Tình hình kinh tế - xã hội thành phố Hải Phòng tháng 10/2018

Thứ hai - 29/10/2018 02:44
Kim ngạch xuất khẩu tháng 10 năm 2018 ước đạt 725,6 triệu USD, tăng 2,75% so với tháng trước; trong đó: khu vực kinh tế trong nước ước đạt 187,3 triệu USD, tăng 1,95%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 538,3 triệu USD, tăng 3,03%.
BÁO CÁO
TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI THÁNG 10, 10 THÁNG NĂM 2018
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ
1. Sản xuất công nghiệp

Chỉ số phát triển sản xuất (PTSX) công nghiệp trên địa bàn thành phố tháng 10 năm 2018 ước tăng 4,22% so với tháng trước và tăng 29,34% so với cùng kỳ. Tính chung 10 tháng năm 2018, chỉ số sản xuất công nghiệp thành phố ước tăng 25,62% so với cùng kỳ năm 2017.
 
Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng cao với mức tăng 28,56%, đóng góp 25,24 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 2,45%, đóng góp 0,4 điểm phần trăm; ngành khai khoáng giảm 0,66%, làm giảm 0,003 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 0,91%, làm giảm 0,02 điểm phần trăm mức tăng chung.
Trong 51 nhóm ngành kinh tế cấp 4 có 26 ngành có chỉ số PTSX công nghiệp 10 tháng năm 2018 ước tăng so với cùng kỳ, trong đó: ngành sản xuất thiết bị truyền thông  tăng cao nhất, tăng 255,31%; sản xuất bê tông và các sản phẩm từ xi măng và thạch cao tăng 82,06%; may trang phục tiếp tục đứng thứ 3 với mức tăng 53,32%...
Có 25 ngành có chỉ số PTSX công nghiệp giảm, trong đó ngành đóng tàu và cấu kiện nổi giảm 51,57%; sản xuất đồ chơi giảm 36,61%; sản xuất thức ăn gia súc giảm 16,59%; sản xuất máy móc và thiết bị văn phòng giảm 16,95%;...
Tình hình sản xuất của các doanh nghiệp, dự án công nghiệp lớn tác động chủ yếu tới tăng trưởng công nghiệp thành phố 10 tháng/2018:
Ba dự án sản xuất sản phẩm công nghệ cao của tập đoàn LG trong 10 tháng năm 2018 đóng góp cho công nghiệp thành phố 89 nghìn tỷ đồng doanh thu, thu hút và tạo việc làm cho gần 13 nghìn lao động, trong đó công ty TNHH LG Display và LG Innoteck tuy mới đi vào sản xuất gần 1 năm đã có sức tăng trưởng sản xuất mạnh mẽ, là động lực chính cho tăng trưởng công nghiệp thành phố. Trong tháng 10/2018 công ty TNHH LG Display đã điều chỉnh tăng vốn đầu tư thêm 500 triệu USD chủ yếu cho lắp đặt máy móc thiết bị nhà máy H2, dự kiến đến cuối năm 2019 toàn bộ nhà máy H2 sẽ được đưa vào sản xuất chính thức. Công ty TNHH LG Innoteck đã đưa khu nhà xưởng 2 chính thức chạy thương mại, sản lượng sản xuất và tiêu thụ của doanh nghiệp sẽ tiếp tục tăng cao.  
Công ty TNHH may Regina Miracle tại Khu công nghiệp VSIP Hải Phòng với 3 nhà máy A, B, C đi vào sản xuất, dự kiến 10 tháng/2018 sản lượng sản xuất tăng 63% so cùng kỳ, tạo công ăn việc làm với thu nhập ổn định cho hơn 28 nghìn lao động. Trong thời gian tới, để đáp ứng quy mô lao động với hơn 40 nghìn người cho 5 nhà máy, doanh nghiệp dự kiến tuyển dụng nguồn lao động từ các tỉnh ngoài với những điều kiện thu hút như: bố trí xe đưa đón, hỗ trợ đi lại, nhà trọ cho công nhân...
Các doanh nghiệp sản xuất bê tông và các sản phẩm từ xi măng tiếp tục sản xuất lớn khối lượng sản phẩm cung cấp cho các dự án đầu tư xây dựng lớn trên địa bàn. Dự kiến tháng 10/2018, thời tiết thuận lợi, nhiều công trình lớn tập trung đẩy nhanh tiến độ, sản lượng sản xuất của các doanh nghiệp tiếp tục ổn định và có xu hướng tăng.
Ngành sản xuất giày dép ước 10 tháng/2018 có mức tăng trưởng 6,86% so với cùng kỳ, đây là kết quả tích cực của ngành này so với tốc độ cùng kỳ các năm trước, chủ yếu do sự dịch chuyển đơn hàng từ thị trường Trung Quốc, thị trường này có xu hướng chuyển sang sản xuất các sản phẩm công nghệ cao tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp Việt Nam. Bên cạnh đó là sự nỗ lực trong đầu tư máy móc thiết bị, nâng cao tay nghề, tìm kiếm thị trường của các doanh nghiệp sản xuất giày dép trên địa bàn. Đây cũng là ngành có tỷ trọng lao động công nghiệp lớn (chiếm 23,6% tổng số lao động toàn ngành công nghiệp).
Tình hình sản xuất của một số doanh nghiệp ở những ngành công nghiệp có tỷ trọng lớn giảm so cùng kỳ năm trước hoặc có tốc độ tăng thấp so với cùng kỳ, ảnh hưởng đến tăng trưởng công nghiệp 10 tháng/2018 trên địa bàn thành phố:
Ngành sản xuất xi măng 10 tháng/2018 ước giảm 6,51% so với cùng kỳ, trong đó 2 doanh nghiệp lớn là công ty xi măng Chinfon và công ty xi măng Vicem Hải Phòng ước tháng 10 và 10 tháng/2018 sản lượng sản xuất đều không đạt kế hoạch đề ra do có sự cạnh tranh gay gắt về giá bán so với các doanh nghiệp khác. Dự kiến các tháng cuối năm thời tiết khô ráo, thuận tiện cho hoạt động xây dựng cùng với nhu cầu hoàn thiện công trình, sản lượng sản xuất và tiêu thụ của các doanh nghiệp sẽ cao hơn.
Ngành sản xuất sắt thép ước 10 tháng/2018 tăng nhẹ (+2,95% so với cùng kỳ). Trong đó, các doanh nghiệp sản xuất phôi thép tiếp tục gặp nhiều khó khăn trong khâu tiêu thụ do không cạnh tranh được với giá phôi rẻ của thị trường ngoài, chủ yếu xuất bán nội bộ cho sản xuất thép xây dựng; sản lượng sản xuất giảm nhiều do thiếu nguyên liệu, nguồn phế liệu nhập khẩu về vẫn đang chờ được cấp phép khiến chi phí nhập khẩu cao, ảnh hưởng đến chi phí sản xuất…
Ngành sản xuất và phân phối điện 10 tháng/2018 ước tăng 2,45% so với cùng kỳ năm 2017. Công ty CP Nhiệt điện Hải Phòng trong tháng 10/2018 có 2 tổ máy hoạt động luân phiên, 1 tổ máy hoạt động đủ 30 ngày, riêng tổ máy số 4 đưa vào sửa chữa lớn, dự kiến tháng 11 mới hoạt động trở lại, ước tính khối lượng điện trong tháng 10/2018 doanh nghiệp bàn giao cho EVN vẫn đạt ở mức thấp.
Một số doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm có tỷ trọng lớn tiếp tục có tốc độ giảm so cùng kỳ do thiếu đơn hàng, chuyển đổi mẫu mã... như ngành đóng tàu, sản xuất môtơ, máy phát điện, sản xuất thức ăn gia súc, sản xuất máy văn phòng, sản xuất đồ chơi, sản xuất bia giảm do giảm sản lượng bia chai...
* Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tháng 10/2018 giảm 6,1% so với tháng trước và giảm 8,1% so với cùng kỳ năm trước; cộng dồn 10 tháng năm 2018 chỉ số tiêu thụ tăng 8,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao so cùng kỳ: sản xuất trang phục tăng 61%; sản xuất bánh bi, bánh răng, hộp số tăng 39,8%; sản xuất bê tông và các sản phẩm từ xi măng tăng 82,5%, sản xuất giày dép tăng 13,4%; sản xuất plastic và cao su tổng hợp tăng 24,1%... 
Một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm so cùng kỳ: sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm và thủy sản giảm 15,6%; sản xuất thuốc, hóa dược giảm 25,8%; sản xuất đồ điện dân dụng giảm 10,7%, sản xuất bia giảm 15,7%... 
* Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tại thời điểm 31/10/2018 tăng 5% so với tháng trước và tăng 0,3% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao so cùng kỳ: sản xuất sắt, thép, gang tăng 2,5 lần; sản xuất sản phẩm từ plastic tăng 22,2%; sản xuất đồ điện dân dụng tăng 2,6 lần; sản xuất cấu kiện kim loại tăng 39%; sản xuất dây cáp, dây điện tăng 46%.
Một số ngành có chỉ số tồn kho so với cùng kỳ giảm như: sản xuất săm lốp cao su giảm 26,1%; sản xuất máy móc và thiết bị văn phòng giảm 58%; sản xuất thiết bị truyền thông giảm 63,3%; may trang phục giảm 75,4%; sản xuất sản phẩm điện tử dân dụng giảm 87,4%.
* Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp ước tại thời điểm 31/10/2018 tăng 1,6% so với tháng trước và tăng 15,7% so với cùng kỳ, trong đó lao động khu vực doanh nghiệp nhà nước giảm 5,1%; lao động doanh nghiệp ngoài nhà nước tăng 6,1%; lao động doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 23,6%. 
Chia theo ngành cấp I: ngành khai khoáng giảm 19,5%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 16,7%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng giảm 9,6%; ngành cung cấp nước, quản lý, xử lý nước rác thải, nước thải tăng 0,7%. 
Trong 51 ngành cấp 4, một số ngành có chỉ số sử dụng lao động tăng cao: sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính tăng 6,4 lần; sản xuất trang phục tăng 28,6%; sản xuất thiết bị điện tăng 78,6%.
Một số ngành có chỉ số sử dụng lao động giảm như: sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng giảm 9,6%; sản xuất chế biến thực phẩm giảm 25,4%; sản xuất đồ uống giảm 4,7%.
* Một số sản phẩm công nghiệp ước 10 tháng năm 2018 so cùng kỳ: quần áo các loại đạt 110,4 triệu cái, tăng 33,6%; phân bón 188,7 nghìn tấn, giảm 6,7%; màn hình khác 6.772 nghìn cái, tăng 7,2%; máy giặt 1.063 nghìn cái, giảm 4,7%; lốp xe ô tô 2.199 nghìn cái, giảm 1,2%; sắt thép các loại 1.219 nghìn tấn, tăng 4,5%; xi măng Portland đen 3.945 nghìn tấn, giảm 6,5%; điện sản xuất đạt 5.046 triệu Kwh, tăng 0,5%.
2. Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản
 2.1. Nông nghiệp

* Trồng trọt
Sản xuất nông nghiệp trong tháng 10/2018 tập trung vào thu hoạch vụ mùa và gieo trồng cây màu vụ đông năm 2018.
Tình hình sản xuất vụ Mùa
Ước tính đến ngày 15 tháng 10 năm 2018, các trà lúa mùa đang giai đoạn chín, diện tích lúa đã thu hoạch đạt 4.400 ha, bằng 12,54% diện tích gieo cấy và bằng 11,83% so với vụ Mùa năm trước, năng suất trên tổng diện tích đã thu hoạch ước đạt 55,3 tạ/ha; sản lượng ước đạt 200 nghìn tấn; diện tích ngô đã thu hoạch đạt 155 ha, bằng 66,18% diện tích gieo trồng, năng suất trên diện tích đã thu hoạch đạt 51,2 tạ/ha; đậu tương diện tích thu hoạch đạt 35,2 ha, bằng 100% diện tích gieo trồng, năng suất đạt 16,6 tạ/ha; diện tích rau các loại đã thu hoạch đạt 2.880 ha, bằng 71,92% diện tích gieo trồng, năng suất trên diện tích đã thu hoạch đạt 224,92 tạ/ha...
Sản xuất vụ Mùa năm nay gặp nhiều khó khăn do tác động của thời tiết, diện tích đất gieo trồng thu hẹp dần nhưng với sự chỉ đạo của các cấp, ngành chủ động đề xuất các giải pháp hiệu quả về cơ cấu giống, lịch thời vụ, biện pháp canh tác, phòng trừ sâu bệnh... nên vụ Mùa dự kiến vẫn đạt năng suất cao.
Tình hình sản xuất vụ Đông
Tính đến ngày 15/10/2018, diện tích cây vụ Đông sớm gieo trồng ước đạt 1.820 ha, bằng 23,71% so với vụ Đông năm trước và đạt 18,2% so với kế hoạch, trong đó: diện tích ngô ước đạt 142 ha, bằng 41,18%; khoai lang ước đạt 122 ha, bằng 28,86%; rau các loại ước đạt 1.240 ha, bằng 19,55% so với vụ Đông năm trước.
Sản xuất vụ Đông năm 2018, cơ cấu cây trồng sẽ chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hóa, ưu tiên các loại cây có giá trị kinh tế cao, thị trường dễ tiêu thụ, kết hợp áp dụng các tiến bộ khoa học để hạ giá thành sản phẩm, tăng hiệu quả kinh tế. Đối với vùng đất chuyên màu, áp dụng các công thức luân canh, tăng vụ, lựa chọn giống rau màu có năng suất, chất lượng, cho giá trị kinh tế cao để tăng hiệu quả sản xuất. Tập trung cao cho công tác chỉ đạo sản xuất cây trồng an toàn, phấn đấu cơ bản diện tích rau màu vụ xuân sản xuất theo quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt (VietGAP), đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm; xây dựng “cánh đồng mẫu”, liên kết sản xuất cây trồng an toàn có hợp đồng tiêu thụ sản phẩm, xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu, chứng nhận sản phẩm.
* Chăn nuôi
Ước tính tháng 10 năm 2018, số lượng đầu con gia súc, gia cầm toàn thành phố hiện có như sau: đàn trâu đạt 5.349 con, bằng 99,89% so với cùng kỳ năm trước; đàn bò đạt 13.332 con, bằng 98,79% so với cùng kỳ năm trước; đàn lợn đạt 430.750 con, bằng 96,57% so với cùng kỳ năm trước; đàn gia cầm đạt 7.964,4 nghìn con, bằng 101,45% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: đàn gà đạt 6.333,3 nghìn con, bằng 101,84%.
Giá giống vật nuôi và giá thức ăn chăn nuôi tháng 10/2018 tăng so với tháng trước và tăng so với cùng kỳ năm trước, giá sản phẩm chăn nuôi duy trì ở mức ổn định, đặc biệt giá thịt lợn hơi vẫn tăng khá cao giúp người chăn nuôi có lãi, nhưng do chu kỳ sản xuất khá dài nên dự báo trong thời gian tới ngành chăn nuôi sẽ khó có khả năng tăng trưởng cao do giá sản phẩm xuất chuồng thiếu tính ổn định.
Tình hình dịch bệnh: 
Trong tháng 10/2018, trên địa bàn thành phố không phát hiện dịch bệnh xảy ra trên đàn vật nuôi. Các cấp, ngành tiếp tục chỉ đạo tích cực, tuyên truyền rộng rãi công tác thú y, phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm trên địa bàn thành phố; công tác tổ chức tiêm phòng các loại vacxin cùng các khâu kiểm dịch, kiểm soát vận chuyển, giết mổ được triển khai đồng bộ ở các địa phương.
2.2. Lâm nghiệp
Ước tính tháng 10 năm 2018, sản lượng gỗ khai thác đạt 180 m3, bằng 90,9% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng củi khai thác đạt 5.860 ste, bằng 96,78% so với cùng kỳ năm trước. Ước 10 tháng/2018, sản lượng gỗ khai thác đạt 2.730 m3, bằng 97,29% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng củi khai thác đạt 51.935 ste, bằng 97,34% so với cùng kỳ năm trước; diện tích rừng trồng mới tập trung đạt 56,5ha bằng 72,15% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 208,5 nghìn cây, bằng 100% so với cùng kỳ năm trước.
 Diện tích rừng được giao khoán bảo vệ là 15.439,4 ha; công tác phòng cháy, chữa cháy rừng luôn được quan tâm chỉ đạo nên trong tháng mặc dù thời tiết chuyển hanh khô nhưng không có vụ cháy rừng nào xảy ra.
2.3. Thủy sản
Sản lượng nuôi trồng và khai thác thủy sản tháng 10/2018 ước đạt 12.035,8 tấn, tăng 120,6 tấn, tương ứng tăng 1,01% so với cùng kỳ năm trước; ước 10 tháng/2018 đạt 127.720,5 tấn, tăng 11.263,2 tấn, tương ứng tăng 9,67% so với cùng kỳ năm trước.
* Nuôi trồng 
Diện tích nuôi trồng thủy sản 10 tháng/2018 ước đạt 13.793,6 ha, bằng 99,94% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: cá các loại đạt 8.689,3 ha, bằng 95,99%; tôm các loại đạt 3.611,6 ha, bằng 97,02%; thủy sản khác đạt 1.492,7 ha, bằng 145,42%. 
Sản lượng nuôi trồng thủy sản thu hoạch tháng 10/2018 ước đạt 4.360,3 tấn, bằng 98,61% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: cá các loại đạt 2.825,5 tấn, bằng 99,75%; tôm các loại đạt 298,3 tấn, bằng 89,96%; thủy sản khác đạt 1.236,5 tấn, bằng 98,32%. Tính chung 10 tháng/2018 sản lượng nuôi trồng thủy sản ước đạt 51.521 tấn, bằng 100,85% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: cá các loại đạt 32.465,5 tấn, bằng 104,93%; tôm các loại đạt 4.700,5 tấn, bằng 114,90%; thủy sản khác đạt 14.355 tấn, bằng 89,4%. 
Trong tháng, thời tiết khu vực miền Bắc nước ta có khả năng chịu tác động của 3-4 đợt không khí lạnh làm ảnh hưởng đến năng suất nuôi trồng thủy sản tuy nhiên khu vực nuôi nước ngọt tiếp tục thu hoạch sản phẩm phục vụ nhu cầu tiêu dùng; chủ động các biện pháp phòng chống dịch bệnh trong giai đoạn giao mùa, tích cực chăm sóc đàn cá nuôi thương phẩm phục vụ nhu cầu tiêu dùng vào dịp Tết của người dân. Khu vực nuôi nước lợ tích cực thu hoạch triệt để và chăm sóc vụ mới đối với các đối tượng nuôi chính có giá trị kinh tế cao như tôm thẻ chân trắng, tôm sú,… các đối tượng khác như cua bể, cá bớp tiếp tục thu tỉa xuất bán trên địa bàn thành phố. Khu vực nuôi cá lồng bè, đã qua mùa du lịch song vẫn thu hoạch xuất bán sản phẩm tươi sống phục vụ nhu cầu tiêu dùng trên địa bàn thành phố và các tỉnh thành lân cận. 
Các trại sản xuất giống thủy sản nước ngọt tập trung nuôi vỗ đàn cá bố mẹ chuẩn bị cho vụ sản xuất 2019; các trại giống nước mặn, nước lợ tiếp tục cho sinh sản cua biển, tôm sú, tôm rảo,… phục vụ nhu cầu thả bù của các đầm nuôi trồng thủy sản mặn, lợ; sản lượng con giống các loại 10 tháng/2018 ước đạt 1.592,6 triệu con, bằng 80,81% so với cùng kỳ năm trước.
* Khai thác 
Sản lượng khai thác thủy sản tháng 10/2018 ước đạt 7.675,5 tấn, bằng 102,43% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: cá các loại đạt 5.381,4 tấn, bằng 104,08%; tôm các loại đạt 558,8 tấn, bằng 98,07%, thủy sản khác đạt 1.735,3 tấn, bằng 98,98%. Ước 10 tháng/2018 sản lượng thủy sản khai thác đạt 76.199,5 tấn, bằng 116,57% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: cá các loại đạt 45.302,7 tấn, bằng 120,07%; tôm các loại đạt 6.215 tấn, bằng 118,11%, thủy sản khác đạt 24.681,8 tấn, bằng 110,3%. Sản lượng khai thác thủy sản tăng cao do khai thác biển đem lại, tính chung 10 tháng/2018 sản lượng khai thác biển ước đạt 72.121,6 tấn, chiếm 94,65% tổng sản lượng khai thác, bằng 117,74% so với cùng kỳ năm trước.
Thị trường tiêu thụ thủy sản khai thác vẫn đảm bảo, giá mặt hàng hải sản tương đối ổn định, giá nhiên liệu cho hoạt động khai thác tăng không đáng kể tạo động lực cho ngư dân hăng say bám biển. Hoạt động sản xuất trên biển vẫn gặp một số khó khăn do ảnh hưởng của thời tiết nhất là vào những tháng cuối vụ cá Nam, tuy vậy, ngành khai thác biển vẫn có mức tăng trưởng khá cao.
3. Đầu tư xây dựng
Dự tính 10 tháng/2018, vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn là 8.114,5 tỷ đồng, tăng 51,57% so cùng kỳ. Chia ra:
- Vốn ngân sách nhà nước cấp thành phố ước 7.267 tỷ đồng, tăng so với cùng kỳ 68,18%;
- Vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước 635,4 tỷ đồng, giảm so cùng kỳ 21,05%;
- Vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước 212,1 tỷ đồng, giảm so với cùng kỳ 6,88%.
Mười tháng đầu năm 2018 vốn ngân sách nhà nước cấp thành phố ước thực hiện tăng 68,18% so với cùng kỳ, thấp hơn so với tốc độ tăng 10 tháng cùng kỳ năm 2017 (10 tháng/2017 tăng 73,17%); tốc độ tăng của nguồn ngân sách nhà nước cấp thành phố có xu hướng giảm dần trong các tháng cuối năm 2018, cuối năm 2018 dự kiến tập trung vào các dự án chuyển tiếp từ năm trước, điển hình là một số dự án cấp bách, quan trọng, góp phần làm thay đổi diện mạo, nâng cao vị thế của thành phố như: dự án đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật khu đô thị mới Bắc Sông Cấm; dự án đầu tư chỉnh trang lại sông Tam Bạc; dự án thoát nước mưa, nước thải và quản lý chất thải rắn thành phố giai đoạn I; dự án xây dựng trục đường Hồ Sen – Cầu Rào 2; dự án xây dựng nút giao thông phía Nam cầu Bính…
 Đóng góp lớn vào vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn ngân sách do địa phương quản lý là nguồn cân đối ngân sách thành phố, ước 10 tháng/2018 đạt 6.057,6 tỷ đồng, tăng 92,73% so với cùng kỳ. Trong khi đó nguồn trung ương hỗ trợ có mục tiêu vẫn giảm mạnh (10 tháng/2018 giảm 29,61% so với cùng kỳ). Đó là sự nỗ lực rất lớn trong cân đối thu chi, tập trung nguồn lực cho các công trình, dự án trọng điểm, mang tính cấp bách của thành phố. 
Thực hiện nguồn vốn nước ngoài (ODA) dự kiến 10 tháng/2018 tăng 10,84% so với cùng kỳ. Năm 2018, nguồn vốn này bố trí cho 7 dự án: dự án phát triển giao thông đô thị Hải Phòng; dự án thoát nước mưa, nước thải và quản lý chất thải rắn; dự án Quản lý đất đai; dự án cung cấp trang thiết bị y tế cho Bệnh viện phụ sản Hải Phòng và các dự án trong chương trình mục tiêu ứng phó với biến đổi khí hậu và tăng trưởng nhanh. Các dự án tuy còn gặp nhiều khó khăn về vốn nhưng chủ đầu tư vẫn cố gắng thực hiện một số gói thầu kịp tiến độ.
Tình hình thực hiện một số dự án lớn đến thời điểm hiện nay: 
- Dự án đầu tư xây dựng Hạ tầng kỹ thuật khu đô thị mới Bắc sông Cấm với tổng mức đầu tư là 9.899 tỷ đồng, mục tiêu là xây cầu Hoàng Văn Thụ, xây dựng hệ thống đê, xây dựng hệ thống kè sông Cấm, xây dựng hệ thống giao thông chính và hệ thống hạ tầng kỹ thuật nhằm phục vụ cho toàn bộ khu vực Bắc sông Cấm với quy mô 1.445,51 ha. Sau hơn 20 tháng thi công cầu Hoàng Văn Thụ đã dần hoàn thiện và đang chuẩn bị những khâu cuối cùng. Nhiều gói thầu đã hoàn thành, gói thầu xây dựng cầu chính, cầu dẫn, hệ thống điện chiếu sáng mỹ thuật cầu Hoàng Văn Thụ và các hệ thống phụ trợ đồng bộ đạt trên 80% giá trị hợp đồng. Hợp phần xây dựng các công trình hạ tầng kỹ thuật bao gồm nhiều gói thầu đã hoàn thành và đang được triển khai tích cực như gói thầu xây dựng đường chính khu vực từ đường 359 đến đường trục chính Bắc Nam 02; xây dựng đường trục chính Bắc Nam, Đông Tây; xây dựng hệ thống thoát nước mưa, nước thải của dự án. 
- Dự án phát triển giao thông đô thị Hải Phòng với tổng mức đầu tư 5.342 tỷ đồng, tiến độ cơ bản hoàn thành theo kế hoạch tuy nhiên do gặp vướng mắc trong công tác đền bù, giải phóng mặt bằng để thực hiện các gói thầu thuộc hợp phần A (xây lắp tuyến đường trục đô thị) làm ảnh hưởng chung đến toàn dự án. Hiện nay tiến độ các gói thầu xây lắp tuyến đường trục trung bình đạt 71% khối lượng hợp đồng.
- Dự án đầu tư chỉnh trang lại sông Tam Bạc (đoạn từ cầu Lạc Long đến công viên Tam Bạc) với tổng mức đầu tư 1.454 tỷ đồng sau gần 4 tháng thi công đang được đẩy nhanh tiến độ với các hạng mục chính là cải tạo, nạo vét lòng sông, kéo dài và mở rộng hai tuyến đường bên bờ sông Tam Bạc. Dự án đã triển khai và cơ bản hoàn thành giải phóng mặt bằng, khối lượng thực hiện ước đạt hơn 800 tỷ đồng. Dưới sự chỉ đạo của UBND quận Hồng Bàng, chủ đầu tư của dự án và phía các nhà thầu, tiến độ của dự án tiếp tục được thực hiện khá tốt, dự kiến sẽ hoàn thành vào đầu năm 2019.
- Dự án đầu tư xây dựng trục đường Hồ Sen - Cầu Rào 2, đoạn từ nút giao Nguyễn Văn Linh đến ngã 3 đường chợ Con hiện tại đang tiến hành xây dựng tại khu vực nút giao. Đến thời điểm hiện tại ước khối lượng thực hiện đạt khoảng 41% tổng giá trị phần nút giao.
- Ngày 2/9/2018 dự án xây dựng nút giao thông Nam cầu Bính đã được khởi công. Dự án gồm nhiều hạng mục đầu tư như các đường trong nút giao với bề rộng nền 40-50 mét, các cầu nối, hầm chui, hệ thống thoát nước, cây xanh… với tổng mức đầu tư gần 1.500 tỷ đồng từ ngân sách thành phố và dự kiến sẽ hoàn thành sau 18 tháng thi công. Đây là công trình đảm nhận chức năng quan trọng về giao thông đối nội và đối ngoại, giúp giảm ùn tắc giao thông và tai nạn giao thông, được đánh giá là nút giao ngã 6 ở cửa ngõ vào trung tâm thành phố.
        * Tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngoài
Tính đến 15/10/2018 Hải Phòng có 580 dự án còn hiệu lực:
Tổng vốn đầu tư    :          16.726,0    triệu USD
Vốn điều lệ        :            5.729,3  triệu USD
Vốn Việt Nam góp    :               237,3     triệu USD
Nước ngoài góp    :            5.492,0     triệu USD
        Từ đầu năm đến 15/10/2018, toàn thành phố có 83 dự án cấp mới với số vốn đầu tư đạt 540,33 triệu USD và 36 dự án điều chỉnh tăng vốn với số vốn tăng là 1.808,44 triệu USD. Các dự án mới và tăng vốn chủ yếu ở ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.
Từ nửa cuối tháng 9 đến 15/10/2018 có 12 dự án cấp mới, có 6 dự án điều chỉnh tăng vốn. Đối với dự án cấp mới, đáng kể nhất là dự án nhà ở - khu vườn Sakura của nhà đầu tư Singapore với tổng số vốn đăng ký đạt 42,46 triệu USD và dự án nhà máy sản xuất gia công PHC Việt Nam của nhà đầu tư Hàn Quốc với tổng số vốn đăng ký đạt 34,74 triệu USD. Đối với dự án điều chỉnh tăng vốn, đáng kể nhất là dự án LG Display Hải Phòng với số vốn điều chỉnh tăng 500 triệu USD và dự án sản xuất lắp ráp robot, các bộ phận của robot và thiết bị điều khiển động cơ của Công ty TNHH Rorze Robotech với số vốn điều chỉnh chỉnh tăng 312,75 triệu USD.
Cũng từ đầu năm đến 15/10/2018, có 3 dự án thu hồi do không triển khai, 8 dự án chấm dứt hoạt động theo quyết định của nhà đầu tư, 1 dự án chuyển thành 100% vốn trong nước trong đó có 4 dự án trong khu công nghiệp và 8 dự án ngoài khu công nghiệp.
Ước thực hiện vốn đầu tư đạt 40,1%.
4. Tổng mức lưu chuyển hàng hóa và doanh thu dịch vụ
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 10 năm 2018 ước đạt 10.248,96 tỷ đồng, tăng 0,62% so với tháng trước và tăng 16,06% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng/2018, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 97.540,73 tỷ đồng, tăng 15,12% so với cùng kỳ năm trước. 
* Chia theo khu vực kinh tế 
- Khu vực kinh tế nhà nước ước đạt 248,31 tỷ đồng, tăng 0,99% so với tháng trước, tăng 18,66% so với cùng kỳ năm trước; 10 tháng/2018 ước đạt 2.651,46 tỷ đồng, tăng 12,49% so với cùng kỳ năm trước;
- Khu vực kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 9.488,28 tỷ đồng, tăng 0,62% so với tháng trước và tăng 16,38% so với cùng kỳ năm trước; 10 tháng/2018 ước đạt 90.108,97 tỷ đồng, tăng 15,39% so với cùng kỳ năm trước;
- Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 512,37 tỷ đồng, tăng 0,57% so với tháng trước, tăng 9,36% so với cùng kỳ năm trước; 10 tháng/2018 ước đạt 4.780,3 tỷ đồng, tăng 11,55% so với cùng kỳ năm trước;
* Chia theo ngành hoạt động
- Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 10 năm 2018 ước đạt 7.548,95 tỷ đồng, tăng 0,84% so với tháng trước, tăng 13,51% so với cùng kỳ năm trước; 10 tháng/2018 ước đạt 73.555,39 tỷ đồng, tăng 13,74% so với cùng kỳ năm trước;
Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 10 năm 2018 ước tính tăng so với tháng trước ở hầu hết các ngành hàng, cụ thể: lương thực, thực phẩm tăng 0,30%; hàng may mặc tăng 1,42%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 0,76%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 2,05%; xăng dầu tăng 1,03%; nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) tăng 1,08%... Tháng 10/2018 là thời điểm giao mùa đồng thời trong tháng có ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10 nên nhiều cửa hàng quần áo thời trang, siêu thị đều triển khai nhiều chương trình khuyến mãi, giảm giá, thanh lý hàng hè để kích cầu tiêu dùng. Trong bối cảnh tình hình kinh tế xã hội thành phố tiếp tục ổn định và phát triển, nhu cầu xây dựng tăng cao nên sức mua của thị trường vật liệu xây dựng dự tính tăng lên… 
Ngày 06/10/2018, giá xăng dầu được điều chỉnh tăng (xăng RON 95 tăng 570 đồng/lít; xăng E5 tăng 670 đồng/lít; dầu diesel tăng 490 đồng/lít; dầu hỏa tăng 400 đồng/lít đồng thời giá gas thế giới tăng nhẹ so với mức giá bình quân tháng 9 nên giá gas trong nước được điều chỉnh tăng 12.000 đồng/bình 12 kg. Do vậy, doanh thu ngành hàng xăng dầu và ngành hàng nhiên liệu khác ước tính tăng lần lượt là 1,03% và 1,08% so với tháng 9/2018.
Tính chung 10 tháng/2018, doanh thu bán lẻ hàng hoá tăng 13,74% so với cùng kỳ năm 2017, chủ yếu ở các nhóm ngành: lương thực, thực phẩm tăng 16,22%; hàng may mặc tăng 18,86%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 13,87%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 13,19%; phương tiện đi lại tăng 14,21%; xăng dầu tăng 17,5%; nhiên liệu khác tăng 11,41%;...
- Doanh thu dịch vụ lưu trú tháng 10 năm 2018 ước đạt 133,5 tỷ đồng, giảm 13,13% so với tháng trước và tăng 12,39% so với cùng kỳ năm trước; 10 tháng/2018 doanh thu lưu trú ước đạt 1.332 tỷ đồng, tăng 19,7% so với cùng kỳ năm 2017. 
- Doanh thu dịch vụ ăn uống tháng 10 năm 2018 ước đạt 1.550 tỷ đồng, tăng 0,48% so với tháng trước và tăng 29,21% so với cùng kỳ năm trước; 10 tháng/2018 doanh thu ăn uống ước đạt 13.676 tỷ đồng, tăng 23,63% so với cùng kỳ năm 2017. 
- Doanh thu du lịch lữ hành tháng 10 năm 2018 ước đạt 17,4 tỷ đồng, giảm 0,78% so với tháng trước, tăng 36,06% so với cùng kỳ năm trước; 10 tháng/2018 doanh thu lữ hành ước đạt 169,5 tỷ đồng, tăng 24,28% so với cùng kỳ năm 2017. 
- Doanh thu dịch vụ khác tháng 10 năm 2018 ước đạt 998,74 tỷ đồng, tăng 1,38% so với tháng trước, tăng 17,68% so với cùng kỳ năm trước; 10 tháng/2018 doanh thu dịch vụ khác ước đạt 8.807,84 tỷ đồng, tăng 13,59% so với cùng kỳ năm 2017.
Doanh thu các ngành dịch vụ khác trong tháng 10 đều ước tăng so với tháng trước: dịch vụ kinh doanh bất động sản tăng 4,49% do thời điểm cuối năm nên nhu cầu về mua bán nhà cửa, đất đai bắt đầu tăng mạnh; dịch vụ giáo dục và đào tạo tăng 2,63%;  dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội tăng 2,77% do vào thời điểm thời tiết giao mùa, xuất hiện nhiều dịch bệnh như tay chân miệng, sởi, quai bị… nên dịch vụ y tế tăng, các bệnh viện đều trong tình trạng quá tải; dịch vụ nghệ thuật và vui chơi giải trí tăng 3,72%; dịch vụ sửa chữa máy vi tính, đồ dùng cá nhân và gia đình tăng 3,07%... 
5. Hoạt động lưu trú và lữ hành    
Tổng lượt khách tháng 10/2018 do các cơ sở lưu trú và lữ hành thành phố phục vụ ước đạt 693,1 nghìn lượt, giảm 8,06% so với tháng trước và tăng 15,78% so với cùng tháng năm 2017; trong đó khách quốc tế đạt 74,2 nghìn lượt, giảm 3,47% so với tháng trước và tăng 0,88% so với cùng tháng năm trước. Cộng dồn 10 tháng/2018, tổng lượt khách do các cơ sở lưu trú và lữ hành thành phố phục vụ ước đạt 6.643,4 nghìn lượt, tăng 18,67% so với cùng kỳ; trong đó khách quốc tế ước đạt 709,6 nghìn lượt, tăng 9,11% so với cùng kỳ 2017.
Đối với hoạt động lữ hành, lượt khách lữ hành tháng 10/2018 giảm 12,24% so với tháng trước. Cộng dồn 10 tháng/2018, lượt khách lữ hành tăng 3% so với cùng kỳ năm 2017. 
Tháng 10/2018 thời tiết bắt đầu lạnh, kết thúc mùa du lịch biển nên lượt khách lưu trú và lữ hành giảm mạnh.
6. Vận tải hàng hóa và hành khách
6.1. Vận tải hàng hoá

Khối lượng hàng hoá vận chuyển tháng 10 năm 2018 ước đạt 15,1 triệu tấn, tăng 2,15% so với tháng trước và tăng 12,99% so với cùng tháng năm trước. Ước tính 10 tháng/2018 khối lượng hàng hoá vận chuyển đạt 144,7 triệu tấn, tăng 15,09% so với cùng kỳ năm trước. 
Khối lượng hàng hóa luân chuyển tháng 10 năm 2018 ước đạt 8.516,4 triệu tấn.km, tăng 2,48% so với tháng trước và tăng 11,91% so với cùng tháng năm trước. Ước tính 10 tháng/2018 khối lượng hàng hóa luân chuyển đạt 79.876,1 triệu tấn.km, tăng 15,09% so với cùng kỳ.
Nhìn chung, khối lượng hàng hóa vận chuyển, luân chuyển trong tháng 10 năm nay tiếp tục tăng trưởng ổn định ở cả 3 tuyến đường bộ, đường biển và đường thủy nội địa.
6.2. Vận tải hành khách
Khối lượng hành khách vận chuyển tháng 10 năm 2018 ước đạt 5,5 triệu lượt, tăng 2,99% so với tháng trước, tăng 16,75% so với cùng tháng năm trước. Ước tính 10 tháng/2018 khối lượng hành khách vận chuyển đạt 51,1 triệu lượt, tăng 14,49% so với cùng kỳ năm trước.
Khối lượng hành khách luân chuyển tháng 10 năm 2018 đạt 219,8 triệu Hk.km, tăng 2,92% so với tháng trước và tăng 14,79% so với cùng tháng năm trước. Ước tính 10 tháng/2018 khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 2.047,7 triệu Hk.km, tăng 15,82% so với cùng kỳ năm trước.
6.3. Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải
Dịch vụ kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải phát triển ổn định, tháng 10 năm 2018 ước đạt 2.289,2 tỷ đồng, tăng 2,03% so với tháng trước và tăng 10,75% so với cùng tháng năm trước. Ước tính 10 tháng/2018 doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 21.520,2 tỷ đồng, tăng 14,83% so với cùng kỳ năm trước.
6.4. Sân bay Cát Bi
Tháng 10 năm 2018 tổng doanh thu của Sân bay Cát Bi ước đạt 19,7 tỷ đồng, tăng 0,62% so với tháng trước, tăng 17,25% so với cùng tháng năm 2017; 10 tháng/2018 tổng doanh thu của Sân bay Cát Bi ước đạt 198,2 tỷ đồng, tăng 20,29% so với cùng kỳ năm trước. 
Số lần máy bay hạ, cất cánh tháng 10 năm 2018 ước đạt 1.248 chuyến, tăng 15,77% so với tháng trước, tăng 22,35% so với cùng tháng năm 2017. Ước tính 10 tháng/2018 số lần máy bay hạ, cất cánh đạt 12.062 chuyến, tăng 3,95% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: chuyến bay ngoài nước tháng 10/2018 ước đạt 98 chuyến, giảm 10,91% so với cùng kỳ; 10 tháng/2018 ước đạt 901 chuyến, giảm 14,19% so với cùng kỳ năm trước. 
Tổng số hành khách tháng 10 năm 2018 ước đạt 180 ngàn lượt người, tăng 2,79% so với tháng trước, tăng 19,2% so với cùng tháng năm 2017. Ước tính 10 tháng/2018 tổng số hành khách ước đạt 1.971,2 ngàn lượt, tăng 14,41% so với cùng kỳ năm trước. 
Tổng số hàng hóa tháng 10 năm 2018 ước đạt 1.640 tấn, tăng 4,06% so với tháng trước, tăng 37,35% so với cùng tháng năm 2017. Ước tính 10 tháng/2018 tổng số hàng hóa thông qua đạt 13.539 tấn, tăng 53,94% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: lượng hàng hóa đi tăng 141,78%, hàng hóa đến tăng 10,86% so với cùng kỳ năm trước. Hàng hóa đi không những có sự tăng trưởng lớn về lượng mà các loại hàng còn rất đa dạng phong phú do các doanh nghiệp bắt đầu khai thác loại hình vận chuyển bằng đường hàng không. Dự kiến sắp tới sẽ có những tuyến bay mới chuyên chở hàng hóa từ các khu công nghiệp và vùng lân cận.
7. Hàng hoá thông qua cảng
Sản lượng hàng hóa thông qua cảng tháng 10 năm 2018 ước đạt 9,436 triệu TTQ, tăng 3,54% so với tháng trước và tăng 13,29% so với cùng kỳ năm trước, cụ thể: 
- Khối cảng thuộc kinh tế Nhà nước ước đạt 3,358 triệu TTQ, tăng 3,61% so với tháng trước, tăng 3,94% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: 
+ Cảng thuộc khối doanh nghiệp nhà nước Trung ương ước đạt 3,348 triệu TTQ, tăng 3,68% so với tháng trước, tăng 4,27% so với cùng kỳ năm trước.
+ Cảng thuộc khối doanh nghiệp Nhà nước địa phương ước đạt 10 ngàn TTQ, giảm 14,66% so với tháng trước, giảm 49,76% so với cùng kỳ năm trước. 
- Các cảng thuộc khu vực kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 6,078 triệu TTQ, tăng 3,5% so với tháng trước, tăng 19,23% so với cùng kỳ năm trước.
Cộng dồn 10 tháng/2018, sản lượng hàng hóa thông qua trên địa bàn thành phố đạt 87,853 triệu tấn, tăng 17,75% so với cùng kỳ năm 2017.
* Doanh thu cảng biển tháng 10 năm 2018 của khối cảng trên địa bàn thành phố ước đạt 456,7 tỷ đồng, tăng 1,39% so với tháng trước, tăng 21,81% so với cùng kỳ năm trước. Cộng dồn 10 tháng doanh thu cảng biển ước đạt 4.226 tỷ đồng, tăng 9,89% so với cùng kỳ năm trước.
8. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) 
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) thành phố Hải Phòng tháng 10 năm 2018 tăng 0,19% so với tháng trước, tăng 4,38% so với cùng kỳ năm trước và tăng 4,56% so với tháng 12/2017. CPI bình quân 10 tháng năm 2018 tăng 4,35% so với cùng kỳ năm trước.
Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 8 nhóm có chỉ số giá tăng với mức tăng như sau: nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,03%; nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,35%; nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,51%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,20%; nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,02%; nhóm giao thông tăng 1,35%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,08%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,07%. Có 1 nhóm hàng giảm là nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,10%. Nhóm bưu chính viễn thông và nhóm giáo dục ổn định.
Nguyên nhân chính làm tăng CPI tháng 10 là chỉ số giá gas tăng 3,03% làm cho CPI chung tăng 0,03%; chỉ số giá xăng dầu tăng 3,49% làm CPI chung tăng 0,11%...
Chỉ số giá nhóm lương thực tháng 10/2018 giảm 0,62% so với tháng trước, do nguồn cung thóc gạo ổn định; chỉ số giá thực phẩm giảm 0,07% so với tháng trước, chủ yếu ở giá thịt gia súc giảm do người chăn nuôi đang bán ra nhiều, làm tăng nguồn cung trên thị trường; giá rau tươi, khô và chế biến giảm do thời tiết thuận lợi, cây trồng phát triển tốt... 
Chỉ số nhóm nhà ở, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,51%, tác động chính bởi chỉ số giá gas tăng do ảnh hưởng bởi giá gas thế giới tăng. Giá gas tháng 10/2018 tăng 12.000 đồng/bình 12kg, tương đương với mức tăng 1.000 đồng/kg; giá dầu hỏa được điều chỉnh tăng 400 đồng/lít vào ngày 06/10/2018; giá điện sinh hoạt tăng 1,09% do lượng điện tiêu dùng tăng…
 Chỉ số nhóm giao thông tăng 1,35% so với tháng trước do giá xăng, dầu diesel tăng 3,49% so với tháng trước. Trong tháng 10/2018, giá xăng dầu được điều chỉnh hai lần vào các ngày 06/10 và 22/10 với tổng mức tăng của xăng RON 95-IV là 430 đồng/lít, xăng sinh học E5 RON 92-II là 450 đồng/lít, dầu diesel là 490 đồng/lít.
* Chỉ số giá vàng 99,99% và Đô la Mỹ 
- Chỉ số giá vàng tháng 10/2018 tăng 0,37% so với tháng trước, giảm 2,69% so với cùng tháng năm 2017, giảm 1,85% so với tháng 12 năm trước. Giá vàng bình quân tháng 10/2018 dao động ở mức 3,501 triệu đồng/chỉ, tăng 12.000 đồng/chỉ so với tháng trước.
- Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 10/2018 tăng 0,22% so với tháng trước, tăng 2,75% so với cùng tháng năm 2017, tăng 2,78% so với tháng 12 năm trước. Tỷ giá USD/VND bình quân tháng 10/2018 dao động ở mức 23.382 đồng/USD, tăng 51 đồng/USD.
9. Hoạt động tài chính, ngân hàng 
9.1. Tài chính 

Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn tháng 10/2018 ước đạt 6.785,8 tỷ đồng, ước 10 tháng/2018 đạt 58.065 tỷ đồng, tăng 2,4% so cùng kỳ năm trước, trong đó: thu nội địa tháng 10 ước đạt 2.285,2 tỷ đồng, ước 10 tháng/2018 đạt 19.334,1 tỷ đồng, tăng 13,4% so cùng kỳ; thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu tháng 10/2018 ước đạt 4.200 tỷ đồng, ước 10 tháng/2018 đạt 35.931,7 tỷ đồng, bằng 95,2% so cùng kỳ.
Trong thu nội địa, thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước đạt 430,2 tỷ đồng, ước 10 tháng/2018 đạt 2.628,9 tỷ đồng, tăng 6,6% so cùng kỳ; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 391 tỷ đồng, ước 10 tháng/2018 đạt 3.060,9 tỷ đồng, tăng 18,9% so với cùng kỳ; thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đạt 482,7 tỷ đồng, ước 10 tháng/2018 đạt 3.471,9 tỷ đồng, tăng 23,1% so cùng kỳ.
Tổng chi ngân sách địa phương tháng 10/2018 ước đạt 1.830,4 tỷ đồng, ước 10 tháng/2018 đạt 16.080,5 tỷ đồng, tăng 2,6% so với cùng kỳ, trong đó: Chi đầu tư xây dựng cơ bản đạt 1.053 tỷ đồng, ước 10 tháng/2018 đạt 7.927,2 tỷ đồng, tăng 51% so với cùng kỳ; chi thường xuyên đạt 700,3 tỷ đồng, ước 10 tháng/2018 đạt 7.264,3 tỷ đồng, tăng 1,2% so cùng kỳ.
9.2. Ngân hàng 
* Công tác huy động vốn:
Tổng nguồn vốn huy động trên địa bàn ước thực hiện đến hết tháng 10 năm 2018 đạt 181.598 tỷ đồng, tăng 12,39% so với cùng kỳ năm trước, tăng 11,57% so với cuối năm 2017.
Theo loại tiền: Huy động bằng VND ước đạt 172.203 tỷ đồng, tăng 13,73% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 94,83%; ngoại tệ ước đạt 9.395 tỷ đồng, bằng 92,49% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 5,17%. 
Theo hình thức huy động: Huy động tiền gửi tiết kiệm ước đạt 127.295 tỷ đồng, tăng 14,74% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 70,1%; tiền gửi thanh toán ước đạt 49.975 tỷ đồng, tăng 7,65% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 27,52%; phát hành giấy tờ có giá ước đạt 4.328 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 2,38%.
* Công tác tín dụng:
Tổng dư nợ cho vay các thành phần kinh tế ước thực hiện đến hết tháng 10 năm 2018 đạt 111.183 tỷ đồng, tăng 16,36% so với cùng kỳ năm trước, tăng 12,32% so với cuối năm 2017. 
Cơ cấu dư nợ theo loại tiền: Cho vay bằng VND đạt 103.984 tỷ đồng, tăng 18,58% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 93,53%. Cho vay ngoại tệ (quy đổi VND) ước đạt 7.199 tỷ đồng, bằng 91,66% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 6,47%.
Cơ cấu dư nợ phân theo thời hạn vay: Cho vay ngắn hạn ước đạt 49.816 tỷ đồng, tăng 19,03% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 44,81%; cho vay trung, dài hạn ước đạt 61.367 tỷ đồng, tăng 14,28% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 55,19%. 
10. Xuất nhập khẩu hàng hóa
10.1. Xuất khẩu hàng hoá

Kim ngạch xuất khẩu tháng 10 năm 2018 ước đạt 725,6 triệu USD, tăng 2,75% so với tháng trước; trong đó: khu vực kinh tế trong nước ước đạt 187,3 triệu USD, tăng 1,95%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 538,3 triệu USD, tăng 3,03%. 
So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 10 năm 2018 ước tăng 28,88%, trong đó: khu vực kinh tế trong nước tăng 24,59%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 30,44%.
Tính chung 10 tháng năm 2018, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 6.754,2 triệu USD, tăng 25,96% so với cùng kỳ năm 2017; trong đó: khu vực kinh tế trong nước ước đạt 1.786,5 triệu USD, tăng 20,93%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 4.967,7 triệu USD, tăng 27,87%.
Một số mặt hàng xuất khẩu trong 10 tháng/2018 có kim ngạch ước tăng cao so với cùng kỳ năm trước: sản phẩm Plastic đạt 375,5 triệu USD, tăng 26,27%; hàng dệt may đạt 434,8 triệu USD, tăng 46,29%; giày dép đạt 1.397,3 triệu USD, tăng 17,96%; hàng điện tử đạt 367 triệu USD, tăng 46,68%; dây điện và cáp điện đạt 528 triệu USD, tăng 19,87%.
10.2. Nhập khẩu hàng hóa    
Kim ngạch nhập khẩu tháng 10 ước đạt 709,9 triệu USD, tăng 2,61% so với tháng trước; trong đó khu vực kinh tế trong nước ước đạt 228,1 triệu USD, tăng 1,91%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 481,7 triệu USD, tăng 2,94%. 
So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng 10 năm 2018 ước tăng 22,61%; trong đó: khu vực kinh tế trong nước tăng 9,74%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 29,82%.
Tính chung 10 tháng năm 2018, kim ngạch nhập khẩu ước đạt 6.509,2 triệu USD, tăng 20,11% so với cùng kỳ năm 2017; trong đó: khu vực kinh tế trong nước ước đạt 1.814,7 triệu USD, tăng 17,12%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 4.694,5 triệu USD, tăng 21,31%. 
Một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu trong 10 tháng năm 2018 ước tăng cao hơn so với cùng kỳ: hóa chất đạt 84,6 triệu USD, tăng 23,44%; phụ liệu hàng may mặc đạt 230 triệu USD, tăng 24,61%; phụ liệu giày dép đạt 876,7 triệu USD, tăng 18,64%; vải may mặc đạt 151,6 triệu USD, tăng 39,11%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 859,2 triệu USD, tăng 18,42%.    
II. VĂN HÓA - XÃ HỘI
1. Lao động - thương binh, xã hội

* Công tác lao động, việc làm
Tháng 10 năm 2018 sàn giao dịch việc làm thành phố tổ chức được 03 phiên giao dịch việc làm, với 102 lượt doanh nghiệp tham gia tuyển dụng, nhu cầu tuyển dụng là 9.023 lượt lao động; hướng dẫn, tiếp nhận thỏa ước lao động tập thể được 04 doanh nghiệp. Trong tháng trên địa bàn thành phố không xảy ra đình công, tai nạn lao động nghiêm trọng.
Tính chung 10 tháng năm 2018 đã tổ chức được 28 phiên giao dịch việc làm với sự tham gia tuyển dụng của 1.017 lượt doanh nghiệp, nhu cầu tuyển dụng 76.862 lượt lao động. Cung lao động tại sàn đạt 79.921 lượt người, gấp trên 1,04 lần nhu cầu tuyển dụng. Giải quyết chế độ bảo hiểm thất nghiệp cho 9.351 người (giảm 15,84% so với cùng kỳ năm 2017; hướng dẫn, tiếp nhận thỏa ước lao động tập thể được 109 doanh nghiệp (bằng 103% so với cùng kỳ năm 2017).
Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn thành phố xảy ra 05 cuộc đình công với 3.877 lao động tham gia (giảm 03 cuộc và tăng 1.707 lao động so với cùng kỳ năm 2017); xảy ra 09 vụ tai nạn làm 09 người chết (giảm 04 vụ và 04 người chết so với cùng kỳ năm 2017).
* Công tác giáo dục nghề nghiệp
Tổng số tuyển sinh trên toàn thành phố 10 tháng năm 2018 ước đạt 43.800 học sinh, sinh viên, đạt 86% kế hoạch năm và bằng 121,5% so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó cao đẳng 2.980 sinh viên; trung cấp 4.590 học sinh; sơ cấp và đào tạo dưới 3 tháng đạt 36.230 học viên). Tỷ lệ lao động qua đào tạo ước đạt 79,7%, trong đó tỷ lệ lao động qua đào tạo có chứng chỉ trở lên đạt 32,8%. Tốt nghiệp các hệ đào tạo ước cả năm khoảng 47.800 học sinh, sinh viên.
* Công tác người có công
Tháng 10 năm 2018, giải quyết chế độ chính sách đối với 465 trường hợp; tiếp nhận, thẩm định để thực hiện chính sách và phục vụ công tác quản lý đối với 60 trường hợp; quyết định giải quyết chế độ trợ cấp một lần đối với gia đình liệt sĩ báo tử lần đầu cho 12 người; xác nhận, công nhận người có công, quyết định cho hưởng chế độ với 21 trường hợp. 
Trong 10 tháng năm 2018 đã giải quyết chế độ chính sách cho 9.619 trường hợp; trợ cấp hàng tháng cho 74 người; xác nhận miễn giảm tiền sử dụng đất theo Quyết định 118/QĐ-TTg cho 81 trường hợp; quyết định trợ cấp 1 lần đối với 394 người có công và thân nhân; công nhận, đề nghị công nhận 392 người có công.
* Công tác Giảm nghèo - Bảo trợ xã hội
Tháng 10/2018, tiếp nhận 01 đối tượng vào các Trung tâm bảo trợ xã hội, tập trung được 59 lượt người lang thang. Trong 10 tháng năm 2018 đã tiếp nhận 45 đối tượng đưa vào điều trị, chăm sóc và nuôi dưỡng tại các cơ sở bảo trợ xã hội, tổng số đối tượng hiện có 714 người, bằng 106,4% so với cùng kỳ năm 2017; tập trung 661 lượt người lang thang (bằng 74% cùng kỳ). Chi trả trợ cấp xã hội thường xuyên tại cộng đồng và các chế độ hỗ trợ kinh phí đối với 72.154 người (tăng 4,5% so với cùng kỳ năm 2017).
* Công tác phòng, chống tệ nạn xã hội
Trong tháng 10/2018 tổ chức quản lý, cai nghiện ma túy tập trung tại Cơ sở cai nghiện ma túy cho 1.636 lượt người; tiến hành kết hợp cùng Công an xét nghiệm ma tuý với 76 đối tượng bị bắt giữ, kiểm tra 35 buổi tại 138 cơ sở kinh doanh nhà nghỉ, khách sạn, quán karaoke... Trong 10 tháng đầu năm 2018 đã tổ chức quản lý, cai nghiện ma túy tập trung tại các cơ sở cho 2.670 lượt người, bằng 89,11% so với cùng kỳ năm trước; cai nghiện tại gia đình và cộng đồng cho 335 người, bằng 115,92% cùng kỳ năm trước; phối hợp với Công an xét nghiệm tìm chất ma túy đối với 508 đối tượng bị bắt giữ, kết quả phát hiện 286 trường hợp dương tính với ma túy; kiểm tra 319 buổi tại 1.254 cơ sở kinh doanh nhà nghỉ, khách sạn, karaoke...
2. Y tế và An toàn vệ sinh thực phẩm 
Tình hình phòng chống dịch bệnh: ngành Y tế tiếp tục chỉ đạo các đơn vị y tế trên địa bàn thành phố chủ động, tăng cường công tác phòng chống dịch bệnh, tích cực giám sát tại các cơ sở y tế. Trung tâm Y tế dự phòng giám sát 66 lượt tại các bệnh viện tuyến thành phố; tăng cường giám sát các bệnh sốt phát ban nghi sởi/rubella, liệt mềm cấp, viêm não Nhật Bản, sốt xuất huyết,…
Diễn biến một số bệnh truyền nhiễm trong tháng 9/2018 so với tháng 8/2018: 19 ca sốt xuất huyết (tăng 15 ca); 242 ca tay chân miệng (tăng 41 ca); 15 ca thủy đậu (giảm 10 ca); 17 ca quai bị (giảm 05 ca); 189 ca tiêu chảy (giảm 71 ca); 330 ca cúm (giảm 25 ca); 02 ca sởi (tăng 02 ca).
Tổ chức tập huấn và hội thảo tăng cường biện pháp quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm phòng chống ngộ độc thực phẩm tại các bếp ăn tập thể. Tổ chức hội nghị truyền thông cộng đồng an toàn thực phẩm tại phường điểm, kiểm tra an toàn thực phẩm bếp ăn tập thể các trường học trên địa bàn.
Công tác phòng, chống HIV/AIDS: trong tháng 9/2018 phát hiện 18 người nhiễm HIV, số bệnh nhân chuyển AIDS 03 người, số bệnh nhân tử vong 03 người. Tính đến ngày 30/9/2018, lũy tích người nhiễm HIV 12.258 người, số người chuyển sang AIDS là 6.271 người, số người tử vong do AIDS là 4.533 người, số người nhiễm HIV hiện còn sống là 7.725 người.
3. Văn hóa - Thể thao
* Công tác văn hóa
Tiếp tục phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức thanh tra, kiểm tra chuyên ngành các điểm kinh doanh hoạt động văn hoá, dịch vụ văn hoá, các cửa hàng kinh doanh lĩnh vực thể dục thể thao…trên địa bàn thành phố đảm bảo an ninh trật tự và an toàn cho người tham gia, đã tiến hành xử phạt đối với 01 tổ chức vi phạm quy định về quảng cáo.
* Công tác thể thao
Trong 10 tháng năm 2018, các đội tuyển thể thao thành thích cao Hải Phòng đã tham gia thi đấu 84 giải thể thao quốc gia, quốc tế, đạt 366 huy chương các loại. Công tác xây dựng lực lượng vận động viên tiếp tục được chú trọng, duy trì và phát huy các môn thể thao thế mạnh. Trong tháng đã tổ chức Lễ xuất quân Đoàn vận động viên Hải Phòng tham dự Đại hội Thể thao toàn quốc lần thứ VIII năm 2018.
4. Tình hình trật tự an toàn giao thông
Từ ngày 16/9/2018 đến ngày 15/10/2018 toàn thành phố xảy ra 07 vụ tai nạn giao thông đường bộ làm chết 09 người và bị thương 02 người. So với cùng kỳ năm 2017 số vụ tai nạn giao thông giảm 01 vụ, số người chết tăng 06 người và số người bị thương giảm 04 người. 
Cộng dồn từ đầu năm 2018 đến thời điểm báo cáo, trên địa bàn thành phố đã xảy ra tổng cộng 79 vụ tai nạn giao thông, trong đó đường bộ 78 vụ, đường thủy 01 vụ, làm 68 người chết, 35 người bị thương. So với cùng kỳ năm 2017 số vụ tai nạn giao thông giảm 1,25%, số người chết giảm 9,33%, số người bị thương giảm 7,89%. Nhìn chung không có tai nạn giao thông nghiêm trọng, nguyên nhân chủ yếu từ việc người dân không tuân thủ quy định về đảm bảo an toàn giao thông. 
5. Công tác phòng chống cháy, nổ
Từ ngày 16/9/2018 đến ngày 15/10/2018 trên địa bàn thành phố xảy ra 35 vụ cháy, trong đó 11 vụ cháy nhà dân, 05 vụ cháy cơ quan doanh nghiệp. Các vụ cháy không gây thiệt hại về người, giá trị tài sản thiệt hại ước tính 1.075 triệu đồng. Cộng dồn 10 tháng năm 2018, toàn thành phố đã xảy ra 127 vụ cháy, nổ (tăng 104,84% so với cùng kỳ năm 2017), làm 04 người chết (tăng 300%) và 06 người bị thương (giảm 25%), giá trị thiệt hại ước tính 13.245,1 triệu đồng (giảm 11,56%)./.

Tác giả bài viết: Cục Thống kê Hải Phòng

 Từ khóa: khu vực, kinh tế

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Xếp hạng: 0 - 0 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây