Tình hình kinh tế - xã hội thành phố Hải Phòng tháng 2/2019

Thứ năm - 28/02/2019 09:22
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 02 năm 2019 ước đạt 10.175,66 tỷ đồng, giảm 5,83% so với tháng trước và tăng 11,64% so với cùng kỳ năm trước
BÁO CÁO
TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI THÁNG 02, 02 THÁNG NĂM 2019 THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ
1.    Sản xuất công nghiệp

Chỉ số phát triển sản xuất (PTSX) công nghiệp (IIP) tháng 02/2019 ước giảm 17,59% so với tháng trước và tăng 23,42% so với cùng kỳ năm 2018, dự tính 02 tháng đầu năm 2019 tăng 23,72% so với cùng kỳ, trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 28,78%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 9,82%; ngành khai khoáng tăng 25,80% và ngành sản xuất và phân phối điện giảm 17,51%.

Chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp (IIP)

 

Ước tính tháng 02/2019 so với tháng trước (%)

Ước tính tháng 02/2019 so với cùng kỳ (%)

Cộng dồn 02 tháng 2019 so với cùng kỳ (%)

Toàn ngành công nghiệp

82,41

 123,42

123,72

Khai khoáng

73,96

131,45

125,80

Công nghiệp chế biến, chế tạo

81,65

 128,26

128,78

Sản xuất và phân phối điện

93,08

   85,41

   82,49

Cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải

 84,69

 108,27

 109,82


Trong 51 nhóm ngành kinh tế cấp 4 có 33 ngành có chỉ số PTSX công nghiệp 02 tháng đầu năm 2019 tăng so với cùng kỳ, trong đó: ngành sản xuất mô tơ, máy phát điện có mức tăng cao nhất, tăng 142,28%; tiếp theo là ngành sản xuất thiết bị truyền thông tăng 124,92%; ngành tái chế phế liệu đứng thứ 3 với mức tăng 84,26%; ngành sản xuất trang phục, sản xuất plastic lần lượt có mức tăng 12,85% và 12,07%;...
Có 18 ngành có chỉ số PTSX giảm, trong đó: sản xuất đồ chơi tiếp tục giảm 97,62%; dịch vụ in giảm 60,06%; sản xuất bia giảm 24,07%; sản xuất truyền tải và phân phối điện giảm 17,51%;...
Ngay sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán Kỷ Hợi, nhiều doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn thành phố đã khẩn trương bắt tay vào sản xuất, các doanh nghiệp chủ động giao kế hoạch sản xuất cho từng bộ phận tránh tâm lý làm việc uể oải, cầm chừng sau kỳ nghỉ Tết dài.
Trong hai tháng đầu tiên của năm 2019, các ngành sản xuất thiết bị truyền thông, sản xuất mô tơ máy phát điện là những ngành dẫn đầu nhóm ngành có tốc độ tăng cao.
Chi nhánh Cty TNHH GE Hải Phòng chuyên sản xuất các dòng sản phẩm chủ đạo là máy phát điện cho tuabin gió và các linh kiện hệ thống điều khiển điện, sau nhiều tháng sụt giảm do thiếu đơn hàng nay đã có sự tăng trưởng trở lại, 02 tháng/2019 tăng 142,28% so cùng kỳ do nhà máy được Tập đoàn giao thực hiện các đơn hàng từ nhà máy ở Trung Quốc và nhu cầu về năng lượng tái tạo đang ngày càng gia tăng trên toàn cầu.
Sản xuất thiết bị truyền thông tiếp tục có tốc độ tăng cao so cùng kỳ, tăng 124,92%, đây là tốc độ tăng cao nhất trong vòng 3 năm trở lại đây với sự đóng góp chủ yếu của 03 dự án công nghệ cao thuộc tập đoàn LG Hải Phòng. Mặc dù tháng 02/2019 các doanh nghiệp sản xuất ít ngày nhưng sản lượng màn hình ti vi, màn hình điện thoại của công ty TNHH LG Display Hải Phòng và công ty TNHH LG Electronics đạt khá cao và tăng so với cùng kỳ; công ty LG Innotek 02 tháng đầu năm 2019 có sản lượng và doanh thu thấp nhất kể từ tháng 8/2018 do đối tác duy nhất mà doanh nghiệp cung cấp sản phẩm là hãng Apple năm 2019 giảm sản lượng sản xuất do tác động tiêu cực từ cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung.
Trong 02 tháng đầu năm 2019, ngành sản xuất bê tông tươi của thành phố tăng 32,36% so với cùng kỳ, trong đó chủ yếu là đóng góp của công ty TNHH bê tông và xây dựng Minh Đức, tăng 34,7% so với cùng kỳ. 
Sản xuất giày dép dự kiến 02 tháng đầu năm 2019 có mức tăng trưởng 19,1% so cùng kỳ, là mức tăng cao nhất trong vòng hai năm trở lại đây, là ngành có số lượng lao động lớn, các doanh nghiệp có chính sách khuyến khích lao động nên sau Tết công nhân nghỉ việc không nhiều, đồng thời dự phòng tuyển dụng thêm lao động để đảm bảo đủ lao động cho sản xuất. Các doanh nghiệp lớn như: Stateway, Aurora, Đỉnh Vàng, Sao Vàng... đều có giá trị sản xuất tăng cao so cùng kỳ. Việc Trung Quốc tiếp tục chủ trương giảm ưu đãi đầu tư trong các lĩnh vực dệt may, da giày để tập trung sản xuất công nghệ cao đã đẩy các đơn hàng gia công giầy dép, túi xách chuyển dịch từ Trung Quốc sang Việt Nam. Mặt khác, cuộc chiến tranh thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc cũng tạo cơ hội thúc đẩy đầu tư của doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực da giày tăng lên trong năm 2019. Đây là những điều kiện rất thuận lợi cho sản xuất giày dép trên địa bàn tăng trưởng trong năm 2019, tiếp tục đóng góp cho ngân sách, tạo việc làm, tăng kim ngạch xuất khẩu cho thành phố.
Bên cạnh các dự án FDI công nghiệp đi vào sản xuất từ những năm trước như: Kyocera, Fuji Xerox, Robotech tăng công suất, đầu tư mở rộng…, các doanh nghiệp công nghiệp truyền thống trong nước như sản xuất plastic, sản xuất thuốc... đều có những tín hiệu tốt ngay từ 02 tháng đầu năm 2019, đóng góp tích cực cho tăng trưởng công nghiệp thành phố. Các doanh nghiệp này dự tính sản xuất đều tăng so cùng kỳ như sản xuất máy văn phòng tăng 26,15%; sản xuất dây và cáp điện tăng 38,92%; sản xuất plastic tăng 12,07%;...
Tuy nhiên, tháng 02 và 02 tháng đầu năm 2019 một số ngành sản xuất lớn của thành phố vẫn giảm so cùng kỳ:
Sản xuất xi măng dự kiến tiếp tục khó khăn, 02 tháng đầu năm 2019 sản xuất ước giảm 5,37% so với cùng kỳ. Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt, thị trường nội địa cung vượt quá cầu. Tháng 02/2019, với đặc thù của ngành xi măng, các doanh nghiệp vẫn chạy lò liên tục trong dịp Tết, nhu cầu tiêu thụ xi măng giảm nên các doanh nghiệp lên kế hoạch bảo dưỡng sửa chữa thiết bị.
Tiếp nối khó khăn từ năm 2018, sản xuất sắt thép 02 tháng đầu năm 2019 dự kiến giảm 2,13% so cùng kỳ do cung đang vượt cầu, cạnh tranh gay gắt ngay tại thị trường nội địa, giá thép biến động, phôi nguyên liệu khan hiếm đẩy giá thành sản xuất tăng cao ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.
Ngành sản xuất và phân phối điện ước 02 tháng đầu năm 2019 giảm 17,51% so với cùng kỳ. 02 tháng/2019 khối lượng điện sản xuất của công ty cổ phần Nhiệt điện Hải Phòng chỉ bằng 78,8% so với cùng kỳ do trong tháng 01 có 2 tổ máy đươc đưa vào sửa chữa luân phiên, mỗi tổ 10 ngày, bên cạnh đó do lượng nguyên liệu sản xuất đầu vào là than không dự trữ được nhiều nên khối lượng huy động sản xuất chỉ đạt ở mức thấp.
Sản xuất bia 02 tháng đầu năm 2019 chỉ đạt 75,93% so với cùng kỳ do công ty cổ phần bia Hà Nội - Hải Phòng sản lượng sản xuất giảm mạnh, bằng 24% so với cùng kỳ do không nhận được hợp đồng gia công bia chai cho Tổng công ty, công nhân phải đi làm luân phiên, một số được sắp xếp sang vị trí khác; công ty cổ phần Habeco Hải Phòng trong tháng 01/2019 bị hỏng máy triết lon 4 ngày nên sản lượng bia lon 02 tháng/2019 bằng 83,8% so với cùng kỳ.
Ngoài ra, một số ngành sản xuất giảm như sản xuất đồ chơi do công ty TNHH Thanh Sang chuyển toàn bộ dây chuyền sản xuất sang Hải Dương, công ty TNHH Vĩnh Chân sau chia tách cũng có kế hoạch chuyển địa điểm sản xuất, hiện doanh nghiệp chỉ sản xuất hết đơn hàng cũ, sản lượng thấp...
* Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tháng 02/2019 giảm 21,2% so với tháng trước và tăng 1,7% so với cùng kỳ năm trước, cộng dồn 02 tháng năm 2019 chỉ số tiêu thụ tăng 5,8%, trong đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao so cùng kỳ: sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm, thủy sản tăng 47,9%; sản xuất bánh bi, bánh răng, hộp số tăng 31,4%; sản xuất bê tông và các sản phẩm từ xi măng tăng 33,3%; sản xuất giày dép tăng 18,1%; sản xuất plastic và cao su tổng hợp tăng 18,1%; sản xuất đồ điện dân dụng tăng 62%...
Một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm so cùng kỳ: sản xuất thiết bị truyền thông giảm 43,8%; sản xuất bia giảm 35,3%; sản xuất xi măng giảm 2,9%...
* Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 28/02/2019 ước tăng 4,4% so với tháng trước và tăng 7,2% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao so cùng kỳ: sản xuất sắt, thép, gang tăng 89%; sản xuất sản phẩm từ plastic tăng 57,2%; sản xuất cấu kiện kim loại tăng 11,6%; sản xuất dây cáp, dây điện tăng 144%; sản xuất các sản phẩm từ cao su tăng 91,6%; sản xuất giày, dép tăng 11,4%.
Một số ngành có chỉ số tồn kho so với cùng kỳ giảm như: sản xuất săm lốp cao su giảm 89%; sản xuất máy móc và thiết bị văn phòng giảm 36,7%; sản xuất thiết bị truyền thông giảm 57,6%; sản xuất may trang phục giảm 51,3%; sản xuất sản phẩm điện tử dân dụng giảm 24,8%. 
* Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp ước tại thời điểm 28/02/2019 dự kiến tăng 0,4% so với tháng trước và tăng 11,5% so với cùng kỳ, trong đó lao động khu vực doanh nghiệp nhà nước giảm 6,7%; lao động doanh nghiệp ngoài nhà nước tăng 9,5%; lao động doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 15%. 
Chia theo ngành cấp I: ngành khai khoáng giảm 8,7%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,1%; ngành sản xuất và phân phối điện giảm 4,6%; ngành cung cấp nước, quản lý, xử lý rác thải, nước thải giảm 0,7%. 
Trong 51 ngành cấp 4, một số ngành chỉ số sử dụng lao động tăng cao: sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính tăng 1,9 lần; sản xuất trang phục tăng 26,9%; sản xuất thiết bị điện tăng 15,9%.
Một số ngành có chỉ số sử dụng lao động giảm như: sản xuất xe có động cơ giảm 1,8%; sản xuất đồ uống giảm 13,1%; sản xuất kim loại giảm 3,5%.
* Một số sản phẩm công nghiệp ước 02 tháng năm 2019 so cùng kỳ: quần áo các loại đạt 17,5 triệu cái tăng 8,2%; phân khoáng hoặc phân hóa học đạt 40,2 nghìn tấn tăng 9,5%; màn hình khác đạt 1.642 nghìn cái tăng 24,7%; máy giặt loại khác đạt 284,8 nghìn cái tăng 65,6%; lốp hơi mới bằng cao su đạt 396,2 nghìn cái giảm 0,04%; gang thỏi, thép, thanh que sắt các loại đạt 202,1 nghìn tấn tăng 1,6%; xi măng Portland đen đạt 526,1 nghìn tấn giảm 5,4%; điện sản xuất đạt 929,3 triệu Kwh giảm 21,2 %.
2. Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản
2.1. Nông nghiệp

* Trồng trọt
Sản xuất vụ Đông 2018-2019
Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ Đông toàn thành phố ước đạt 7.449,2 ha, bằng 97,03% so với vụ Đông năm trước, trong đó nhóm cây rau các loại đạt 6.020,6 ha, bằng 97,21% so với vụ Đông năm trước. Thời tiết vụ Đông năm nay ấm không có nhiều đợt rét đậm, rét hại kéo dài, thuận lợi cho quá trình sinh trưởng và phát triển của cây trồng. Năng suất cây trồng giữ được mức ổn định và có xu hướng tăng so với cùng kỳ năm trước, năng suất bình quân rau vụ Đông các loại ước đạt 228,8 tạ/ha, tăng 0,51% so với vụ Đông năm trước, trong đó: nhóm cây rau lấy lá đạt 233,8 tạ/ha, tăng 1,1 tạ/ha; nhóm cây rau lấy quả đạt 276,7 tạ/ha, tăng 1 tạ/ha; nhóm cây rau lấy củ đạt 204,2 tạ/ha, tăng 0,6 tạ/ha; nhóm cây rau các loại khác đạt 208,4 tạ/ha, tăng 2 tạ/ha... Tổng sản lượng cây rau các loại ước đạt 137,7 nghìn tấn, trong đó một số cây trồng có sự biến động lớn về sản lượng do biến động diện tích gieo trồng như: sản lượng rau muống ước 8,5 nghìn tấn, tăng 1,1 nghìn tấn; sản lượng dưa chuột ước 6,5 nghìn tấn, tăng 436,8 tấn; sản lượng đậu quả các loại ước 3,1 nghìn tấn, tăng 514,8 tấn.
Sản xuất vụ Xuân 2019
Tính đến ngày 15 tháng 02 năm 2019, diện tích cây vụ Xuân đã gieo trồng ước đạt 22.000 ha, bằng 52,73% so với vụ Xuân năm trước, trong đó: diện tích lúa đã cấy đạt 17.110 ha, bằng 50,6% kế hoạch và bằng 49,93% so với vụ Xuân năm trước; cây thuốc lào đạt 2.090 ha, bằng 98,91%, cây khoai lang đạt 160 ha, bằng 76,45%, cây rau các loại đạt 1.915 ha, bằng 53,26%.
 Cây trồng vụ Xuân sinh trưởng phát triển thuận lợi, các đối tượng sinh vật gây hại ở mức độ thấp. Trong thời gian tới cần tập trung đẩy mạnh sản xuất rau màu vụ Xuân đúng kế hoạch đề ra; tiếp tục công tác phòng chống các đối tượng dịch hại nhất là rầy lưng trắng (môi giới truyền bệnh lùn sọc đen), diệt chuột để bảo vệ sản xuất. 
* Chăn nuôi
Ước tính tháng 02 năm 2019, số lượng đầu con gia súc, gia cầm toàn thành phố hiện có như sau: đàn trâu đạt 5.040 con, bằng 98,23% so với cùng kỳ năm trước; đàn bò đạt 12.743 con, bằng 97,66% so với cùng kỳ năm trước; đàn lợn đạt 412.058 con, bằng 96,43% so với cùng kỳ năm trước; đàn gia cầm giảm nhẹ so với tháng trước do phục vụ thị trường Tết Nguyên đán, đàn gia cầm đạt 7.496,9 nghìn con, tăng 2,7%, trong đó đàn gà đạt 5.936,1 nghìn con, tăng 3,03% so với cùng kỳ năm trước.
Thời tiết tháng 02/2019 thuận lợi cho đàn vật nuôi phát triển. Giá con giống, thức ăn chăn nuôi giữ ở mức ổn định so tháng trước; giá sản phẩm chăn nuôi đầu ra tăng do nhu cầu tiêu dùng trong dịp Tết Nguyên đán.
Tình hình dịch bệnh:  Công tác kiểm tra, giám sát dịch bệnh đàn gia súc, gia cầm, cũng như khâu kiểm tra, kiểm dịch việc vận chuyển giết mổ động vật đảm bảo an toàn vệ sinh thú y và vệ sinh an toàn thực phẩm trong Tết Nguyên đán 2019 tại các địa phương trên địa bàn thành phố duy trì chặt chẽ. Tuy nhiên, ngày 22/2/2019 cơ quan chức năng đã phát hiện đàn lợn nhiễm dịch tả Châu Phi trên địa bàn xã Chính Mỹ, huyện Thủy Nguyên với 38 con đã bị tiêu hủy; cơ quan chức năng cũng đã tiến hành phun thuốc tiêu độc khử trùng khu vực có dịch và những hộ chăn nuôi lân cận, đồng thời thực hiện giám sát chặt chẽ dịch bệnh, không cho vận chuyển lợn khu vực dịch ra bên ngoài và lợn nơi khác về khu vực có dịch
 2.2. Lâm nghiệp
Ước tháng 02 năm 2019, sản lượng gỗ khai thác đạt 180 m3, bằng 94,7% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng củi khai thác đạt 4.002 ste, bằng 97,3% so với cùng kỳ năm trước. Ước 02 tháng/2019, sản lượng gỗ khai thác đạt 375 m3, bằng 96,2% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng củi khai thác đạt 9.002 ste, bằng 96,7% so với cùng kỳ năm trước.
Nhân dịp đầu xuân Kỷ Hợi thành phố phát động Tết trồng cây, ước tính số cây lâm nghiệp trồng phân tán trong tháng 02/2019 đạt 29,5 nghìn cây, bằng 98,3% so với cùng kỳ năm trước.
Trong tháng 02/2019, do thời tiết nắng, nóng nên trên địa bàn thành phố xảy ra 01 vụ cháy rừng tại núi Mã Tràng, huyện Thủy Nguyên với diện tích thiệt hại khoảng 0,85 ha, chủ yếu là thảm thực bì.  
2.3. Thủy sản
Sản lượng nuôi trồng và khai thác thủy sản tháng 02/2019 ước đạt 13.796,4 tấn, bằng 102,57% so với cùng kỳ năm trước; ước tính 02 tháng/2019 đạt 26.684,5 tấn, bằng 102,31% so với cùng kỳ năm trước.
        * Nuôi trồng
Diện tích nuôi trồng thủy sản 02 tháng/2019 ước đạt 8.995,1 ha, bằng 101,32% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: cá các loại đạt 5.480,8 ha, bằng 102,45%; tôm các loại đạt 2.251,4 ha, bằng 100,04%; thủy sản khác đạt 1.262,9 ha, bằng 98,85%. 
Sản lượng nuôi trồng thủy sản thu hoạch tháng 02/2019 ước đạt 6.534,3 tấn, bằng 106,27% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: cá các loại đạt 4.208,9 tấn, bằng 109,01%; tôm các loại đạt 527,2 tấn, bằng 96,79%; thủy sản khác 1.798,2 tấn, bằng 103,17%. Ước 02 tháng/2019, sản lượng nuôi trồng thủy sản đạt 12.432,3 tấn, bằng 104,12% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: cá các loại đạt 8.073,6 tấn, bằng 105,28%; tôm các loại đạt 1.018,2 tấn, bằng 94,84%; thủy sản khác đạt 3.340,5 tấn, bằng 104,45%. Sản lượng nuôi thủy sản tăng khá do năng suất bình quân chung của mô hình nuôi bán thâm canh khu vực nước ngọt, nước lợ đều tăng và tăng chủ yếu là do sản lượng cá.
Các trại, cơ sở... sản xuất giống thủy sản vẫn duy trì sản xuất trong dịp Tết, sản lượng sản phẩm con giống của toàn thành trong tháng vẫn tăng trưởng ổn định. Sản lượng giống các loại 02 tháng/2019 ước đạt 188 triệu con, bằng 100,54% so với cùng kỳ năm trước. 
* Khai thác 
Sản lượng khai thác thủy sản tháng 02/2019 ước đạt 7.262,1 tấn, bằng 99,44% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: cá các loại đạt 3.950,4 tấn, bằng 101,59%; tôm các loại đạt 620,1 tấn, bằng 96,40%; thủy sản khác 2.691,6 tấn, bằng 97,14%. Ước 02 tháng/2019, sản lượng khai thác thủy sản đạt 14.252,2 tấn, bằng 100,79% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: cá các loại đạt 7.804,5 tấn, bằng 102,92%; tôm các loại đạt 1.270 tấn, bằng 96,96%; thủy sản khác đạt 5.177,7 tấn, bằng 98,66%.
Vụ cá Bắc đang chịu ảnh hưởng của thời tiết, biển động, hầu hết tàu cá nghỉ hoạt động để đón tết, chỉ có một số tàu cá công suất nhỏ hoạt động ở khu vực bãi ngang, vùng biển ven bờ để lấy ngày, không có tàu cá khai thác khơi hoạt động xuyên Tết nên ảnh hưởng đến sản lượng trong tháng. Sau thời gian nghỉ Tết, với điều kiện thời tiết thuận lợi đã có hàng trăm tàu cá khai thác ven bờ của ngư dân các địa phương Đồ Sơn, Cát Hải, Thủy Nguyên mở biển, đi khai thác cho sản lượng khá cao, các tàu cá khai thác xa bờ hoạt động nghề lưới rê khơi, nghề chụp mực đồng loạt mở biển thời điểm xuất hiện con nước và kết thúc tuần trăng. 
3. Đầu tư 
Dự tính vốn đầu tư thực hiện tháng 02/2019 là 231,6 tỷ đồng, giảm 7,8% so cùng kỳ; cộng dồn 02 tháng đầu năm 2019 vốn đầu tư thực hiện ước đạt 752,1 tỷ đồng, tăng 3,71% so cùng kỳ. Chia ra:
- Vốn ngân sách nhà nước cấp thành phố ước 654,7 tỷ đồng, tăng so với cùng kỳ 1,99%;
- Vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước 69,4 tỷ đồng, tăng so cùng kỳ 19,19%;
- Vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước 28 tỷ đồng, tăng so với cùng kỳ 11,76%.
Tình hình thực hiện đầu tư nguồn vốn ngân sách do thành phố quản lý tháng 02/2019 có dấu hiệu đảo chiều so với các tháng trước, dự kiến giảm 7,8% so với cùng kỳ, do nguồn vốn trung ương hỗ trợ theo mục tiêu và nguồn vốn nước ngoài ODA giảm sâu kéo vốn đầu tư thực hiện của nguồn ngân sách nhà nước cấp tỉnh giảm 8,56% so với cùng kỳ. Tháng 02/2019 cũng là tháng có kỳ nghỉ Tết Nguyên đán, vốn đầu tư thực hiện chỉ tập trung ở một số công trình chuyển tiếp trọng điểm của thành phố. 
Năm 2019 kế hoạch đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước sẽ giảm so với năm 2018 trong đó nguồn vốn trung ương hỗ trợ có mục tiêu kế hoạch năm 2019 đợt 1 được giao là 39,1 tỷ đồng; nguồn vốn nước ngoài ODA là 202,4 tỷ đồng, chưa kể nguồn vốn thành phố vay lại ODA là 68,7 tỷ đồng. Quyết định phân bổ vốn ngân sách trung ương cho các dự án chưa có, nên phát sinh trong tháng chủ yếu của một số dự án chuyển tiếp như: Dự án thoát nước mưa, nước thải và quản lý chất thải rắn thành phố Hải Phòng giai đoạn I; dự án giao thông đô thị thành phố Hải Phòng... Đây khả năng là xu hướng cho những năm tiếp theo, khi thành phố đang xây dựng một cơ chế linh hoạt và chủ động hiệu quả trong vấn đề đầu tư của thành phố.
Tình hình thực hiện một số dự án lớn đến thời điểm hiện nay: 
    - Dự án cầu Hoàng Văn Thụ đến thời điểm hiện tại thực hiện hơn 93% khối lượng công việc, tương đương 2.600 tỷ đồng. Do vướng mắc trong vấn đề giải phóng mặt bằng nên dự án phải lùi lại sang quý II/2019 mới xong hợp phần cầu. Đối với các gói thầu xây lắp công trình hạ tầng kỹ thuật khu đô thị Bắc sông Cấm, các nhà thầu đã tích cực huy động nhân lực, máy móc, thiết bị thi công cả ngày lẫn đêm đảm bảo tiến độ, dự kiến trong quý I/2019 sẽ hoàn thành.
- Dự án cải thiện điều kiện vệ sinh môi trường, sử dụng vốn ODA và vốn đối ứng: năm 2019 Ủy ban nhân dân thành phố giao kế hoạch vốn ngân sách thành phố cho dự án là 200 tỷ đồng, kế hoạch vốn ngân sách trung ương chưa có. Dự án này có nhiều gói thầu bị chậm tiến độ do vốn chưa được đáp ứng kịp thời.
- Dự án phát triển giao thông đô thị Hải Phòng với tổng mức đầu tư 5.342 tỷ đồng: các gói thầu cơ bản hoàn thành theo kế hoạch tuy nhiên do gặp vướng mắc trong công tác đền bù, giải phóng mặt bằng để thực hiện các gói thầu thuộc hợp phần xây lắp tuyến đường trục đô thị, làm ảnh hưởng chung đến toàn dự án. Hiện nay tỷ lệ bàn giao mặt bằng toàn dự án đạt khoảng 98%.
- Dự án đầu tư chỉnh trang lại sông Tam Bạc (đoạn từ cầu Lạc Long đến công viên Tam Bạc) với tổng mức đầu tư 1.454 tỷ đồng sau 8 tháng thi công cơ bản dự án đã hoàn thành vào dịp Tết Nguyên đán 2019.
- Dự án đầu tư xây dựng trục đường Hồ Sen - Cầu Rào 2, đoạn từ nút giao Nguyễn Văn Linh đến ngã 3 đường chợ Con hiện tại đang tiến hành xây dựng tại khu vực nút giao. Đến thời điểm hiện tại ước khối lượng thực hiện đạt khoảng 77% giá trị phần nút giao. Để dự án đảm bảo tiến độ trong thời gian tới công tác giải phóng mặt bằng và nguồn vốn cho dự án phải được đẩy mạnh. Dự kiến trong tháng 02/2019 sẽ hoàn thành xong phần cầu và thông xe cầu vượt, tháng 5/2019 sẽ xong phần nút giao khác.
- Dự án xây dựng nút giao thông Nam cầu Bính gồm nhiều hạng mục đầu tư như các đường trong nút giao với bề rộng nền từ 40-50 mét, các cầu nối, hầm chui, hệ thống thoát nước, cây xanh…với tổng mức đầu tư gần 1.500 tỷ đồng từ ngân sách thành phố và dự kiến sẽ hoàn thành sau 18 tháng thi công. Đến thời điểm 16/02/2019 dự án đã thực hiện được hơn 220 tỷ đồng, đạt 15% khối lượng công việc trong đó công tác giải phóng mặt bằng đạt 30%. 
* Tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngoài
Tính đến 15/02/2019 Hải Phòng có 633 dự án còn hiệu lực:
    Tổng vốn đầu tư      :   17.091,0 triệu USD
Vốn điều lệ             :     5.892,0 triệu USD
     Vốn Việt Nam góp :        243,2 triệu USD
Nước ngoài góp     :      5.648,8 triệu USD
Tính từ đầu năm đến 15/02/2019 toàn thành phố có 12 dự án cấp mới với tổng vốn đầu tư 167,18 triệu USD và 4 dự án điều chỉnh tăng vốn với số vốn tăng là 18,40 triệu USD. Các dự án mới và tăng vốn chủ yếu ở ngành công nghiệp chế biến, chế tạo. 
Đối với dự án cấp mới, đáng kể nhất là dự án chế tạo, nghiên cứu phát triển thiết bị đầu cuối mạng và thông tin của nhà đầu tư Singapore với số vốn đăng ký mới là 70 triệu USD và dự án JCV (sản xuất các sản phẩm làm đẹp cho con người như móng giả, mi giả…) của nhà đầu tư Hàn với với số vốn đăng ký mới là 40 triệu USD. 
Có 01 dự án thu hồi/chấm dứt hoạt động do hết thời hạn dự án.
Ước thực hiện vốn đầu tư đạt 40,8%.
4.    Tổng mức lưu chuyển hàng hóa và doanh thu dịch vụ
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 02 năm 2019 ước đạt 10.175,66 tỷ đồng, giảm 5,83% so với tháng trước và tăng 11,64% so với cùng kỳ năm trước. Cộng dồn 02 tháng đầu năm 2019, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 20.981,49 tỷ đồng, tăng 14,07% so với cùng kỳ năm trước.
* Chia theo khu vực kinh tế 
- Khu vực kinh tế nhà nước ước đạt 284,61 tỷ đồng, giảm 7,90% so với tháng trước, tăng 15,37% so với cùng kỳ năm trước; cộng dồn 02 tháng đầu năm 2019 ước đạt 593,64 tỷ đồng, tăng 12,12% so với cùng kỳ năm trước;
- Khu vực kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 9.407,07 tỷ đồng, giảm 5,82% so với tháng trước và tăng 11,57% so với cùng kỳ năm trước; cộng dồn 02 tháng đầu năm 2019 ước đạt 19.395 tỷ đồng, tăng 14,06% so với cùng kỳ năm trước;
- Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 483,98 tỷ đồng, giảm 4,89% so với tháng trước, tăng 10,87% so với cùng kỳ năm trước; cộng dồn 02 tháng đầu năm 2019 ước đạt 992,84 tỷ đồng, tăng 15,49% so với cùng kỳ năm trước.
* Chia theo ngành hoạt động
- Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 02 năm 2019 ước đạt 8.145,62 tỷ đồng, giảm 5,09% so với tháng trước, tăng 10,88% so với cùng kỳ năm trước; cộng dồn 02 tháng đầu năm ước đạt 16.728,04 tỷ đồng, tăng 14,05% so với cùng kỳ năm trước;
Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 02 năm 2019 ước giảm ở nhiều ngành hàng, cụ thể: hàng may mặc giảm 7,25%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình giảm 6,38%; gỗ và vật liệu xây dựng giảm 7,70%; ô tô các loại giảm 9,09%... do sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán nên nhu cầu mua sắm của người dân giảm.
Một số ngành hàng ước tính doanh thu trong tháng 02/2019 tăng là lương thực thực phẩm tăng 0,04%; nhiên liệu khác tăng 0,32% do giá gas trong đầu tháng 02 cũng được điều chỉnh tăng 12.000 đồng/bình 12 kg do ảnh hưởng của giá gas thế giới tăng; đá quý, kim loại quý tăng 4,49% do trong tháng 02 có ngày vía Thần tài nên nhu cầu mua vàng của người dân tăng cao.
Cộng dồn 02 tháng đầu năm 2019, tổng mức bán lẻ hàng hóa tăng 14,05% so với cùng kỳ, trong đó một số nhóm ngành hàng có mức tăng trưởng cao như: lương thực, thực phẩm tăng 14,01%; hàng may mặc tăng 13,43%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 10,06%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 12,18%; phương tiện đi lại tăng 9,65%; xăng dầu tăng 12,18%; nhiên liệu khác tăng 14,18%;...
- Doanh thu dịch vụ lưu trú tháng 02 năm 2019 ước đạt 102,6 tỷ đồng, giảm 8,8% so với tháng trước và tăng 10,77% so với cùng kỳ năm trước; cộng dồn 02 tháng đầu năm ước đạt 215,2 tỷ đồng, tăng 10,63% so với cùng kỳ.
- Doanh thu dịch vụ ăn uống tháng 02 năm 2019 ước đạt 1.092,5 tỷ đồng, giảm 10,76% so với tháng trước và tăng 14,75% so với cùng kỳ năm trước; cộng dồn 02 tháng đầu năm ước đạt 2.316,7 tỷ đồng, tăng 14,41% so với cùng kỳ
- Doanh thu du lịch lữ hành tháng 02 năm 2019 ước đạt 14,7 tỷ đồng, tăng 2,25% so với tháng trước và tăng 2,51% so với cùng kỳ năm trước; cộng dồn 02 tháng đầu năm ước đạt 29,1 tỷ đồng, tăng 1,26% so với cùng kỳ.
Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống giảm do kỳ nghỉ Tết Nguyên đán nằm trọn trong tháng 02 nên nhu cầu giảm. Bên cạnh đó, xu hướng các năm gần đây người dân đi du lịch nhiều trong dịp Tết nên doanh thu lữ hành tăng.
- Doanh thu dịch vụ khác tháng 02 năm 2019 ước đạt 820,16 tỷ đồng, giảm 5,97% so với tháng trước, tăng 15,62% so với cùng kỳ năm trước; cộng dồn 02 tháng đầu năm ước đạt 1.692,41 tỷ đồng, tăng 14,48% so với cùng kỳ năm trước;
Sau Tết Nguyên đán nhu cầu một số dịch vụ giảm hơn so với tháng trước như: dịch vụ kinh doanh bất động sản giảm 5,49%; dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ giảm 6,95%; dịch vụ giáo dục và đào tạo giảm 14,98%; nhóm dịch vụ sửa chữa máy vi tính, đồ dùng cá nhân và gia đình giảm 28,19%; nhóm dịch vụ khác giảm 20,64%. Do nhu cầu vui chơi, giải trí của người dân trong dịp tết tăng nên doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 2,64% so với tháng trước.
  5. Hoạt động lưu trú và lữ hành
Tổng lượt khách tháng 02/2019 do các cơ sở lưu trú và lữ hành thành phố phục vụ ước đạt 500,5 ngàn lượt, giảm 4,55% so với tháng trước và tăng 4,11% so với cùng tháng năm 2018; trong đó khách quốc tế đạt 64 ngàn lượt, giảm 8,68% so với tháng trước và tăng 11,64% so với cùng tháng năm trước. Cộng dồn 02 tháng đầu năm 2019, tổng lượt khách do các cơ sở lưu trú và lữ hành thành phố phục vụ ước đạt 1.024,8 ngàn lượt, tăng 5,31% so với cùng kỳ năm 2018.
Trong dịp Tết Nguyên đán 2019, các khu du lịch tâm linh trên địa bàn thành phố được bài trí đẹp mắt đã thu hút được lượng khách thập phương không nhỏ đến Hải Phòng như chùa Hang, tháp Tường Long, đền Cô Chín Suối Rồng…Đặc biệt, sau di tích Đền Tràng Kênh, thành phố xây dựng Nhà tưởng niệm lãnh tụ Nguyễn Đức Cảnh với mô hình “3 không”: không thu tiền, không bán hàng rong và không xả rác. Trong các ngày nghỉ Tết, tình hình an ninh, trật tự tại các điểm du lịch trên địa bàn thành phố tương đối ổn định, không xảy ra ùn tắc giao thông, không xuất hiện hàng rong, ăn xin chèo kéo khách du lịch cộng với cảnh quan đẹp, sạch sẽ, nhiều cây xanh đã làm hài lòng rất nhiều du khách tới thăm quan. 
Đối với hoạt động lữ hành, lượt khách lữ hành tháng 02 năm 2019 đạt 8 ngàn lượt, tăng 2,43% so với tháng trước. Cộng dồn 02 tháng đầu năm 2019, lượt khách lữ hành đạt 15,75 ngàn lượt, tăng 3,47% so với cùng kỳ năm 2018. Xu hướng đi du lịch của người dân trong kỳ nghỉ Tết Nguyên đán ngày càng cao vì vậy các đơn vị lữ hành đã đưa ra các tour du lịch với chương trình và mức giá hấp dẫn nên lượt khách lữ hành tăng nhiều trong tháng 02/2019. Địa điểm nhiều gia đình lựa chọn du lịch trong dịp này là: Nha Trang, Đà Nẵng, Phú Quốc…
6. Vận tải hàng hóa và hành khách
6.1. Vận tải hàng hoá 

Khối lượng hàng hoá vận chuyển tháng 02 năm 2019 ước đạt 15,5 triệu tấn, giảm 3,66% so với tháng trước và tăng 12,24% so với cùng tháng năm trước; ước tính 02 tháng đầu năm 2019 đạt 31,7 triệu tấn, tăng 12,77% so với cùng kỳ năm trước. 
Khối lượng hàng hóa luân chuyển tháng 02 năm 2019 ước đạt 7.691,8 triệu tấn.km, giảm 3,39% so với tháng trước và tăng 2,23% so với cùng tháng năm trước; ước tính 02 tháng đầu năm 2019 đạt 15.653,9 triệu tấn, tăng 2,18% so với cùng kỳ năm trước. 
Khối lượng hàng hóa vận chuyển và luân chuyển tháng 02/2019 giảm so với tháng trước, do kỳ nghỉ Tết Nguyên đán dài ngày, các doanh nghiệp vận tải tạm nghỉ hoạt động làm giảm lượng hàng chu chuyển. Ở khối đường biển, do thời gian chờ xếp hàng kéo dài nên đã làm giảm khối lượng hàng hóa vận chuyển và luân chuyển hàng hóa đường biển tháng 02/2019.
6.2. Vận tải hành khách 
Khối lượng hành khách vận chuyển tháng 02 năm 2019 ước đạt 5,7 triệu lượt, tăng 0,8% so với tháng trước, tăng 20,06% so với cùng tháng năm trước; ước tính 02 tháng đầu năm 2019 đạt 11,3 triệu lượt, tăng 17,85% so với cùng kỳ năm trước. 
Khối lượng hành khách luân chuyển tháng 02 năm 2019 đạt 231,8 triệu Hk.km, tăng 1,88% so với tháng trước và tăng 26,55% so với cùng tháng năm trước; ước tính 02 tháng đầu năm 2019 đạt 459,2 triệu Hk.km, tăng 22,68% so với cùng kỳ năm trước. 
Khối lượng hành khách vận chuyển và luân chuyển tháng 02/2019 tăng so với tháng trước do vào dịp nghỉ lễ Tết Nguyên đán dài ngày nên nhu cầu đi lại bằng xe taxi, ô tô khách tăng cao.
6.3. Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải 
Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng 02 năm 2019 ước đạt 2.356,4 tỷ đồng, giảm 3,78% so với tháng trước và tăng 16,68% so với cùng tháng năm trước. Ước tính 02 tháng năm 2019 doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 4.805,4 tỷ đồng, tăng 15,3% so với cùng kỳ năm trước. 
6.4. Sân bay Cát Bi 
Tháng 02 năm 2019 tổng doanh thu của Sân bay Cát Bi ước đạt 22,0 tỷ đồng, tăng 5,8% so với tháng trước; tăng 34,56% so với cùng tháng năm 2018; 02 tháng năm 2019 tổng doanh thu của Sân bay Cát Bi ước đạt 42,8 tỷ đồng, tăng 27,05% so với cùng kỳ năm trước. 
Số lần máy bay hạ, cất cánh tháng 02 năm 2019 ước đạt 1.400 chuyến, tăng 2,94% so với tháng 01 năm 2018, tăng 16,86% so với cùng tháng năm 2018; ước tính 02 tháng/2019 số lần máy bay hạ, cất cánh đạt 2.760 chuyến, tăng 17,55% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó chuyến bay ngoài nước tháng 02 ước đạt 120 chuyến, với ước tính trên 13 ngàn lượt hành khách thông qua. 
Tổng số hành khách tháng 02 năm 2019 ước đạt 200 ngàn lượt người, tăng 9,34% so với tháng 01 năm 2019, tăng 14,56% so với cùng tháng năm 2018; ước tính 02 tháng/2019 tổng số hành khách ước đạt 382,9 ngàn lượt, tăng 5,03% so với cùng kỳ năm trước.
         Tổng số hàng hóa tháng 02 năm 2019 ước đạt 1.950 tấn, tăng 6,44% so với tháng 01/2019, tăng 133,25% so với cùng tháng năm 2018; ước tính 02 tháng/2019 tổng số hàng hóa thông qua đạt 3.782 tấn, tăng 77,48% so với cùng kỳ năm trước. Hàng hóa đến và đi hiện nay đa dạng nhiều chủng loại như hải sản, hàng thực phẩm, bánh kẹo, quần áo và hàng tiêu dùng khác.
7.    Hàng hoá thông qua cảng
Sản lượng hàng hóa thông qua cảng tháng 02 năm 2019 ước đạt 7.615 nghìn TTQ, giảm 13,36% so với tháng trước và tăng 3,3% so với cùng kỳ năm trước. 
Tháng 02/2019 có kỳ nghỉ Tết Nguyên đán, hầu hết các chủ tàu Trung Quốc nghỉ Tết đến hết tháng 02 nên tình hình hàng hóa thông qua các cảng không sôi động. 
- Khối cảng thuộc kinh tế Nhà nước ước đạt 2.919 nghìn TTQ, giảm 15,37% so với tháng trước, tăng 2,1% so với cùng kỳ, trong đó: 
+ Cảng thuộc khối doanh nghiệp nhà nước Trung ương ước đạt 2.911 nghìn TTQ, giảm 15,3% so với tháng trước, tăng 2,18% so với cùng kỳ.
+ Cảng thuộc khối doanh nghiệp Nhà nước địa phương ước đạt 8 nghìn TTQ, giảm 36,15% so với tháng trước, giảm 20% so với cùng kỳ. 
- Các cảng thuộc khu vực kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 4.696 nghìn TTQ, giảm 12,07% so với tháng trước, tăng 4,05% so với cùng kỳ năm 2018.
Cộng dồn 02 tháng đầu năm 2019, sản lượng hàng hóa thông qua trên địa bàn thành phố đạt 16.404 nghìn tấn, tăng 0,08% so với cùng kỳ năm 2018.
 * Doanh thu cảng biển tháng 02 năm 2019 của khối cảng trên địa bàn thành phố ước đạt 401,9 tỷ đồng, giảm 15,36% so với tháng trước, tăng 17,66% so với cùng kỳ. Cộng dồn 02 tháng đầu năm 2019 doanh thu cảng biển ước đạt 876,71 tỷ đồng, tăng 17,95% so với cùng kỳ năm 2018.
8. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) thành phố Hải Phòng tháng 02 năm 2019 tăng 0,35% so với tháng trước, tăng 2,22% so với cùng kỳ năm trước; bình quân 02 tháng đầu năm 2019, chỉ số giá tiêu dùng tăng 2,43% so với cùng kỳ.
Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 6 nhóm chỉ số giá tháng 02/2019 tăng so với tháng trước với mức tăng như sau: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,87%; nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,66%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,01%; nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,02%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,45%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,14%. Có 03 nhóm có chỉ số giá giảm là nhóm đồ uống và thuốc lá giảm 0,05%; nhóm may mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,91%; nhóm giao thông giảm 0,06%. Hai nhóm còn lại là nhóm bưu chính viễn thông và nhóm giáo dục ổn định. 
Nguyên nhân chính tác động làm tăng CPI tháng 02/2019 là do chỉ số giá lương thực tăng 0,43% làm CPI chung tăng 0,01%; chỉ số giá thực phẩm tăng 1,33% làm CPI chung tăng 0,30%, trong đó: chỉ số giá thịt gia súc tăng 1,88% làm cho CPI chung tăng 0,10%, chỉ số giá thủy sản tươi sống tăng 2,34% làm CPI chung tăng 0,10%; chỉ số giá điện sinh hoạt tăng 2,04% đóng góp làm CPI chung tăng 0,04%...
Bên cạnh những yếu tố tác động làm tăng giá, vẫn có các yếu tố tác động kìm hãm CPI chung như: nhu cầu mua sắm tiêu dùng của người dân giảm sau Tết nguyên đán; giá nhiều hàng hóa, nguyên, nhiên vật liệu thiết yếu trên thị trường thế giới và trong nước cơ bản ổn định....
 Chỉ số giá nhóm lương thực trong tháng 02/2019 tăng 0,43% so với tháng trước do nhu cầu chế biến phục vụ Tết Nguyên đán tăng nên một số mặt hàng như: gạo tẻ ngon, gạo nếp… tăng giá khá cao; chỉ số giá thực phẩm tăng 1,33% so với tháng trước trong đó giá thịt lợn, thịt bò, thịt gia cầm các loại tăng; giá thủy sản tươi sống tăng chủ yếu ở những mặt hàng như tôm rảo, tôm đồng và một số loại cá do sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán, nhu cầu tiêu dùng những mặt hàng này tăng cao. Giá thịt lợn tăng cao vào thời điểm trước Tết Nguyên đán do nhu cầu tiêu dùng và chế biến các sản phẩm phục vụ Tết tăng, tuy nhiên giá thịt lợn bắt đầu có xu hướng giảm mạnh do tâm lý e ngại dịch bệnh lây lan khiến người chăn nuôi bán sớm. Bên cạnh đó, tâm lý người tiêu dùng giảm tiêu thụ thịt lợn cũng khiến giá bán hạ nhiệt.
Chỉ số nhóm nhà ở, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,66% do nhu cầu nhu cầu tiêu dùng điện vào dịp Tết tăng cao; chỉ số giá gas trong tháng tăng 3,54% so với tháng trước, cụ thể: giá gas tháng 02/2019 tăng 12.000 đồng/bình 12kg, tương đương với mức tăng 1.000 đồng/kg;
* Chỉ số giá vàng 99,99% và Đô la Mỹ: 
    - Chỉ số giá vàng tháng 02/2019 tăng 1,59% so với tháng trước, giảm 0,22% so với cùng tháng năm 2018. Giá vàng bình quân tháng 02/2019 dao động ở mức 3,707 triệu đồng/chỉ, tăng 58.000 đồng/chỉ so với tháng trước đó.
- Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 02/2019 giảm 0,02% so với tháng trước, tăng 2,22% so với cùng tháng năm 2018. Tỷ giá USD/VND bình quân tháng 02/2019 dao động ở mức 23.245 đồng/USD, giảm 519 đồng/USD.
9. Hoạt động tài chính, ngân hàng 
9.1. Tài chính 

Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn thành phố tháng 02 năm 2019 ước đạt 5.350 tỷ đồng; ước 02 tháng/2019 đạt 13.777,7 tỷ đồng, tăng 55,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: thu nội địa ước đạt 4.188 tỷ đồng, tăng 38,1% so với cùng kỳ năm trước; thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 9.439,6 tỷ đồng, tăng 68,5% so với cùng kỳ năm trước.
Trong thu nội địa, thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước đạt 503,8 tỷ đồng, tăng 10,8% so cùng kỳ năm trước; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 776,1 tỷ đồng, tăng 70,3% so với cùng kỳ năm trước; thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đạt 813 tỷ đồng, tăng 11,8% so cùng kỳ... 
Tổng chi ngân sách địa phương tháng 02 năm 2019 ước đạt 765,9 tỷ đồng; ước 02 tháng/2019 đạt 1.817,3 tỷ đồng, tăng 41,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: chi thường xuyên đạt 1.792 tỷ đồng, tăng 43,5% so cùng kỳ; trong chi thường xuyên chi cho hoạt động kinh tế đạt 201,9 tỷ đồng; chi giáo dục, đào tạo và dạy nghề đạt 595,6 tỷ đồng...
9.2. Ngân hàng
* Công tác huy động vốn:
Tổng nguồn vốn huy động trên địa bàn ước thực hiện đến hết tháng 02 năm 2019 đạt 186.060 tỷ đồng, tăng 13,43% so với cùng kỳ năm trước, tăng 0,97% so với cuối năm 2018.
Theo loại tiền: Huy động bằng VND ước đạt 175.607 tỷ đồng, tăng 16,47% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 94,38%; ngoại tệ ước đạt 10.453 tỷ đồng, bằng 78,92% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 5,62%. 
Theo hình thức huy động: Huy động tiền gửi tiết kiệm ước đạt 131.373 tỷ đồng, tăng 14,21% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 70,61%; tiền gửi thanh toán ước đạt 51.064 tỷ đồng, tăng 14,13% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 27,44%; phát hành giấy tờ có giá ước đạt 3.623 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 1,95%.
* Công tác tín dụng:
Tổng dư nợ cho vay các thành phần kinh tế ước thực hiện đến hết tháng 02 năm 2019 đạt 115.355 tỷ đồng, tăng 15,99% so với cùng kỳ năm trước, tăng 2,51% so với năm 2018. 
Cơ cấu dư nợ theo loại tiền: Cho vay bằng VND đạt 109.219 tỷ đồng, tăng 19,76% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 94,68%. Cho vay ngoại tệ (quy đổi VND) ước đạt 6.136 tỷ đồng, bằng 74,34% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 5,32%.
Cơ cấu dư nợ phân theo thời hạn vay: Cho vay ngắn hạn ước đạt 50.202 tỷ đồng, tăng 12,6% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 43,52%; cho vay trung, dài hạn ước đạt 65.153 tỷ đồng, tăng 18,75% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 56,48%.
10. Xuất nhập khẩu hàng hóa 
10.1. Xuất khẩu hàng hoá

Kim ngạch xuất khẩu tháng 02 năm 2019 ước đạt 674,5 triệu USD, giảm 12,67% so với tháng trước; trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 169,1 triệu USD, giảm 13,45%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 505,4 triệu USD, giảm 12,41%. 
So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 02 năm 2019 tăng 19,28%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 16,24%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 20,33%.
Tính chung 02 tháng năm 2019, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 1.446,8 triệu USD, tăng 24,98% so với cùng kỳ năm 2018; trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 364,4 triệu USD, tăng 21,74%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 1.082,4 triệu USD, tăng 26,11%.
Một số mặt hàng xuất khẩu trong 02 tháng năm 2019 có kim ngạch tăng cao so với cùng kỳ năm trước: sản phẩm Plastic đạt 80,2 triệu USD, tăng 15,91%; hàng dệt may đạt 69,9 triệu USD, tăng 18,22%; giày dép đạt 282,8 triệu USD, tăng 25,56%; hàng điện tử đạt 100,7 triệu USD, tăng 78,38%; dây điện và cáp điện đạt 134,6 triệu USD, tăng 39,87%....
10.2. Nhập khẩu hàng hóa 
Kim ngạch nhập khẩu tháng 02 năm 2019 ước đạt 660,1 triệu USD, giảm 10,17% so với tháng trước; trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 169,8 triệu USD, giảm 10,97%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 490,3 triệu USD, giảm 9,88%. 
So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng 02 năm 2019 tăng 13,01%; trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 14,61%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 12,8%.
Tính chung 02 tháng năm 2019, kim ngạch nhập khẩu ước đạt 1.395 triệu USD, tăng 17,94% so với cùng kỳ năm 2018; trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 360,5 triệu USD, tăng 14,38%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 1.034,5 triệu USD, tăng 19,23%. 
Một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu trong 02 tháng năm 2019 tăng cao hơn so với cùng kỳ: hóa chất đạt 16 triệu USD, tăng 19,51%; phụ liệu hàng may mặc đạt 38 triệu USD, tăng 22,13%; phụ liệu giày dép đạt 184,2 triệu USD, tăng 22,33%; vải may mặc đạt 19,1 triệu  USD, tăng 7,02%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 198,5 triệu USD, tăng 17,62%, hàng hóa khác đạt 893,6 triệu USD, tăng 17,67%. 
II. VĂN HÓA - XÃ HỘI
1. Giải quyết việc làm, an sinh xã hội

* Công tác lao động, việc làm
Tháng 02 năm 2019 sàn giao dịch việc làm thành phố tổ chức 02 phiên giao dịch việc làm, với 62 lượt doanh nghiệp tham gia, nhu cầu tuyển dụng là 1.635 lượt lao động; hướng dẫn, tiếp nhận thỏa ước lao động tập thể được 12 doanh nghiệp; hướng dẫn, thẩm định và ra thông báo thực hiện nội quy lao động được 10 doanh nghiệp. Trên địa bàn thành phố xảy ra 01 vụ đình công.
 Trong 02 tháng đầu năm 2019 đã tổ chức 04 phiên giao dịch việc làm, với 117 lượt doanh nghiệp tham gia, nhu cầu tuyển dụng 3.076 lao động. Đã giải quyết bảo hiểm thất nghiệp cho 1.681 người (giảm 2,61% so với cùng kỳ năm 2018) với kinh phí trên 26 tỷ đồng. Qua giải quyết chế độ thất nghiệp đã tư vấn, giới thiệu việc làm cho 1.436 lao động (giảm 8,01% so với cùng kỳ năm 2018). Hướng dẫn, tiếp nhận thỏa ước lao động tập thể được 15 doanh nghiệp, bằng 100% so với cùng kỳ năm 2018. Hướng dẫn, thẩm định và ra thông báo thực hiện nội quy lao động được 11 doanh nghiệp, bằng 73,33% so với cùng kỳ năm trước.
Tính từ đầu năm, trên địa bàn thành phố xảy ra 03 vụ đình công với 867 người tham gia (tăng 01 vụ, giảm 633 lao động so với cùng kỳ năm 2018); xảy ra 01 vụ tai nạn làm chết 01 người (giảm 03 vụ và 03 người chết so với cùng kỳ năm 2018), chưa kết luận là tai nạn lao động.
* Công tác người có công
Tháng 02 năm 2019, quyết định, đề nghị thực hiện chính sách đối với 134 trường hợp; công nhận, đề nghị công nhận 08 người có công.
Trong 02 tháng năm 2019, thăm tặng quà người có công dịp Tết Kỷ Hợi năm 2019 với tổng số tiền 186,6 tỷ đồng (tăng 113% so với Tết Mậu Tuất 2018), trong đó: quà thành phố 167,1 tỷ đồng, tăng 115,46%; quà Chủ tịch nước 8,96 tỷ đồng; quà từ ngân sách các địa phương: 7,66 tỷ đồng (bằng 163,28% so năm 2018); từ nguồn xã hội hóa: trên 2,92 tỷ đồng (bằng 100,58%). Quyết định, đề nghị thực hiện chính sách đối với 479 trường hợp; công nhận, đề nghị công nhận 93 người có công.
* Công tác giảm nghèo - bảo trợ xã hội
Tháng 02/2019, tiếp nhận 01 đối tượng vào nuôi dưỡng tập trung tại Trung tâm điều dưỡng người tâm thần, tập trung được 42 lượt người lang thang. Tính đến ngày 15/02/2019, số lượng các đối tượng tại các cơ sở bảo trợ xã hội tổng số là 730 người bằng 106,7% so với năm 2018, tập trung người lang thang được 115 lượt.
Trong 02 tháng đầu năm 2019, thăm tặng quà Tết Kỷ Hợi năm 2019 cho người nghèo và đối tượng bảo trợ xã hội với tổng kinh phí là 23,2 tỷ đồng, bằng 107,3% so với Tết Nguyên đán năm 2018. Về xã hội hoá chăm lo Tết cho đối tượng bảo trợ xã hội, hộ nghèo, khó khăn, yếu thế, các địa phương và đoàn thể trên địa bàn thành phố đã vận động các đơn vị, doanh nghiệp, các nhà hảo tâm ủng hộ, tính đến ngày 31/01/2019 tổng số tiền được 16,5 tỷ đồng, bằng 103,7% so với Tết Nguyên đán năm 2018. 
2. Giáo dục – Đào tạo
Các trường cho học sinh nghỉ học từ ngày 02/02/2019 (ngày 28/12 Âm lịch) đến hết 10/02/2019 (ngày 06/01 Âm lịch). Kết thúc kỳ nghỉ Tết, các đơn vị, nhà trường tổ chức học tập bình thường vào ngày 11/02/2019 (ngày mùng 07/01 Âm lịch). Nhìn chung không khí học tập nghiêm túc ngay từ ngày đầu, tiết học đầu của năm mới, số học sinh vắng mặt sau Tết thấp.
3. Y tế và An toàn vệ sinh thực phẩm 
* Công tác y tế dự phòng
Tiếp tục được tập trung nâng cao chất lượng công tác tiêm phòng vắc xin ComBE Five. Kết quả triển khai vắc xin ComBE Five: tiêm được 921 trẻ, có 161 trẻ có phản ứng sau tiêm chủng, không có trường hợp phản vệ/sốc phản vệ, các trẻ có phản ứng được theo dõi, xử trí đều ổn định. Trong tháng 02/2019, thực hiện giám sát 52 lượt tại các bệnh viện tuyến thành phố; tăng cường giám sát các bệnh sốt phát ban nghi sởi/rubella, liệt mềm cấp, viêm não Nhật Bản, sốt xuất huyết,… thực hiện báo cáo dịch bệnh theo quy định.
Diễn biến một số bệnh truyền nhiễm trong tháng 01/2019 so với tháng trước: 13 ca sốt xuất huyết (giảm 01 ca); 80 ca tay chân miệng (giảm 89 ca); 45 ca thủy đậu (giảm 02 ca); 14 ca quai bị (giảm 02 ca); 121 ca tiêu chảy (giảm 58 ca); 423 ca cúm (tăng 156 ca); 52 ca nghi sởi (tăng 36 ca).
* Công tác an toàn vệ sinh thực phẩm
Các đoàn kiểm tra an toàn thực phẩm (ATTP) của thành phố và chính quyền các cấp đã tiến hành kiểm tra việc thực hiện các quy định bảo đảm ATTP tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm, kinh doanh dịch vụ ăn uống đợt Tết Nguyên đán Kỷ Hợi trên địa bàn toàn thành phố. Tổng số cơ sở được kiểm tra là 1.570 cơ sở, trong đó số cơ sở đạt yêu cầu là 1.193 cơ sở (chiếm 76,0%), số cơ sở không đạt yêu cầu là 304 (chiếm 19,4%). Trong 304 cơ sở vi phạm, có 12 cơ sở bị xử lý phạt tiền với số tiền phạt 22,25 triệu đồng; có 142 cơ sở phải khắc phục về nhãn với 167 loại sản phẩm có nhãn phải khắc phục.
Trong dịp Tết Kỷ Hợi không để xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm tập thể, có 39 ca ngộ độc thức ăn lẻ tẻ đến khám tại các bệnh viện, các bệnh nhân ổn định, không có tử vong.
Công tác phòng, chống HIV/AIDS: Trong tháng 01/2019 phát hiện 13 người nhiễm HIV, số bệnh nhân tử vong 05 người. Tính đến ngày 31/01/2019, lũy tích người nhiễm HIV 12.324 người, số người chuyển sang AIDS 6.289 người, số người chết do AIDS là 4.554 người, số người nhiễm HIV hiện còn sống là 7.770 người.
4. Văn hóa - Thể thao
* Công tác văn hóa
Tổ chức thành công nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ chào mừng kỷ niệm các sự kiện, các ngày tết, ngày lễ lớn trong tháng như: Kỷ niệm 89 năm ngày thành lập Đảng cộng sản Việt Nam và trao tặng Huy hiệu Đảng đợt 3/2; Chương trình nghệ thuật đêm Giao thừa mừng xuân Kỷ Hợi 2019 tại Quảng trường Nhà hát thành phố và Cung Văn hoá lao động hữu nghị Việt-Tiệp... Các hoạt động văn hóa, văn nghệ, các hoạt động thể dục thể thao quần chúng, các trò chơi dân gian được tổ chức ở nhiều nơi phục vụ nhân dân đón Tết với nhiều hoạt động phong phú và công tác an ninh được đảm bảo. Ý thức của người dân được nâng cao trong việc giữ gìn an ninh trật tự, bảo vệ môi trường cảnh quan và tham gia các hoạt động văn hóa, thể thao chào mừng Tết.
5. Tình hình trật tự an toàn giao thông, công tác phòng chống cháy, nổ
Từ ngày 16/01/2019 đến ngày 15/02/2019 toàn thành phố xảy ra 05 vụ tai nạn giao thông đường bộ làm chết 05 người và bị thương 01 người. So với cùng kỳ năm 2018, số vụ tai nạn giao thông và số người chết không đổi, số người bị thương tăng 01 người. Trong dịp Tết Kỷ Hợi 2019 đã xảy ra 01 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 01 người, giảm 01 vụ, bằng số người chết và giảm 04 người bị thương so với Tết Mậu Tuất 2018. Không để xảy ra tai nạn giao thông nghiêm trọng và tình trạng ùn tắc kéo dài, hiện tượng ùn ứ khách tại bến xe, bến tàu cũng được khống chế tốt, bảo đảm thông suốt giao thông trong dịp Tết. Cộng dồn từ đầu năm, trên địa bàn thành phố xảy ra 11 vụ tai nạn giao thông, bằng cùng kỳ năm trước; số người chết là 10 người, bị thương 04 người, lần lượt giảm 02 người chết và tăng 04 người bị thương so với cùng kỳ.
Cũng từ 16/01/2019 đến ngày 15/02/2019 trên địa bàn thành phố xảy ra 07 vụ cháy, trong đó có 03 vụ cháy tại nhà dân, không có thiệt hại về người. Giá trị thiệt hại về tài sản đang trong quá trình xác định. So với cùng kỳ năm trước, số vụ cháy giảm 07 vụ, số người bị thương giảm 01 người. Trong những ngày Tết Nguyên đán Kỷ Hợi thành phố xảy ra 03 vụ cháy, không gây thiệt hại về người, thiệt hại về giá trị tài sản đang thống kê. So với cùng kỳ Tết Mậu Tuất 2018 số vụ cháy giảm 02 vụ, số người bị thương giảm 03 người. Nhìn chung công tác phòng cháy chữa cháy thành phố trong đợt Tết đảm bảo an toàn cao. Cộng dồn từ đầu năm, đã xảy ra 18 vụ cháy, bằng 81,82% so với cùng kỳ năm trước, làm 01 người bị thương./.

Tác giả bài viết: Cục Thống kê Hải Phòng

 Từ khóa: hàng hóa, tiêu dùng, bán lẻ

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Xếp hạng: 0 - 0 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019

Hỏi đáp Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây