tiết kiệm, trong và sau Tết không có gì bất thường xảy ra. Kết thúc kỳ nghỉ, các đơn vị, trường học chấp hành nghiêm túc ngay từ buổi học, tiết học đầu tiên của năm mới, số học sinh vắng mặt sau Tết thấp. Đến nay các trường đã hoàn thành xong kế hoạch học kỳ I và tập trung chỉ đạo triển khai kế hoạch công tác của học kỳ II năm học 2017-2018.
3. Y tế và An toàn vệ sinh thực phẩm
* Công tác y tế dự phòng
Ngành Y tế tăng cường chỉ đạo các đơn vị y tế trong và ngoài công lập trên địa bàn thành phố chủ động, tăng cường công tác phòng chống dịch bệnh, chuẩn bị đầy đủ cơ số thuốc, hóa chất, phương tiện cho công tác phòng, chống dịch để sẵn sàng bao vây, khống chế ổ dịch. Tăng cường giám sát chủ động tại các cơ sở y tế. Trung tâm Y tế dự phòng giám sát thường xuyên tại các bệnh viện tuyến thành phố và bệnh viện tư nhân. Trong quý I/2018 đã điều tra giám sát được 02 trường hợp viêm đường hô hấp cấp tính nặng do vi rút điều trị tại bệnh viện Việt Tiệp và bệnh viện Green.
Theo báo cáo của Sở Y tế, tính đến cuối tháng 2, toàn thành phố có 179 ca mắc bệnh tay chân miệng (giảm 20 ca so với cùng kỳ năm trước); bệnh sốt xuất huyết 02 ca (giảm 6 ca so với cùng kỳ); số ca mắc bệnh thủy đậu là 162 ca; 849 ca mắc cúm. Các bệnh nhân đều được phát hiện sớm, điều trị kịp thời, không có trường hợp tử vong; không có phát sinh xuất hiện các dịch bệnh truyền nhiễm gây dịch nguy hiểm trên địa bàn thành phố.
* Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm
Trong quý I/2018 các Đoàn kiểm tra an toàn thực phẩm đã tiến hành kiểm tra 1.195 cơ sở, số cơ sở đạt là 935 cơ sở (đạt 78,2%). Tiến hành kiểm tra 291 cơ sở sản xuất, chế biến (bao gồm cả các cơ sở sản xuất ban đầu) với tỷ lệ đạt là 82,4%; 668 cơ sở kinh doanh với tỷ lệ đạt 78,7%; 236 cơ sở dịch vụ ăn uống (chủ yếu do tuyến xã, phường triển khai) với tỷ lệ đạt 71,6%.
Dự án Methadone: tính đến ngày 28/2/2018, số trường hợp nhiễm HIV còn sống tại Hải Phòng là 7.605 người, số bệnh nhân AIDS hiện tại là 6.252 người, số người nhiễm HIV tử vong là 4.512 người.
4. Văn hóa - Thể thao
Công tác văn hóa: tổ chức thành công nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ chào mừng kỷ niệm các sự kiện, các ngày tết, ngày lễ lớn trong 3 tháng đầu năm 2018, thu hút sự tham gia, hưởng ứng của đông đảo nhân dân thành phố và du khách tham quan tạo không khí vui tươi, phấn khởi... Các địa phương tổ chức khá tốt các hoạt động lễ hội, quản lý di tích, phục vụ nhân dân du xuân, vãn cảnh, dâng hương trong dịp tết, giữ gìn an ninh trật tự, bảo vệ môi trường cảnh quan...các hoạt động lễ hội diễn ra tuyệt đối an toàn.
Công tác thể thao: tổ chức giải việt dã và ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân thành phố Hải Phòng năm 2018 tại  quảng trường nhà hát và khu vực giải trung tâm thành phố; giải vật tự do trong chương trình Đại hội Thể dục thể thao thành phố lần thứ VIII; tiếp tục chỉ đạo tập trung xây dựng lực lượng vận động viên và hoàn thiện đề án Đoàn vận động viên tham dự Đại hội Thể dục thể toàn quốc lần thứ VIII và đề án Phát triển bóng đá Hải Phòng đến năm 2020, định hướng đến năm 2030.
5. Tình hình trật tự an toàn giao thông
Từ ngày 16/2 đến ngày 15/3/2018 trên địa bàn thành phố đã xảy ra 06 vụ tai nạn giao thông đường bộ, các vụ tai nạn giao thông đã làm chết 04 người và 05 người bị thương. Trong những ngày tết Nguyên đán đã xảy ra 02 vụ tai nạn giao thông đường bộ làm chết 01 người và làm bị thương 04 người (sốvụ tai nạn bằng cùng kỳ năm trước, nhưng số người chết giảm 03 người, tăng 03 người bị thương).
Lũy kế 3 tháng đầu năm 2018 toàn thành đã xảy ra 17 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm 16 người chết, bị thương 05 người, nguyên nhân chủ yếu là do người dân chưa chấp hành đúng luật khi tham gia giao thông (so với cùng kỳ năm trước số vụ tai nạn giảm 03 vụ, số người chết giảm 07 người, số bị thương giảm 04 người), không có vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng xảy ra.
6. Công tác phòng chống cháy, nổ
Từ ngày 13/2 đến ngày 15/3/2018 trên địa bàn thành phố xảy ra 11 vụ cháy, không thiệt hại về người, làm bị thương 03 người; tài sản thiệt hại ước tính khoảng 31,5 triệu đồng và 2,7 ha thảm thực bì. Trong 3 tháng đầu năm 2018 đã có 33 vụ cháy, ước giá trị thiệt hại 606,5 triệu đồng và cháy 3,8 ha thảm thực bì rừng, làm 03 người bị thương nhẹ, các vụ cháy chủ yếu xảy ra ở hộ dân cư, nguyên nhân do sự bất cẩn của người dân (số vụ cháy tăng 11 vụ, số người bị thương tăng 01 người, giá trị thiệt hại giảm 1.229,5 triệu đồng, giảm 5,4 ha thảm thực bì rừng so với cùng kỳ năm trước) và không xảy ra vụ nổ nào trong 3 tháng đầu năm 2018.
Khái quát lại, kinh tế - xã hội thành phố quý I/2018 có nhiều chuyển biến theo hướng tích cực, tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) ước đạt 15,01%, cao hơn mức tăng 12,7% của cùng kỳ năm 2017; hầu hết các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu của thành phố đạt mức tăng cao so với cùng kỳ; tình hình chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được vẫn còn một số hạn chế như: giải phóng mặt bằng tại một số dự án hạ tầng kỹ thuật của thành phố chưa đảm bảo tiến độ; xuất hiện một số dịch bệnh trong sản xuất nông nghiệp như cúm gia cầm, lùn sọc đen…
Để tiếp nối đà tăng trưởng cao của quý I/2018, nhằm thực hiện thắng lợi kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2018, quý II/2018 và các quý tiếp theo các cấp, ngành, địa phương, đơn vị cần tiếp tục tập trung cao công tác chỉ đạo, điều hành, nghiêm túc quán triệt, thực hiện các văn bản chỉ đạo của Thành ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân thành phố, trong đó tập trung vào các nhiệm vụ, giải pháp sau:
    Một là, đẩy mạnh cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư, hỗ trợ phát triển doanh nghiệp, tích cực tăng thu ngân sách.
    Hai là, tháo gỡ vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án trên địa bàn thành phố.
    Ba là, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, chủ động phòng chống thiên tai, dịch bệnh.
    Bốn là, tiếp tục chăm lo đến công tác an sinh, phúc lợi xã hội, ổn định chính trị, đảm bảo trật tự, trị an./.

Downlaod file số liệu tình kinh tế xã hội tháng 3/2018 - Tải về

Tác giả bài viết: Cục Thống kê Hải Phòng

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Xếp hạng: 0 - 0 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây