Tình hình kinh tế - xã hội thành phố Hải Phòng tháng 11/2018

Thứ tư - 28/11/2018 21:11
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) thành phố Hải Phòng tháng 11 năm 2018 giảm 0,37% so với tháng trước, tăng 4,03% so với cùng kỳ năm trước và tăng 4,17% so với tháng 12/2017.
BÁO CÁO
TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI THÁNG 11, 11 THÁNG NĂM 2018
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ
1. Sản xuất công nghiệp
Chỉ số phát triển sản xuất (PTSX) công nghiệp trên địa bàn thành phố tháng 11 năm 2018 ước tăng 3,8% so với tháng trước và tăng 22,99% so với cùng kỳ. Tính chung 11 tháng năm 2018, chỉ số sản xuất công nghiệp thành phố ước tăng 25,72% so với cùng kỳ năm 2017, đạt tốc độ tăng cao nhất từ trước đến nay.
 

Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng cao với mức tăng 28,25%, đóng góp 24,85 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 5,79%, đóng góp 0,83 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,08%, đóng góp 0,002 điểm phần trăm; riêng ngành khai khoáng giảm 8,81%, làm giảm 0,04 điểm phần trăm mức tăng chung.
Trong 51 nhóm ngành kinh tế cấp 4 có 25 ngành có chỉ số PTSX công nghiệp 11 tháng năm 2018 ước tăng so với cùng kỳ, trong đó: ngành sản xuất thiết bị truyền thông  tăng cao nhất, tăng 252,9%; sản xuất bê tông và các sản phẩm từ xi măng và thạch cao tăng 77,16%; may trang phục tiếp tục đứng thứ 3 với mức tăng 51,2%...
Có 26 ngành có chỉ số PTSX công nghiệp giảm, trong đó ngành đóng tàu và cấu kiện nổi tiếp tục giảm 50,06%; sản xuất đồ chơi giảm 40,8%; sản xuất thức ăn gia súc giảm 12,25%; sản xuất máy móc và thiết bị văn phòng giảm 16,61%;...
Tình hình sản xuất của các doanh nghiệp, dự án công nghiệp lớn tác động chủ yếu tới tăng trưởng công nghiệp thành phố 11 tháng/2018:
Nổi bật nhất trong tháng 11/2018 là sự kiện VinFast đã đưa nhà máy sản xuất xe máy điện chính thức đi vào hoạt động. Tháng 11 nhà máy sản xuất và tiêu thụ lô đầu tiên với chính sách ưu đãi đặc biệt, giá bán chỉ bằng 60% giá thành, dự kiến có khoảng 6.000 sản phẩm được sản xuất và tiêu thụ, doanh thu trên 125 tỷ đồng. Với các sản phẩm có tiêu chuẩn cao về chất lượng, hạ tầng dịch vụ đồng bộ, sản phẩm xe máy điện của doanh nghiệp dự kiến tăng trưởng cao, chiếm lĩnh thị trường, tạo dựng thói quen cho người dân sử dụng phương tiện giao thông an toàn, thân thiện với môi trường.
Ba dự án sản xuất sản phẩm công nghệ cao của tập đoàn LG Hải Phòng tiếp tục duy trì mức tăng trưởng cao trong đó công ty LG Display Hải Phòng với lượng đơn hàng dồi dào, tay nghề công nhân ổn định, các chuyền sản xuất phát huy công suất, sản lượng tháng 10/2018 đạt cao nhất từ trước đến nay với hơn 181 nghìn sản phẩm màn hình tivi, chủ yếu tập trung vào màn hình oled tivi 55 và 65 inch; màn hình điện thoại cũng đạt mốc hơn 1,4 triệu sản phẩm; dự kiến tháng 11/2018, sản lượng sản xuất và tiêu thụ tương đương tháng 10, thu hút hơn 8,1 nghìn lao động. Công ty LG Innoteck với năng lực sản xuất ổn định của 2 khu nhà xưởng, dự kiến tháng 11/2018 sản lượng sản xuất đạt hơn 6,3 triệu sản phẩm, thu hút 2,8 nghìn lao động.
Công ty TNHH may Regina Miracle tại Khu công nghiệp VSIP Hải Phòng với 3 nhà máy A, B, C đi vào sản xuất, dự kiến tháng 11/2018 sản lượng sản xuất tương đương tháng 10 với hơn 6,5 triệu sản phẩm.
Các doanh nghiệp sản xuất bê tông và các sản phẩm từ xi măng tiếp tục sản xuất lớn khối lượng sản phẩm cung cấp cho các dự án đầu tư xây dựng lớn trên địa bàn, 11 tháng/2018 ước tăng 77,16% so với cùng kỳ, trong đó doanh nghiệp có khối lượng sản xuất lớn là công ty xây dựng Minh Đức sản xuất tăng đột biến (11 tháng/2018 tăng 85% so với cùng kỳ).
Ngành sản xuất giày dép ước 11 tháng/2018 có mức tăng trưởng 9,01% so với cùng kỳ, chủ yếu do sự dịch chuyển đơn hàng từ thị trường Trung Quốc, thị trường này có xu hướng chuyển sang sản xuất các sản phẩm công nghệ cao tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp Việt Nam. Trong thời gian tới, khi hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Châu Âu được ký kết, các doanh nghiệp giày dép Hải Phòng với tỷ trọng xuất khẩu sang thị trường Châu Âu là 35%, dự kiến sẽ có nhiều điều kiện thuận lợi để mở rộng sản xuất, tăng sản lượng.  
Ngành sản xuất và phân phối điện 11 tháng/2018 ước tăng 5,79% so với cùng kỳ năm 2017, trong đó Công ty CP Nhiệt điện Hải Phòng dự kiến khối lượng điện tháng 11/2018 được huy động cao, đạt 550 triệu Kwh.
Tình hình sản xuất của một số doanh nghiệp ở những ngành công nghiệp có tỷ trọng lớn giảm so cùng kỳ năm trước hoặc có tốc độ tăng thấp so với cùng kỳ, ảnh hưởng đến tăng trưởng công nghiệp 11 tháng/2018 trên địa bàn thành phố:
Ngành sản xuất xi măng 11 tháng/2018 ước giảm 5,32% so với cùng kỳ, trong đó 2 doanh nghiệp lớn là công ty xi măng Chinfon và công ty xi măng Vicem Hải Phòng dự kiến tháng 11/2018 sản lượng sản xuất và tiêu thụ cao hơn tháng trước do nhu cầu tiêu thụ xi măng tăng cao vào dịp cuối năm cho các hoạt động xây dựng, tuy nhiên 11 tháng/2018 sản lượng sản xuất không đạt kế hoạch đề ra do thị trường xuất khẩu giảm, giá nguyên vật liệu tăng, không cạnh tranh được với giá bán so với các doanh nghiệp khác... 
Ngành sản xuất sắt thép ước 11 tháng/2018 giảm 0,18% so với cùng kỳ, trong đó các doanh nghiệp sản xuất phôi thép tiếp tục gặp nhiều khó khăn trong khâu tiêu thụ do không cạnh tranh được với giá nguồn phôi từ miền Nam chuyển ra, chủ yếu xuất bán nội bộ cho sản xuất thép xây dựng; sản lượng sản xuất vẫn ở mức thấp, phôi thép tồn kho cao…
Ngành khai khoáng 11 tháng/2018 ước giảm 8,81% so với cùng kỳ năm 2017. Các doanh nghiệp khai thác đá lớn như công ty Tân Hoàng An, công ty khai khoáng Kiên Ngọc do bị người dân cản trở không cho khai thác nên khối lượng khai thác chỉ bằng 91,2% so với cùng kỳ. 
Ngành đóng tàu và cấu kiện nổi 11 tháng/2018 tiếp tục giảm sâu, giảm 50,06% so với cùng kỳ. Các doanh nghiệp đóng tàu lớn như công ty đóng tàu Phà Rừng, công ty đóng tàu sông Cấm, công ty đóng tàu Nam Triệu tuy đã ký kết, đóng mới và bàn giao nhiều tàu có trọng tải lớn nhưng một số doanh nghiệp khác như công ty đóng tàu Hồng Hà, công ty đóng tàu Bạch Đằng giá trị sản xuất sụt giảm do thiếu đơn hàng đã tác động làm giảm tốc độ tăng trưởng của toàn ngành công nghiệp thành phố.
Một số doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm có tỷ trọng lớn tiếp tục có tốc độ giảm so cùng kỳ do thiếu đơn hàng, chuyển đổi mẫu mã... như sản xuất môtơ, máy phát điện, sản xuất thức ăn gia súc, sản xuất máy văn phòng, sản xuất đồ chơi, sản xuất bia giảm do giảm sản lượng bia chai...
* Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tháng 11/2018 tăng 0,7% so với tháng trước và giảm 5,4% so với cùng kỳ năm trước; cộng dồn 11 tháng/ 2018 chỉ số tiêu thụ tăng 8,0% so với cùng kỳ năm trước, trong đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao so cùng kỳ: sản xuất trang phục tăng 52,6%; sản xuất bánh bi, bánh răng, hộp số tăng 35,6%; sản xuất bê tông và các sản phẩm từ xi măng tăng 78,5%, sản xuất giày dép tăng 13,4%; sản xuất plastic và cao su tổng hợp tăng 25,6%... 
Một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm so cùng kỳ: sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm và thủy sản giảm 10,8%; sản xuất thuốc, hóa dược giảm 21,8%; sản xuất đồ điện dân dụng giảm 10,9%, sản xuất bia giảm 18,1%...
* Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tại thời điểm 30/11/2018 tăng 4,8% so với tháng trước và tăng 1,1% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao so cùng kỳ: sản xuất sắt, thép, gang tăng 2,9 lần; sản xuất sản phẩm từ plastic tăng 25,9%; sản xuất đồ điện dân dụng tăng 3,3 lần; sản xuất cấu kiện kim loại tăng 32,9%; sản xuất dây cáp, dây điện tăng 42,4%.
Một số ngành có chỉ số tồn kho so với cùng kỳ giảm như: sản xuất săm lốp cao su giảm 48,2%; sản xuất máy móc và thiết bị văn phòng giảm 83,4%; sản xuất thiết bị truyền thông giảm 90,2%; may trang phục giảm 64,1%; sản xuất sản phẩm điện tử dân dụng giảm 71,6%.
* Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp ước tại thời điểm 30/11/2018 tăng 2,5% so với tháng trước và tăng 13,0% so với cùng kỳ, trong đó lao động khu vực doanh nghiệp nhà nước giảm 5,4%; lao động doanh nghiệp ngoài nhà nước tăng 4,8%; lao động doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 19,6%. 
Chia theo ngành cấp I: ngành khai khoáng giảm 19,6%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 13,9%; ngành sản xuất và phân phối điện giảm 9,9%; ngành cung cấp nước, quản lý, xử lý nước rác thải, nước thải tăng 0,7%. 
Trong 51 ngành cấp 4, một số ngành có chỉ số sử dụng lao động tăng cao: sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính tăng 2,2 lần; sản xuất trang phục tăng 31,1%; sản xuất thiết bị điện tăng 78,3%.
Một số ngành có chỉ số sử dụng lao động giảm như: sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng giảm 9,9%; sản xuất chế biến thực phẩm giảm 25,4%; sản xuất đồ uống giảm 4,7%.
* Một số sản phẩm công nghiệp ước 11 tháng năm 2018 so cùng kỳ: quần áo các loại đạt 121,3 triệu cái, tăng 29%; phân bón 217,3 nghìn tấn, giảm 4,7%; màn hình khác 7.558,7 nghìn cái, tăng 9,2%; máy giặt 1.200,6 nghìn cái, giảm 4,5%; lốp xe 2.406,7 nghìn cái, giảm 3,2%; sắt thép các loại 1.325 nghìn tấn, tăng 1,7%; xi măng Portland đen 4.436,9 nghìn tấn, giảm 5,3%; điện sản xuất đạt 5.641 triệu Kwh, tăng 4,5%.
2. Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản
2.1. Nông nghiệp

* Trồng trọt
Tình hình sản xuất vụ mùa:
Ước tính đến ngày 15 tháng 11 năm 2018, sản xuất vụ mùa đang trong giai đoạn tập trung thu hoạch lúa và cây trồng khác trên toàn thành phố. Diện tích lúa đã thu hoạch đạt 33.000 ha, bằng 94,08% diện tích gieo trồng, bằng 88,76% so với vụ mùa năm trước; diện tích cây hàng năm khác đã thu hoạch đạt 4.120 ha, bằng 81,94% diện tích gieo trồng, bằng 78,88% so với vụ mùa năm trước.  
Sản xuất lúa mùa năm nay có điều kiện thời tiết thuận lợi, ít sâu bệnh, không bị ảnh hưởng của bệnh lùn sọc đen phương Nam nên cho năng suất cao. Ước tính năng suất lúa vụ mùa trên diện tích lúa đã thu hoạch đạt 57,2 tạ/ha, tăng 5,3 tạ/ha, bằng 110,23% so với vụ mùa năm trước. Sự chuyển dịch cơ cấu giống lúa và trình độ canh tác nông nghiệp ngày càng được nâng cao tạo sự đồng đều về năng suất giữa các huyện: Vĩnh Bảo ước đạt 60,3 tạ/ha, Thủy Nguyên ước đạt 57,3 tạ/ha, Kiến Thụy ước đạt 56 tạ/ha, An Dương ước đạt 56,4 tạ/ha, Tiên Lãng ước đạt 57,3 tạ/ha và An Lão ước đạt 56,3 tạ/ha.
Sản lượng lúa vụ mùa tính đến ngày 15/11/2018 ước đạt 188,6 nghìn tấn, bằng 99,55% so với cùng kỳ năm trước; ước cả vụ mùa 2018 đạt 200,6 nghìn tấn, tăng 7,7 nghìn tấn, bằng 104% so với vụ mùa năm trước, trong đó: Vĩnh Bảo đạt 56,6 nghìn tấn, chiếm 28,2%; Tiên Lãng đạt 42,7 nghìn tấn, chiếm 21,3%; An Lão đạt 24,4 tấn, chiếm 12,2%; Kiến Thụy đạt 22,3 nghìn tấn, chiếm 11,1%; An Dương đạt 15,3 nghìn tấn, chiếm 7,6%; Thủy Nguyên đạt 30,6 nghìn tấn, chiếm 15,2% tổng sản lượng lúa toàn thành phố.
Diện tích cây trồng khác năm nay đều cho năng suất tăng so với vụ mùa năm trước do thời tiết ấm áp, thuận lợi cho sự phát triển sinh trưởng của cây trồng. Ước tính năng suất cây trồng khác vụ mùa 2018 như sau: cây khoai lang đạt 100 tạ/ha, bằng 101,5% so với vụ mùa năm trước; cây ngô đạt 51,4 tạ/ha, bằng 101,6% so với vụ mùa năm trước; năng suất nhóm cây rau các loại ước đạt 227,4 tạ/ha, bằng 102,4% và tăng 5,4 tạ/ha so với vụ mùa năm trước, trong đó: nhóm rau lấy lá ước đạt 227,1 tạ/ha, tăng 2,8%; nhóm rau lấy quả 245,2 tạ/ha, tăng 3,3%; nhóm rau lấy củ, rễ, thân 187,3 tạ/ha, tăng 1,2%. Sản lượng cây ngô ước đạt 1.203 tấn, tăng 56 tấn so với vụ mùa năm trước; cây khoai lang ước đạt 562,5 tấn, giảm 133 tấn so với vụ mùa năm trước; nhóm cây rau các loại ước đạt 91.059 tấn, giảm 2.822 tấn so với vụ mùa năm 2017, sản lượng các cây trồng trong nhóm rau các loại giảm do diện tích gieo trồng giảm: sản lượng rau muống ước 22.973 tấn, giảm 420 tấn; sản lượng rau cải xanh các loại 18.300 tấn, giảm 3.310 tấn; sản lượng dưa hấu 6.736 tấn, giảm 402 tấn; sản lượng bí xanh 2.626 tấn, giảm 312 tấn; sản lượng mướp ngọt 1.040 tấn, giảm 636 tấn,...
Tính hình sản xuất vụ Đông 2018-2019:
Ước tính đến ngày 15 tháng 11 năm 2018, diện tích gieo trồng cây vụ Đông ước đạt 4.725 ha, bằng 61,54% so với vụ Đông năm trước, trong đó nhiều diện tích cây trồng ưa thời tiết ấm (cây ngô, cây bí xanh,…) đã cơ bản gieo trồng xong, cây ngô đạt 290 ha, bằng 84%; cây bí xanh đạt 200 ha, bằng 87% so với cùng kỳ năm trước.
Trên những diện tích đã gieo trồng các loại cây trồng vụ đông sinh trưởng phát triển thuận lợi: cây cà chua, bí xanh, dưa chuột đang trong giai đoạn phát triển thân lá và ra hoa; cây rau bắp cải, củ đậu, khoai tây đang trong giai đoạn phát triển thân lá,…Một số đối tượng sinh vật gây hại chính như: sâu tơ, sâu xanh bướm trắng, bọ nhảy gây hại rải rác trên cây họ thập tự (bắp cải, su hào, xúp lơ); bọ trĩ trên cây ớt, bệnh héo xanh, chết dây trên cây bí xanh, bệnh lùn sọc đen trên cây ngô, các đối tượng sinh vật gây hại ở mức độ thấp với tổng diện tích nhiễm ước khoảng 9,3 ha.
* Chăn nuôi
Ước tính tháng 11 năm 2018, số lượng đầu con gia súc toàn thành phố hiện có như sau: đàn trâu đạt 5.204 con, bằng 97,45%; đàn bò đạt 13.033 con, bằng 96,58%; đàn lợn đạt 422.405 con, bằng 94,71% so với cùng kỳ năm trước. Chăn nuôi gia súc tiếp tục có xu hướng giảm do đàn trâu, bò được nuôi chủ yếu với mục đích thương phẩm, ít sử dụng cho cày kéo, thời gian nuôi kéo dài, diện tích đồng cỏ dùng cho chăn nuôi cũng ngày càng thu hẹp. Riêng đối với đàn lợn giảm nhiều chủ yếu ở khu vực gia trại và hộ (chiếm khoảng 78,78% tổng đàn). 
Đàn gia cầm vẫn duy trì ổn định và tăng so với cùng kỳ, chăn nuôi nhỏ ở các hộ đang có xu hướng giảm, chăn nuôi quy mô lớn (trang trại, gia trại) đang ngày càng phát triển. Tổng đàn gia cầm tháng 11/2018 ước đạt 8.008,7 nghìn con tăng 1,75% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: đàn gà đạt 6.364,2 nghìn con, tăng 2,01%.
Giá giống vật nuôi và giá thức ăn chăn nuôi tháng 11/2018 dao động nhẹ so với tháng trước, giá sản phẩm chăn nuôi duy trì ở mức ổn định.
 Tình hình dịch bệnh: 
Trong tháng 11/2018, trên địa bàn thành phố không phát sinh dịch bệnh xảy ra trên đàn vật nuôi. Công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm; công tác thú y, công tác tổ chức tiêm phòng các loại vacxin tiếp tục được các cấp, ngành quan tâm, chỉ đạo tích cực, tuyên truyền rộng rãi nâng cao ý thức của người chăn nuôi.
2.2. Lâm nghiệp
Ước tính tháng 11 năm 2018, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 185 m3, bằng 92,96% so với cùng kỳ năm trước, sản lượng củi khai thác đạt 5.950 ste, bằng 97,86% so với cùng kỳ năm trước. Ước tính 11 tháng/2018, sản lượng gỗ khai thác đạt 2.915 m3, bằng 97% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng củi khai thác đạt 57.885 ste, bằng 97,39% so với cùng kỳ năm trước (sản lượng gỗ, củi chủ yếu được khai thác và thu nhặt từ cây lâm nghiệp trồng phân tán); diện tích rừng trồng mới tập trung đạt 56,5 ha, bằng 59,91% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 208,5 nghìn cây. 
Diện tích rừng hiện được giao khoán bảo vệ 15.439,4 ha; công tác phòng cháy, chữa cháy rừng luôn được các cấp, ngành quan tâm chỉ đạo nên trong tháng không có vụ cháy rừng nào xảy ra.
2.3. Thủy sản
Sản lượng nuôi trồng và khai thác thủy sản tháng 11/2018 ước đạt 17.357,2 tấn, tăng 572,6 tấn, bằng 103,41% so với cùng kỳ năm trước; ước 11 tháng/2018 đạt 148.759 tấn, tăng 16.770 tấn, bằng 112,71% so với cùng kỳ năm trước.
* Nuôi trồng
Diện tích nuôi trồng thủy sản 11 tháng/2018 ước đạt 14.501,2 ha, bằng 97,51% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: cá các loại đạt 9.286,5 ha, bằng 98,06%; tôm các loại đạt 3.713,5 ha, bằng 97,47%; thủy sản khác đạt 1.501,2 ha, bằng 94,35%. 
Sản lượng nuôi trồng thủy sản thu hoạch tháng 11/2018 ước đạt 9.073,4 tấn, bằng 103,5% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: cá các loại đạt 5.790,3 tấn, bằng 102,92%; tôm các loại đạt 470,5 tấn, bằng 90,59%; thủy sản khác đạt 2.812,6 tấn, bằng 107,33%. Ước 11 tháng/2018 sản lượng nuôi trồng thủy sản thu hoạch ước đạt 60.594,5 tấn, bằng 106,52% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: cá các loại đạt 38.255,8 tấn, bằng 109,88%; tôm các loại đạt 5.171,1 tấn, bằng 115,35%; thủy sản khác đạt 17.167,6 tấn, bằng 97,62%. 
Khu vực nuôi nước ngọt tiếp tục thu hoạch sản phẩm xuất bán, chủ động các biện pháp phòng tránh rét, phòng bệnh trong giai đoạn chuyển mùa. Khu vực nuôi nước lợ thu tỉa và thả bù con giống tôm sú, tôm rảo, cua biển… tại các đầm nuôi quảng canh cải tiến; tập trung chăm sóc các đối tượng thả nuôi vụ mới. Một số đầm nuôi tôm thẻ chân trắng đã tiến hành nuôi tôm theo hình thức hai giai đoạn, tôm sinh trưởng, phát triển tốt; tại các bãi nuôi nhuyễn thể tiến hành kiểm tra gia cố hệ thống đăng chắn, san thưa, rải đều ngao tại các vị trí bị sóng đánh dồn cục bộ. Khu vực nuôi cá lồng bè vẫn thu hoạch xuất bán sản phẩm tươi sống; chủ động vệ sinh lồng bè, chăm sóc tích cực để thu hoạch dịp cuối năm, phục vụ nhu cầu tiêu dùng trên địa bàn thành phố và các tỉnh thành lân cận.
Khu vực sản xuất giống, các trại giống thủy sản nước ngọt tập trung nuôi vỗ đàn cá bố mẹ chuẩn bị cho vụ sản xuất 2019; các trại giống nước mặn lợ tiếp tục cho sinh sản cua biển, tôm sú, tôm rảo,… phục vụ nhu cầu thả bù của các, đầm nuôi trồng thủy sản mặn lợ, sản lượng con giống 11 tháng/2018 ước đạt 2.129,6 triệu con, bằng 102,92% so với cùng kỳ năm trước.
* Khai thác 
Sản lượng thủy sản khai thác tháng 11/2018 ước đạt 8.283,8 tấn, bằng 103,31% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: cá các loại đạt 5.564,6 tấn, bằng 107,69%, tôm các loại đạt 587,2 tấn, bằng 98,18%; thủy sản khác đạt 2.132 tấn, bằng 94,63%. Ước tính 11 tháng/2018 sản lượng thủy sản khai thác đạt 88.164,5 tấn, bằng 117,39%, chia ra: cá các loại đạt 52.745,2 tấn, bằng 122,7%; tôm các loại đạt 7.166,9 tấn; bằng 117,69%; thủy sản khác đạt 28.252,4 tấn, bằng 108,55%. Sản lượng thủy sản khai thác tăng cao chủ yếu là do sản lượng thủy sản khai thác biển đem lại, tính chung 11 tháng/2018 sản lượng khai thác biển đạt 83.731,5 tấn, bằng 115,48% so với cùng kỳ năm trước, chiếm 94,98% tổng sản lượng khai thác.
3. Đầu tư xây dựng
Dự tính 11 tháng/2018, vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn là 8.870,4 tỷ đồng, tăng 35,79% so với cùng kỳ. Chia ra:
- Vốn ngân sách nhà nước cấp thành phố ước 7.711,3 tỷ đồng, tăng so với cùng kỳ 45,52%;
- Vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước 891,1 tỷ đồng, giảm so cùng kỳ 7,62%;
- Vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước 267,9 tỷ đồng, giảm so với cùng kỳ 0,21%.
Năm 2018 nguồn ngân sách nhà nước tiếp tục đầu tư cho các dự án hạ tầng giao thông, các dự án trọng điểm của thành phố mang tính đối nội, đối ngoại đã được khởi công, khánh thành và một số dự án chuyển tiếp qua nhiều năm. Dự tính 11 tháng/2018 vốn ngân sách nhà nước cấp thành phố tăng 45,52% so với cùng kỳ, thấp hơn nhiều so với tốc độ tăng 11 tháng cùng kỳ năm 2017 (11 tháng/2017 tăng 84,05%); tốc độ tăng của nguồn ngân sách nhà nước cấp thành phố tiếp tục có xu hướng giảm dần trong các tháng cuối năm 2018, do thời điểm cuối năm thành phố chưa bổ sung vốn cho các dự án, nguồn vốn tập trung vào các dự án chuyển tiếp từ năm trước, các dự án cấp bách, quan trọng như: dự án đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật khu đô thị mới Bắc Sông Cấm; dự án đầu tư chỉnh trang lại sông Tam Bạc; dự án thoát nước mưa, nước thải và quản lý chất thải rắn thành phố giai đoạn I; dự án xây dựng trục đường Hồ Sen – Cầu Rào 2; dự án xây dựng nút giao thông phía Nam cầu Bính…
Đóng góp lớn vào vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn ngân sách do địa phương quản lý là nguồn cân đối ngân sách thành phố, ước 11 tháng/2018 đạt 6.364,7 tỷ đồng, tăng 61,7% so với cùng kỳ. Trong khi đó nguồn trung ương hỗ trợ có mục tiêu vẫn giảm mạnh (11 tháng/2018 giảm 21,97% so với cùng kỳ). Đó là sự nỗ lực rất lớn trong cân đối thu chi, tập trung nguồn lực cho các công trình, dự án trọng điểm. 
Thực hiện nguồn vốn nước ngoài (ODA) dự kiến 11 tháng/2018 tăng 3,41% so với cùng kỳ. Năm 2018, nguồn vốn này bố trí cho 7 dự án: dự án phát triển giao thông đô thị Hải Phòng; dự án thoát nước mưa, nước thải và quản lý chất thải rắn; dự án Quản lý đất đai; dự án cung cấp trang thiết bị y tế cho Bệnh viện phụ sản Hải Phòng và các dự án trong chương trình mục tiêu ứng phó với biến đổi khí hậu và tăng trưởng nhanh. Các dự án tuy còn gặp nhiều khó khăn về vốn nhưng chủ đầu tư vẫn cố gắng thực hiện một số gói thầu kịp tiến độ.
Tình hình thực hiện một số dự án lớn đến thời điểm hiện nay: 
- Dự án đầu tư xây dựng Hạ tầng kỹ thuật khu đô thị mới Bắc sông Cấm với tổng mức đầu tư là 9.899 tỷ đồng, mục tiêu là xây cầu Hoàng Văn Thụ, xây dựng hệ thống đê, xây dựng hệ thống kè sông Cấm, xây dựng hệ thống giao thông chính và hệ thống hạ tầng kỹ thuật nhằm phục vụ cho toàn bộ khu vực Bắc sông Cấm với quy mô 1.445,51 ha. Sau hơn 20 tháng thi công cầu Hoàng Văn Thụ đã dần hoàn thiện và đang chuẩn bị những khâu cuối cùng. Nhiều gói thầu đã hoàn thành, gói thầu xây dựng cầu chính, cầu dẫn, hệ thống điện chiếu sáng mỹ thuật cầu Hoàng Văn Thụ và các hệ thống phụ trợ đồng bộ đạt gần 90% giá trị hợp đồng. Hợp phần xây dựng các công trình hạ tầng kỹ thuật bao gồm nhiều gói thầu đã hoàn thành và đang được triển khai tích cực như gói thầu xây dựng đường chính khu vực từ đường 359 đến đường trục chính Bắc Nam 02; xây dựng đường trục chính Bắc Nam, Đông Tây; xây dựng hệ thống thoát nước mưa, nước thải của dự án. Dự kiến ngày 31/01/2019 sẽ hoàn thành công trình cầu Hoàng Văn Thụ và đến hết Quý I/2019 sẽ hoàn thành toàn bộ dự án.
- Dự án phát triển giao thông đô thị Hải Phòng với tổng mức đầu tư 5.342 tỷ đồng, tiến độ cơ bản hoàn thành theo kế hoạch tuy nhiên do gặp vướng mắc trong công tác đền bù, giải phóng mặt bằng để thực hiện các gói thầu thuộc hợp phần A (xây lắp tuyến đường trục đô thị) làm ảnh hưởng chung đến toàn dự án. Hiện nay, tiến độ các gói thầu xây lắp tuyến đường trục trung bình đạt 71% khối lượng hợp đồng.
- Dự án đầu tư chỉnh trang lại sông Tam Bạc (đoạn từ cầu Lạc Long đến công viên Tam Bạc) với tổng mức đầu tư 1.454 tỷ đồng sau gần 4 tháng thi công đang được đẩy nhanh tiến độ với các hạng mục chính là cải tạo, nạo vét lòng sông, kéo dài và mở rộng hai tuyến đường bên bờ sông Tam Bạc. Dự án đã triển khai và cơ bản hoàn thành giải phóng mặt bằng, khối lượng thực hiện đạt gần 800 tỷ đồng (bao gồm chi phí đền bù giải phóng mặt bằng). Dự kiến công trình sẽ hoàn thành vào đầu năm 2019.
- Dự án đầu tư xây dựng trục đường Hồ Sen - Cầu Rào 2, đoạn từ nút giao Nguyễn Văn Linh đến ngã 3 đường chợ Con hiện tại đang tiến hành xây dựng tại khu vực nút giao. Đến thời điểm hiện tại ước khối lượng thực hiện đạt khoảng 51% tổng giá trị phần nút giao, phấn đấu hoàn thành trước Tết Nguyên đán 2019.
- Ngày 2/9/2018 dự án xây dựng nút giao thông Nam cầu Bính đã được khởi công. Dự án gồm nhiều hạng mục đầu tư như các đường trong nút giao với bề rộng nền 40-50 mét, các cầu nối, hầm chui, hệ thống thoát nước, cây xanh… với tổng mức đầu tư gần 1.500 tỷ đồng từ ngân sách thành phố và dự kiến sẽ hoàn thành sau 18 tháng thi công. Đây là công trình đảm nhận chức năng quan trọng về giao thông đối nội và đối ngoại, giúp giảm ùn tắc giao thông và tai nạn giao thông, được đánh giá là nút giao ngã 6 ở cửa ngõ vào trung tâm thành phố.
* Tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngoài
Tính đến 15/11/2018 Hải Phòng có 598 dự án còn hiệu lực:
Tổng vốn đầu tư    :       16.771,3 triệu USD
Vốn điều lệ        :         5.743,3 triệu USD
Vốn Việt Nam góp    :            241,8 triệu USD
Nước ngoài góp    :         5.501,5 triệu USD
Từ đầu năm đến 15/11/2018, toàn thành phố có 89 dự án cấp mới với số vốn đầu tư đạt 555,83 triệu USD và 39 dự án điều chỉnh tăng vốn với số vốn tăng là 1.829,36 triệu USD. Các dự án mới và tăng vốn chủ yếu ở ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.
Từ nửa cuối tháng 10 đến 15/11/2018 có 6 dự án cấp mới, có 3 dự án điều chỉnh tăng vốn. Đối với dự án cấp mới và điều chỉnh tăng vốn, vốn đầu tư trên 1 dự án không nhiều (đối với dự án cấp mới, vốn đầu tư cao nhất chỉ đạt 5 triệu USD và dự án điều chỉnh tăng cao nhất cũng chỉ đạt 15 triệu USD). 
Cũng từ đầu năm đến 15/11/2018, có 3 dự án thu hồi do không triển khai, 9 dự án chấm dứt hoạt động theo quyết định của nhà đầu tư, 1 dự án chuyển thành 100% vốn trong nước trong đó có 4 dự án trong khu công nghiệp và 9 dự án ngoài khu công nghiệp.
Ước thực hiện vốn đầu tư đạt 40,5%.
4. Tổng mức lưu chuyển hàng hóa và doanh thu dịch vụ
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 11 năm 2018 ước đạt 10.363,84 tỷ đồng, tăng 1,14% so với tháng trước và tăng 16,32% so với cùng kỳ năm trước. Cộng dồn 11 tháng/2018, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 107.902,39 tỷ đồng, tăng 15,23% so với cùng kỳ năm trước. 
* Chia theo khu vực kinh tế 
- Khu vực kinh tế nhà nước ước đạt 330,08 tỷ đồng, tăng 1,25% so với tháng trước, tăng 21,5% so với cùng kỳ năm trước; 11 tháng/2018 ước đạt 3.059,24 tỷ đồng, tăng 16,26% so với cùng kỳ năm trước;
- Khu vực kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 9.479,82 tỷ đồng, tăng 1,09% so với tháng trước và tăng 16,05% so với cùng kỳ năm trước; 11 tháng/2018 ước đạt 99.478,56 tỷ đồng, tăng 15,3% so với cùng kỳ năm trước;
- Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 553,94 tỷ đồng, tăng 2,07% so với tháng trước, tăng 18,03% so với cùng kỳ năm trước; 11 tháng/2018 ước đạt 5.364,6 tỷ đồng, tăng 12,83% so với cùng kỳ năm trước;
* Chia theo ngành hoạt động
- Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 11 năm 2018 ước đạt 7.704,52 tỷ đồng, tăng 1,27% so với tháng trước, tăng 13,61% so với cùng kỳ năm trước; 11 tháng/2018 ước đạt 81.319,07 tỷ đồng, tăng 13,81% so với cùng kỳ năm trước;
Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 11 năm 2018 ước tính tăng so với tháng trước ở hầu hết các ngành hàng, cụ thể: lương thực, thực phẩm tăng 0,30%; hàng may mặc tăng 1,86%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 0,9%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 1,85%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 1,07%...
Doanh thu ngành hàng gỗ và vật liệu xây dựng tăng cao do thời điểm cuối năm là mùa xây dựng nên nhu cầu xây mới, sửa chữa, hoàn thiện nhà ở và các công trình tăng mạnh; nhóm ngành hàng kinh doanh đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình cũng tăng cao do nhu cầu mua sắm các sản phẩm thiết yếu như chăn, ga, gối, đệm, dược phẩm, dụng cụ y tế… đều tăng. Bên cạnh đó do đang là thời điểm mùa cưới, giá vàng trong nước tăng trở lại nên doanh thu ngành hàng kim loại quý và sản phẩm ước tính tăng cao. Riêng doanh thu ngành hàng nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) tháng 11/2018 ước giảm 0,29% so với tháng trước do giá gas trong nước được điều chỉnh giảm 40.000 đồng/bình 12 kg, tương đương với mức giảm 3.333 đồng/kg.
Tính chung 11 tháng/2018, doanh thu bán lẻ hàng hoá tăng 13,81% so với cùng kỳ năm 2017, chủ yếu ở các nhóm ngành: lương thực, thực phẩm tăng 15,86%; hàng may mặc tăng 18,51%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 14,13%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 13,24%; phương tiện đi lại tăng 14,15%; xăng dầu tăng 17,86%; nhiên liệu khác tăng 11,69%;...
- Doanh thu dịch vụ lưu trú tháng 11 năm 2018 ước đạt 127 tỷ đồng, giảm 4,86% so với tháng trước và tăng 11% so với cùng kỳ năm trước; 11 tháng/2018 doanh thu lưu trú ước đạt 1.460 tỷ đồng, tăng 18,9% so với cùng kỳ năm 2017. 
- Doanh thu dịch vụ ăn uống tháng 11 năm 2018 ước đạt 1.565 tỷ đồng, tăng 0,77% so với tháng trước và tăng 28,7% so với cùng kỳ năm trước; 11 tháng/2018 doanh thu ăn uống ước đạt 15.243 tỷ đồng, tăng 24,15% so với cùng kỳ năm 2017. 
- Doanh thu du lịch lữ hành tháng 11 năm 2018 ước đạt 18,1 tỷ đồng, tăng 6,69% so với tháng trước, tăng 45,98% so với cùng kỳ năm trước; 11 tháng/2018 doanh thu lữ hành ước đạt 187,2 tỷ đồng, tăng 25,78% so với cùng kỳ năm 2017. 
- Doanh thu dịch vụ khác tháng 11 năm 2018 ước đạt 949,34 tỷ đồng, tăng 1,5% so với tháng trước, tăng 20,89% so với cùng kỳ năm trước; 11 tháng/2018 doanh thu dịch vụ khác ước đạt 9.693,73 tỷ đồng, tăng 13,52% so với cùng kỳ năm 2017.
Doanh thu các ngành dịch vụ khác trong tháng 11 đều ước tăng so với tháng trước, trong đó: dịch vụ giáo dục và đào tạo tăng 4,12%; dịch vụ sửa chữa máy vi tính, đồ dùng cá nhân và gia đình tăng 3,43%; dịch vụ khác tăng 7,42%...do đang là thời điểm cuối năm nên nhu cầu sửa chữa đồ dùng cá nhân, gia đình và các dịch vụ làm đẹp bắt đầu tăng mạnh.
5. Hoạt động lưu trú và lữ hành    
Tổng lượt khách tháng 11/2018 do các cơ sở lưu trú và lữ hành thành phố phục vụ ước đạt 653,85 nghìn lượt, giảm 5,96% so với tháng trước và tăng 15,69% so với cùng tháng năm 2017; trong đó khách quốc tế đạt 74 nghìn lượt, giảm 5,6% so với tháng trước và tăng 0,53% so với cùng tháng năm trước. Cộng dồn 11 tháng/2018, tổng lượt khách do các cơ sở lưu trú và lữ hành thành phố phục vụ ước đạt 7.299,5 nghìn lượt, tăng 18,43% so với cùng kỳ; trong đó khách quốc tế ước đạt 787,3 nghìn lượt, tăng 8,79% so với cùng kỳ 2017.
Đối với hoạt động lữ hành, lượt khách lữ hành tháng 11/2018 tăng 4,85% so với tháng trước. Cộng dồn 11 tháng/2018, lượt khách lữ hành tăng 1,29% so với cùng kỳ năm 2017. 
Tháng 11/2018 thời tiết bắt đầu lạnh, kết thúc mùa du lịch biển nên lượt khách lưu trú giảm, tuy nhiên, trong tháng các hãng hàng không có các chương trình giảm giá nhằm kích cầu du lịch nên lượt khách du lịch tăng lên đáng kể.
6. Vận tải hàng hóa và hành khách
6.1. Vận tải hàng hoá

Khối lượng hàng hoá vận chuyển tháng 11 năm 2018 ước đạt 16,3 triệu tấn, tăng 3,75% so với tháng trước và tăng 18,45% so với cùng tháng năm trước. Ước tính 11 tháng/2018 khối lượng hàng hoá vận chuyển đạt 161,5 triệu tấn, tăng 15,81% so với cùng kỳ năm trước. 
Khối lượng hàng hóa luân chuyển tháng 11 năm 2018 ước đạt 8.891,1 triệu tấn.km, tăng 3,4% so với tháng trước và tăng 15,16% so với cùng tháng năm trước. Ước tính 11 tháng/2018 khối lượng hàng hóa luân chuyển đạt 88.849,5 triệu tấn.km, tăng 15,21% so với cùng kỳ.
Nhìn chung, khối lượng hàng hóa vận chuyển, luân chuyển trong tháng 11 năm nay tiếp tục tăng trưởng ổn định ở cả 3 tuyến đường bộ, đường biển và đường thủy nội địa, các doanh nghiệp vận tải nhận được nhiều đơn hàng vận chuyển hơn.
6.2. Vận tải hành khách
Khối lượng hành khách vận chuyển tháng 11 năm 2018 ước đạt 5,5 triệu lượt, tăng 3,67% so với tháng trước, tăng 15,37% so với cùng tháng năm trước. Ước tính 11 tháng/2018 khối lượng hành khách vận chuyển đạt 56,5 triệu lượt, tăng 14,28% so với cùng kỳ năm trước.
Khối lượng hành khách luân chuyển tháng 11 năm 2018 đạt 219,8 triệu Hk.km, tăng 3,79% so với tháng trước và tăng 17,35% so với cùng tháng năm trước. Ước tính 11 tháng/2018 khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 2.259,4 triệu Hk.km, tăng 15,56% so với cùng kỳ năm trước.
Khối lượng hành khách vận chuyển và luân chuyển phát triển ổn định, tuy nhiên, không đồng đều ở các tuyến đường bộ, ven biển và thủy nội địa. Từ tháng 9 năm 2017, cầu vượt biển Tân Vũ - Lạch Huyện đi vào hoạt động, rút ngắn thời gian di chuyển, phương tiện đi lại linh hoạt, tiện lợi hơn nên lượng lớn khách du lịch ưu tiên di chuyển bằng đường bộ dẫn đến lượng hành khách ven biển tuyến Hải Phòng - Cát Bà tăng chậm, các doanh nghiệp vận tải cũng đã có phương án giảm giá vé tuy nhiên phần lớn chỉ phục vụ dân sinh và khách nội tỉnh. Bên cạnh đó vào ngày 2/9 vừa qua, cầu Bạch Đằng được thông xe làm rút ngắn khoảng cách Hải Phòng - Quảng Ninh xuống còn 25km thay vì 75 km như trước kia, ước tính lượng hành khách thông qua có sự tăng trưởng tốt.
6.3. Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải
Dịch vụ kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải phát triển ổn định, tháng 11 năm 2018 ước đạt 2.358,2 tỷ đồng, tăng 4,05% so với tháng trước và tăng 13,75% so với cùng tháng năm trước. Ước tính 11 tháng/2018 doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 23.855,5 tỷ đồng, tăng 14,61% so với cùng kỳ năm trước.
6.4. Sân bay Cát Bi
Tháng 11 năm 2018 tổng doanh thu của Sân bay Cát Bi ước đạt 21,8 tỷ đồng, tăng 0,97% so với tháng trước, tăng 36,64% so với cùng tháng năm 2017; 11 tháng/2018 tổng doanh thu của Sân bay Cát Bi ước đạt 221,9 tỷ đồng, tăng 22,78% so với cùng kỳ năm trước. 
Số lần máy bay hạ, cất cánh tháng 11 năm 2018 ước đạt 1.250 chuyến, tăng 10,42% so với tháng trước, tăng 24,5% so với cùng tháng năm 2017. Ước tính 11 tháng/2018 số lần máy bay hạ, cất cánh đạt 13.196 chuyến, tăng 4,66% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: chuyến bay ngoài nước tháng 11/2018 ước đạt 100 chuyến, tăng 16,28% so với cùng kỳ; 11 tháng/2018 ước đạt 1.009 chuyến, giảm 11,18% so với cùng kỳ năm trước. 
Tổng số hành khách tháng 11 năm 2018 ước đạt 198 ngàn lượt người, tăng 3,78% so với tháng trước, tăng 21,48% so với cùng tháng năm 2017. Ước tính 11 tháng/2018 tổng số hành khách ước đạt 2.180 ngàn lượt, tăng 15,6% so với cùng kỳ năm trước. 
Tổng số hàng hóa tháng 11 năm 2018 ước đạt 1.760 tấn, tăng 3,53% so với tháng trước, tăng 42,39% so với cùng tháng năm 2017. Ước tính 11 tháng/2018 tổng số hàng hóa thông qua đạt 15.359 tấn, tăng 53,12% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: lượng hàng hóa đi tăng 129,08%, hàng hóa đến tăng 12,21%so với cùng kỳ năm trước. Hàng hóa đi không những có sự tăng trưởng lớn về lượng mà các loại hàng còn rất đa dạng phong phú do các doanh nghiệp bắt đầu khai thác loại hình vận chuyển bằng đường hàng không. Dự kiến sắp tới sẽ có những tuyến bay mới chuyên chở hàng hóa từ các khu công nghiệp và vùng lân cận.
7. Hàng hoá thông qua cảng
Sản lượng hàng hóa thông qua cảng tháng 11 năm 2018 ước đạt 9,524 triệu TTQ, tăng 2,99% so với tháng trước và tăng 11,35% so với cùng kỳ năm trước, cụ thể: 
- Khối cảng thuộc kinh tế Nhà nước ước đạt 3,402 triệu TTQ, tăng 8,32% so với tháng trước, tăng 15,47% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: 
+ Cảng thuộc khối doanh nghiệp nhà nước Trung ương ước đạt 3,395 triệu TTQ, tăng 8,34% so với tháng trước, tăng 15,5% so với cùng kỳ năm trước.
+ Cảng thuộc khối doanh nghiệp Nhà nước địa phương ước đạt 7 ngàn TTQ, giảm 1,7% so với tháng trước, tăng 3,37% so với cùng kỳ năm trước. 
- Các cảng thuộc khu vực kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 6,122 triệu TTQ, tăng 0,24% so với tháng trước, tăng 9,18% so với cùng kỳ năm trước.
Cộng dồn 11 tháng/2018, sản lượng hàng hóa thông qua trên địa bàn thành phố đạt 97,190 triệu tấn, tăng 16,87% so với cùng kỳ năm 2017.
Các bến cảng Hải Phòng trong thời gian qua đã có bước phát triển quan trọng, góp phần phát triển giao thông vận tải của cả nước. Cùng với các công trình giao thông khác, cảng biển ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu vận chuyển hàng hóa, hành khách bằng đường biển; chất lượng dịch vụ logistics được nâng cao, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội của khu vực và cả nước. Một số cảng biển khu vực Hải Phòng đã được đầu tư hiện đại, có tốc độ tăng trưởng cao, năng lực bốc dỡ hàng hóa được cải thiện, đạt tiêu chuẩn quốc tế.
* Doanh thu cảng biển tháng 11 năm 2018 của khối cảng trên địa bàn thành phố ước đạt 491,8 tỷ đồng, tăng 0,24% so với tháng trước, tăng 28,56% so với cùng kỳ năm trước. Cộng dồn 11 tháng/2018 doanh thu cảng biển ước đạt 4.752 tỷ đồng, tăng 12,38% so với cùng kỳ năm trước.
8. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) thành phố Hải Phòng tháng 11 năm 2018 giảm 0,37% so với tháng trước, tăng 4,03% so với cùng kỳ năm trước và tăng 4,17% so với tháng 12/2017. CPI bình quân 11 tháng/2018 tăng 4,32% so với cùng kỳ năm trước.
Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 6 nhóm có chỉ số giá tháng 11/2018 tăng với mức tăng như sau: nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,16%; nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,21%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,10%; nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,06%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,06%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,34%. Có 3 nhóm hàng giảm là nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,35%; nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 1,30%; nhóm giao thông giảm 1,63%. Hai nhóm còn lại là nhóm bưu chính viễn thông và nhóm giáo dục ổn định.
          Nguyên nhân chính làm CPI tháng 11/2018 giảm là chỉ số giá xăng dầu giảm 4,18% đóng góp vào CPI chung giảm 0,14%, chỉ số giá thực phẩm giảm 0,63% làm cho CPI chung giảm 0,14%; chỉ số giá gas giảm 9,80% làm cho CPI chung giảm 0,10%; ...
Chỉ số giá nhóm lương thực tháng 11/2018 tăng 0,44% so với tháng trước, do tháng 11 là thời điểm tập trung thu hoạch lúa vụ mùa nên lượng thóc mới bán ra chưa nhiều, giá thóc mới tăng nên giá một số loại gạo tăng nhẹ cùng với việc tăng giá một số sản phẩm chế biến từ lương thực như bún, bánh phở... Chỉ số giá thực phẩm tháng 11/2018 giảm 0,63% so với tháng trước do giá thịt gia súc giảm. Sau dịp tăng giá mạnh vào những tháng trước, từ tháng 10/2018 đến nay, giá thịt lợn có xu hướng giảm song vẫn ở mức có lãi cho người chăn nuôi.
Chỉ số nhóm nhà ở, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 1,30%, tác động chính bởi chỉ số giá gas giảm. Chỉ số giá gas trong tháng 11 giảm 40.000 đồng/bình 12kg, tương đương với mức giảm 3.333 đồng/kg.
Chỉ số nhóm giao thông giảm 1,63%, chủ yếu do giá xăng, dầu diesel giảm 4,18% so với tháng trước. Trong tháng 11/2018, giá xăng dầu được điều chỉnh hai lần vào các ngày 06/11 và 21/11 với tổng mức giảm của xăng RON 95-IV là 2.230 đồng/lít, xăng sinh học E5 RON 92-II là 2.060 đồng/lít, dầu diesel là 980 đồng/lít.
* Chỉ số giá vàng 99,99% và Đô la Mỹ: 
          - Chỉ số giá vàng tháng 11/2018 tăng 1,00% so với tháng trước, giảm 1,26% so với cùng tháng năm 2017, giảm 0,87% so với tháng 12 năm trước. Giá vàng bình quân tháng 11/2018 dao động ở mức 3,536 triệu đồng/chỉ, tăng 35.000 đồng/chỉ so với tháng trước.
- Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 11/2018 giảm 0,05% so với tháng trước, tăng 2,74% so với cùng tháng năm 2017, tăng 2,73% so với tháng 12 năm trước. Tỷ giá USD/VND bình quân tháng 11/2018 dao động ở mức 23.371 đồng/USD, giảm 11 đồng/USD.
9. Hoạt động tài chính, ngân hàng 
9.1. Tài chính

Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn tháng 11/2018 ước đạt 7.439,9 tỷ đồng, ước 11 tháng/2018 đạt 65.984,6 tỷ đồng, tăng 9,8% so cùng kỳ năm trước, trong đó: thu nội địa tháng 11 ước đạt 2.262,1 tỷ đồng, ước 11 tháng/2018 đạt 20.474,5 tỷ đồng, tăng 18,1% so cùng kỳ; thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu tháng 11/2018 ước đạt 5.000 tỷ đồng, ước 11 tháng/2018 đạt 41.827 tỷ đồng, tăng 2,4% so cùng kỳ.
Trong thu nội địa, thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước đạt 335,3 tỷ đồng, ước 11 tháng/2018 đạt 2.832,6 tỷ đồng, tăng 5,4% so cùng kỳ; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 294,4 tỷ đồng, ước 11 tháng/2018 đạt 3.312 tỷ đồng, tăng 24,5% so với cùng kỳ; thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đạt 391,9 tỷ đồng, ước 11 tháng/2018 đạt 3.847 tỷ đồng, tăng 26,2% so cùng kỳ.
Tổng chi ngân sách địa phương tháng 11/2018 ước đạt 1.769,2 tỷ đồng, ước 11 tháng/2018 đạt 18.000,7 tỷ đồng, tăng 6,52% so với cùng kỳ, trong đó: Chi đầu tư xây dựng cơ bản đạt 873,7 tỷ đồng, ước 11 tháng/2018 đạt 8.800,9 tỷ đồng, tăng 59,6% so với cùng kỳ; chi thường xuyên đạt 811,2 tỷ đồng, ước 11 tháng/2018 đạt 8.226,2 tỷ đồng, tăng 5,4% so cùng kỳ. 
9.2. Ngân hàng 
* Công tác huy động vốn:
Tổng nguồn vốn huy động trên địa bàn ước thực hiện đến hết tháng 11 năm 2018 đạt 183.748 tỷ đồng, tăng 13,78% so với cùng kỳ năm trước, tăng 12,89% so với cuối năm 2017.
Theo loại tiền: Huy động bằng VND ước đạt 172.681 tỷ đồng, tăng 14,33% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 93,98%; ngoại tệ ước đạt 11.067 tỷ đồng, tăng 5,83% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 6,02%. 
Theo hình thức huy động: Huy động tiền gửi tiết kiệm ước đạt 129.251 tỷ đồng, tăng 19,28% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 70,34%; tiền gửi thanh toán ước đạt 50.596 tỷ đồng, tăng 3,46% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 27,54%; phát hành giấy tờ có giá ước đạt 3.901 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 2,12%.
* Công tác tín dụng:
Tổng dư nợ cho vay các thành phần kinh tế ước thực hiện đến hết tháng 11 năm 2018 đạt 112.610 tỷ đồng, tăng 16,19% so với cùng kỳ năm trước, tăng 13,76% so với cuối năm 2017.
Cơ cấu dư nợ theo loại tiền: Cho vay bằng VND đạt 106.294 tỷ đồng, tăng 19,06% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 94,39%. Cho vay ngoại tệ (quy đổi VND) ước đạt 6.316 tỷ đồng, bằng 82,69% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 5,61%.
Cơ cấu dư nợ phân theo thời hạn vay: Cho vay ngắn hạn ước đạt 49.826 tỷ đồng, tăng 16,16% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 44,25%; cho vay trung, dài hạn ước đạt 62.784 tỷ đồng, tăng 16,22% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 55,75%. 
10. Xuất nhập khẩu hàng hóa
10.1. Xuất khẩu hàng hoá

Kim ngạch xuất khẩu tháng 11 năm 2018 ước đạt 721,7 triệu USD, tăng 1,17% so với tháng trước; trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 195,4 triệu USD, tăng 0,85%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 526,2 triệu USD, tăng 1,29%. 
So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 11 năm 2018 tăng 28,81%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 25,02%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 30,27%.
Tính chung 11 tháng năm 2018, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 7.463,7 triệu USD, tăng 26,02% so với cùng kỳ năm 2017; trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 1.988,5 triệu USD, tăng 21,72%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 5.475,2 triệu USD, tăng 27,66%.
Một số mặt hàng xuất khẩu trong 11 tháng năm 2018 có kim ngạch tăng cao so với cùng kỳ năm trước: sản phẩm Plastic đạt 415,5 triệu USD, tăng 24,56%; hàng dệt may đạt 442,1 triệu USD, tăng 35,76%; giày dép đạt 1.501,2 triệu USD, tăng 15,59%; hàng điện tử đạt 504,4 triệu USD, tăng 83,48%; dây điện và cáp điện đạt 559,8 triệu USD, tăng 15,3%.
10.2. Nhập khẩu hàng hóa    
Kim ngạch nhập khẩu tháng 11 ước đạt 711,7 triệu USD, tăng 1,93% so với tháng trước; trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 248,8 triệu USD, tăng 1,41%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 462,9 triệu USD, tăng 2,22%. 
So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng 11 năm 2018 tăng 25,3%; trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 18,05%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 29,58%.
Tính chung 11 tháng năm 2018, kim ngạch nhập khẩu ước đạt 7.209,3 triệu USD, tăng 20,41% so với cùng kỳ năm 2017; trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 2.080,7 triệu USD, tăng 18,21%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 5.128,6 triệu USD, tăng 21,32%. 
Một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu trong 11 tháng năm 2018 tăng cao hơn so với cùng kỳ: hóa chất đạt 90,1 triệu USD, tăng 20,23%; phụ liệu hàng may mặc đạt 253 triệu USD, tăng 24,89%; phụ liệu giày dép đạt 957,8 triệu USD, tăng 17,32%; vải may mặc đạt 168 triệu USD, tăng 36,61%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 956,9 triệu USD, tăng 18,5%.
II. VĂN HÓA - XÃ HỘI
1. Lao động - thương binh, xã hội

* Công tác lao động, việc làm
Tháng 11 năm 2018 sàn giao dịch việc làm thành phố tổ chức 07 phiên giao dịch việc làm, với 210 lượt doanh nghiệp tham gia tuyển dụng, nhu cầu tuyển dụng là 39.033 lượt lao động; hướng dẫn, tiếp nhận thỏa ước lao động tập thể được 15 doanh nghiệp. Đến thời điểm báo cáo trên địa bàn thành phố không xảy ra đình công, xảy ra 01 vụ tai nạn lao động làm 01 người chết.
Tính chung 11 tháng năm 2018 đã tổ chức được 35 phiên giao dịch việc làm với sự tham gia tuyển dụng của 1.267 lượt doanh nghiệp, nhu cầu tuyển dụng 118.571 lượt lao động. Cung lao động tại sàn đạt 89.154 lượt người, đáp ứng 75,19% nhu cầu tuyển dụng. Đăng ký bảo hiểm thất nghiệp đạt 11.670 người, đã giải quyết chế độ bảo hiểm thất nghiệp cho 9.743 người (giảm 20,56% so với cùng kỳ năm 2017); hướng dẫn, tiếp nhận thỏa ước lao động tập thể được 124 doanh nghiệp (bằng 109% so với cùng kỳ năm 2017).
Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn thành phố xảy ra 05 cuộc đình công với 3.877 lao động tham gia (giảm 03 cuộc và tăng 1.707 lao động so với cùng kỳ năm 2017); xảy ra 09 vụ tai nạn làm 09 người chết (giảm 04 vụ và 04 người chết so với cùng kỳ năm 2017).
* Công tác giáo dục nghề nghiệp
Tổng số tuyển sinh trên toàn thành phố 11 tháng năm 2018 ước đạt 47.900 học sinh, sinh viên, đạt 93,9% kế hoạch năm và bằng 115% so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó cao đẳng 3.700 sinh viên; trung cấp 4.600 học sinh; sơ cấp và đào tạo dưới 3 tháng đạt 39.600 học viên). Tỷ lệ lao động qua đào tạo ước đạt 80%, trong đó tỷ lệ lao động qua đào tạo có chứng chỉ trở lên đạt 33%, tăng 1 điểm % so với năm 2017 và bằng 100% kế hoạch năm.
* Công tác người có công
Tháng 11 năm 2018, giải quyết chế độ chính sách đối với 2.243 trường hợp; tiếp nhận, thẩm định để thực hiện chính sách và phục vụ công tác quản lý đối với 356 trường hợp; đề nghị công nhận liệt sĩ 11 trường hợp; quyết định công nhận đối với người tham gia kháng chiến và con đẻ của họ bị nhiễm chất độc hoá học với 27 trường hợp. Cộng dồn11 tháng năm 2018 đã giải quyết chế độ chính sách cho 11.862 trường hợp; trợ cấp hàng tháng cho 77 người; xác nhận miễn giảm tiền sử dụng đất theo Quyết định 118/QĐ-TTg cho 100 trường hợp; quyết định chế độ ưu đãi trong giáo dục đào tạo đối với người có công và con đẻ của họ cho 32 người; quyết định trợ cấp 1 lần đối với 401 người có công và thân nhân; công nhận, đề nghị công nhận 517 người có công.
* Công tác giảm nghèo - bảo trợ xã hội
Tháng 11/2018, tiếp nhận 03 đối tượng vào các Trung tâm bảo trợ xã hội, tập trung được 65 lượt người lang thang. Trong 11 tháng năm 2018 đã tiếp nhận 49 đối tượng đưa vào điều trị, chăm sóc và nuôi dưỡng tại các cơ sở bảo trợ xã hội, tổng số đối tượng hiện có 714 người, bằng 116,4% so với cùng kỳ năm 2017; tập trung 726 lượt người lang thang (bằng 81,6% cùng kỳ).
* Công tác phòng, chống tệ nạn xã hội
Trong tháng 11/2018 tổ chức quản lý, cai nghiện ma túy tập trung tại Cơ sở cai nghiện ma túy cho 1.642 lượt người; cai nghiện tại gia đình và cộng đồng cho 27 người; kết hợp cùng Công an xét nghiệm ma tuý với 74 đối tượng bị bắt giữ, kiểm tra 34 buổi tại 136 cơ sở kinh doanh nhà nghỉ, khách sạn, quán karaoke... Trong 11 tháng đầu năm 2018 đã tổ chức quản lý, cai nghiện ma túy tập trung tại các cơ sở cho 2.828 lượt người, bằng 91% so với cùng kỳ năm trước; cai nghiện tại gia đình và cộng đồng cho 362 người, bằng 118,3% cùng kỳ năm trước; phối hợp với Công an xét nghiệm tìm chất ma túy đối với 582 đối tượng bị bắt giữ, kết quả phát hiện 309 trường hợp dương tính với ma túy; kiểm tra 353 buổi tại 1.390 cơ sở kinh doanh nhà nghỉ, khách sạn, karaoke...
2. Giáo dục – Đào tạo
Các trường học, đơn vị tổ chức phong trào dạy tốt, học tốt, thi đua lập thành tích chào mừng 36 năm ngày nhà giáo Việt Nam 20/11/1982 – 20/11/2018 và kỷ niệm 63 năm ngày truyền thống ngành Giáo dục và Đào tạo thành phố Hải Phòng; tổ chức khảo sát chất lượng đầu năm học 2018 – 2019. Sở Giáo dục và Đào tạo tiến hành thanh tra, kiểm tra nề nếp, chuyên môn, kế hoạch năm học một số đơn vị giáo dục; tổ chức kỳ thi chọn học sinh giỏi các môn văn hóa lớp 12 THPT và kỳ thi chọn học sinh giỏi tham dự đội tuyển học sinh giỏi quốc gia lớp 12 năm học 2018 -2019.
3. Y tế và An toàn vệ sinh thực phẩm
* Công tác y tế dự phòng
Công tác phòng chống dịch bệnh trên địa bàn thành phố tiếp tục được tiến hành nghiêm ngặt với đầy đủ cơ số thuốc, hóa chất, phương tiện. Duy trì chặt hoạt động phối hợp với Chi cục Thú y trong phát hiện sớm dịch bệnh trên gia súc, gia cầm để chủ động bao vây, xử lý dịch. Diễn biến một số bệnh truyền nhiễm trong tháng 10/2018 so với tháng 9/2018: 35 ca sốt xuất huyết (tăng 16 ca); 329 ca tay chân miệng (tăng 87 ca); 12 ca thủy đậu (giảm 03 ca); 28 ca quai bị (tăng 11 ca); 203 ca tiêu chảy (tăng 14 ca); 404 ca cúm (tăng 61 ca); 16 ca sởi (tăng 14 ca).
* Công tác an toàn vệ sinh thực phẩm
Đoàn kiểm tra của Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm đã tiến hành kiểm tra 20 trường học có bếp ăn tập thể trên địa bàn thành phố,trong đó: 09 trường tiểu học, 11 trường mầm non, mẫu giáo. Kết quả cho thấy các trường thực hiện tương tốt các quy định bảo đảm an toàn thực phẩm, chỉ có 04 cơ sở không đạt yêu cầu (tỷ lệ 80%). Các trường hợp không đạt yêu cầu bị nhắc nhở, đề nghị có biện pháp khắc phục.
* Công tác phòng, chống HIV/AIDS
Trong tháng 10/2018 phát hiện 22 người nhiễm HIV, số bệnh nhân chuyển AIDS 03 người, số bệnh nhân tử vong 05 người. Tính đến ngày 31/10/2018, lũy tích người nhiễm HIV 12.280 người, số người chuyển sang AIDS 6.274 người, số người chết do AIDS là 4.538 người, số người nhiễm HIV hiện còn sống là 7.742 người.
4. Văn hóa - Thể thao
* Công tác văn hóa
Chương trình công diễn vở chèo "Hào khí Bạch Đằng Giang" được tổ chức thành công tại Nhà hát thành phố sau 5 tháng chuẩn bị. Phối hợp với các cơ quan, sở ngành triển khai thực hiện sự kiện khởi hành "Hành trình xe cổ Vân Nam (Trung Quốc) tới một số địa phương tại Việt Nam". Xây dựng kế hoạch tổ chức Lễ khánh thành Nhà tưởng niệm đồng chí Nguyễn Đức Cảnh. Tham gia Liên hoan nghệ thuật Ca trù toàn quốc tại Hà Tĩnh, đoàn Hải Phòng đạt giải nhất toàn đoàn với 03 giải A, 01 giải B và 01 giấy khen cho tiết mục xuất sắc.
* Công tác thể thao
Tổ chức thành công Giải Bóng đá vô địch các Câu lạc bộ thành phố - Cúp Báo An ninh Hải Phòng lần thứ XVII năm 2018; chuẩn bị công tác tổ chức thi đấu giải vô địch Cầu lông các Câu lạc bộ thành phố Hải Phòng năm 2018.Trong 11 tháng năm 2018, các vận động viên thể thao thành tích cao Hải Phòng đã tham gia thi đấu 88 giải quốc gia, quốc tế và khu vực đạt 377 huy chương các loại.
5. Tình hình trật tự an toàn giao thông
Từ ngày 16/10/2018 đến ngày 15/11/2018 toàn thành phố xảy ra 14 vụ tai nạn giao thông đường bộ làm chết 13 người và bị thương 05 người. So với cùng kỳ năm 2017 số vụ tai nạn giao thông không đổi, số người chết tăng 02 người và số người bị thương giảm 04 người. 
Cộng dồn từ đầu năm 2018 đến thời điểm báo cáo, trên địa bàn thành phố đã xảy ra tổng cộng 93 vụ tai nạn giao thông, trong đó đường bộ 92 vụ, đường thủy 01 vụ, làm 81 người chết, 40 người bị thương. So với cùng kỳ năm 2017 số vụ tai nạn giao thông giảm 1,06%, số người chết giảm 5,81%, số người bị thương giảm 14,89%. Nhìn chung trên địa bàn thành phố không xảy ra tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng, chủ yếu đến từ sự bất cẩn khi tham gia giao thông của người dân.
6. Công tác phòng chống cháy, nổ
Từ ngày 16/10/2018 đến ngày 15/11/2018 trên địa bàn thành phố xảy ra 11 vụ cháy, trong đó có 05 vụ cháy nhà dân, làm 01 người chết và 03 người bị thương. Giá trị thiệt hại về tài sản đang chờ xác định. Tính chung từ đầu năm 2018, toàn thành phố đã xảy ra 138 vụ cháy, nổ (tăng 100% so với cùng kỳ năm 2017), làm 05 người chết (tăng 300%) và 09 người bị thương (giảm 25%), giá trị thiệt hại ước tính 13.245,1 triệu đồng (giảm 12,70%).

Tác giả bài viết: Cục Thống kê Hải Phòng

 Từ khóa: thành phố, tiêu dùng

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Xếp hạng: 0 - 0 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019

Hỏi đáp Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây