Tình hình kinh tế - xã hội thành phố Hải Phòng tháng 1/2019

Thứ ba - 29/01/2019 16:44
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) thành phố Hải Phòng tháng 01 năm 2019 tăng 0,33% so với tháng trước, tăng 2,65% so với cùng kỳ năm trước. Tháng 01/2019 là tháng giáp Tết Nguyên đán Kỷ Hợi, nhu cầu tiêu dùng hàng hóa tăng cao.
BÁO CÁO
TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI THÁNG 01 NĂM 2019
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ
1. Sản xuất công nghiệp

Tháng 01/2019 là tháng giáp Tết Nguyên đán Kỷ Hợi, cùng các hoạt động chăm lo Tết cho người lao động, các doanh nghiệp ngành công nghiệp trên địa bàn thành phố tập trung đẩy mạnh sản xuất kinh doanh, hoàn thành các đơn hàng của năm 2018 đồng thời triển khai kế hoạch năm 2019. Sản xuất công nghiệp thành phố tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng cao, chỉ số phát triển sản xuất (PTSX) công nghiệp (IIP) tháng 01/2019 ước giảm 6,51% so với tháng trước và tăng 23,61% so với cùng kỳ, trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 27,68%, đóng góp lớn nhất cho tăng trưởng chung toàn ngành với 24,77 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 11,39%, đóng góp tăng 0,23 điểm phần trăm; ngành khai khoáng giảm 13,68%, làm giảm 0,06 điểm phần trăm và ngành sản xuất và phân phối điện giảm 9,26%, làm giảm 1,33 điểm phần trăm mức tăng chung.

 

IIP tháng 01/2019 (%)

Điểm %

đóng góp

Toàn ngành công nghiệp

123,61

23,61

Khai khoáng

86,32

 -0,06

Công nghiệp chế biến, chế tạo

127,68

 24,77

Sản xuất và phân phối điện

  90,74

  -1,33

Cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải

111,39

    0,23


Trong 51 nhóm ngành kinh tế cấp 4 có 30 ngành có chỉ số PTSX tháng 01/2019 tăng so với cùng kỳ, trong đó: ngành sản xuất thiết bị truyền thông tiếp tục là ngành có mức tăng cao nhất, tăng 204,9%; sản xuất bê tông và các sản phẩm từ xi măng và thạch cao tăng 100,5%...
Có 21 ngành có chỉ số PTSX tháng 01/2019 giảm, trong đó: ngành sản xuất đồ chơi giảm 80%; dịch vụ in giảm 74,49%; sản xuất bia giảm 37,96%; sản xuất máy phát điện giảm 26,24%;...
Tình hình sản xuất của một số doanh nghiệp chiếm tỷ trọng lớn ảnh hưởng đến mức tăng trưởng chung toàn ngành công nghiệp thành phố:
Ngành sản xuất thiết bị truyền thông vẫn tiếp tục dẫn đầu nhóm ngành có tốc độ tăng cao với sản xuất ổn định của 03 dự án công nghệ cao thuộc tập đoàn LG Hải Phòng. Tháng 01/2019 một số sản phẩm như màn hình điện thoại có khối lượng sản xuất sụt giảm nhưng các sản phẩm màn hình tivi, máy giặt vẫn duy trì tốc độ cao nên đã đóng góp đáng kể vào tăng trưởng chung toàn ngành công nghiệp.
Các doanh nghiệp sản xuất bê tông và các sản phẩm từ xi măng tiếp tục cung cấp khối lượng lớn sản phẩm cọc bê tông và bê tông thương phẩm cho các dự án đầu tư xây dựng chuyển tiếp từ năm 2018 của tập đoàn Vingroup và các công trình trọng điểm của thành phố như dự án xây dựng hạ tầng khu đô thị Bắc sông Cấm; dự án chỉnh trang, cải tạo sông Tam Bạc... cùng nhiều đơn hàng mới được ký kết giúp cho hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp được đẩy mạnh ngay từ đầu năm 2019. 
Ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi tháng 01/2019 dự kiến có mức tăng cao, tăng 50% so với cùng kỳ do nhu cầu chăn nuôi trước Tết Nguyên đán tăng và người chăn nuôi dự trữ thức ăn cho gia súc, gia cầm trong kỳ nghỉ Tết; các doanh nghiệp đẩy mạnh sản xuất, đáp ứng nhu cầu thị trường.
Bên cạnh đó, tháng đầu năm 2019, ngành công nghiệp thành phố ghi nhận sự đóng góp của 02 dự án công nghiệp thuộc tập đoàn Vingroup:
Tổ hợp sản xuất ô tô và xe máy điện VinFast: tháng 12/2018 có 5,3 nghìn sản phẩm xe máy điện được sản xuất, tháng 01/2019 ước tính sản lượng sản xuất tương đương tháng trước. Với các sản phẩm chất lượng cao, thân thiện môi trường, giá bán hợp lý, dự kiến trong các tháng tiếp theo của năm 2019, các sản phẩm ô tô, xe điện của doanh nghiệp sẽ tạo được lòng tin với người tiêu dùng và có bước phát triển mạnh mẽ, tạo nên những sản phẩm mới, những giá trị mới cho công nghiệp thành phố.
Công ty TNHH VinSmart sản xuất điện thoại thông minh, tháng 12/2018 sản xuất chính thức được 04 dòng sản phẩm, trong đợt đầu mở bán dự kiến có 30 nghìn máy được bán với chính sách ưu đãi giảm giá. Tháng 01/2019 ước tính sản lượng sản xuất tương đương tháng 12/2018 với khoảng 30 nghìn sản phẩm.
Bên cạnh đóng góp của các nhân tố mới, các dự án FDI công nghiệp đi vào sản xuất từ những năm trước như  Bridgestone, Kyocera, Fuji Xerox, Robotech tăng công suất, đầu tư mở rộng…; các doanh nghiệp công nghiệp truyền thống trong nước như đóng tàu, sản xuất plastic...đều có những tín hiệu tốt cho sản xuất năm 2019 ngay từ tháng đầu năm, đóng góp tích cực cho tăng trưởng công nghiệp thành phố như ngành sản xuất săm lốp tăng  8,57%, sản xuất máy văn phòng tăng 5,72%; ngành đóng tàu sau nhiều tháng sản xuất sụt giảm đã nỗ lực vượt qua khó khăn, dự kiến sản xuất tháng 01/2019 tăng 2,28% so với cùng kỳ năm trước...
Tuy nhiên, tháng 01/2019 sản xuất công nghiệp trên địa bàn thành phố vẫn còn một số ngành sản xuất ước giảm so với tháng 12/2018 và giảm so với cùng kỳ năm trước, do tháng 01 là tháng cận Tết là thời gian thấp điểm tiêu thụ của một số sản phẩm như xi măng, sắt thép.. các doanh nghiệp chủ động giảm sản xuất để tránh hàng tồn kho, ngoài ra còn do một số nguyên nhân cụ thể sau:
Ngành may trang phục sau nhiều tháng đạt tốc độ tăng cao do có sự đóng góp chủ yếu của công ty TNHH may Regina Miracle tại khu công nghiệp Vsip Hải Phòng, doanh nghiệp chiếm 65% tổng giá trị toàn ngành; dự kiến tháng 01/2019 sản xuất của doanh nghiệp giảm 24% so với tháng 12/2018 và giảm 15% so cùng kỳ, do các đối tác bên Hồng Kông và Trung Quốc có lịch nghỉ tết dài ngày (từ 20/01/2019) nên các đơn đặt hàng trong tháng 01/2019 giảm mạnh.
Sản xuất xi măng dự kiến vẫn tiếp tục khó khăn, trong điều kiện thị trường nội địa cung đang vượt quá cầu, cạnh tranh gay gắt, các doanh nghiệp đã tích cực tìm kiếm thị trường xuất khẩu, đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm. Tháng 01/2019 do nhu cầu tiêu thụ xi măng giảm, các doanh nghiệp giảm sản lượng sản xuất và lên kế hoạch bảo dưỡng, sửa chữa định kỳ.
Sản xuất sắt thép dự kiến tháng 01/2019 giảm 4,34% so cùng kỳ do xuất khẩu khó khăn, cạnh tranh ngày càng gay gắt ngay tại thị trường nội địa, biến động giá phôi ảnh hưởng tới hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, thiếu nguồn sắt phế liệu để sản xuất phôi, còn lượng lớn phôi thép tồn kho... 
Ngoài ra, một số ngành sản xuất giảm mạnh như sản xuất đồ chơi (tháng 01/2019 giảm 80% so với cùng kỳ) do các doanh nghiệp thuộc ngành này như công ty TNHH Thanh Sang chuyển toàn bộ dây chuyền sản xuất lên Hải Dương, công ty TNHH Vĩnh Chân thực hiện chia tách nên sản lượng giảm mạnh so với năm 2018. 
Sản xuất bia cũng là mặt hàng có nhu cầu tiêu thụ cao trong dịp Tết Nguyên đán, tuy nhiên sản xuất bia đóng chai của cả 2 doanh nghiệp là công ty CP bia Hà Nội – Hải Phòng, công ty CP bia Habeco đều giảm so cùng kỳ, do các hãng bia ngoại và các doanh nghiệp khác tập trung sản xuất các loại bia chai dung tích 330 ml, trong khi 2 doanh nghiệp chỉ gia công loại bia chai to dung tích 450 ml không còn đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng.
Ngành khai khoáng sản lượng tháng 01/2019 cũng giảm sút so với tháng trước và cùng kỳ do công ty Tân Hoàng An có kế hoạch nghỉ Tết dài; công ty xi măng Phú Xuân gặp sự cố cháy trạm điện, hỏng máy nghiền dẫn đến sản lượng sản xuất đá nghiền trong tháng giảm mạnh...
* Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tháng 01/2019 giảm 5,7% so với tháng trước và tăng 3,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao so cùng kỳ: sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm, thủy sản tăng 51,2%; sản xuất bánh bi, bánh răng, hộp số tăng 18,1%; sản xuất bê tông và các sản phẩm từ xi măng tăng 99,1%; sản xuất giày dép tăng 15,3%; sản xuất plastic và cao su tổng hợp tăng 27,3%; sản xuất sản phẩm điện tử dân dụng tăng 24,4%; sản xuất đồ điện dân dụng tăng 27,3% ...
Một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm so cùng kỳ: may trang phục giảm 13,2%; sản xuất thiết bị truyền thông giảm 21,7%; sản xuất sắt, thép, gang giảm 1,4%; sản xuất bia giảm 32,4%; sản xuất xi măng, vôi, thạch cao giảm 18,9%...
* Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 31/01/2019 ước tăng 4,5% so với tháng trước và tăng 2,5% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao so cùng kỳ: sản xuất sắt, thép, gang tăng 76,9%; sản xuất sản phẩm từ plastic tăng 58,4%; sản xuất cấu kiện kim loại tăng 29,4%; sản xuất dây cáp, dây điện tăng 70%; sản xuất các sản phẩm từ cao su tăng 54,9%; sản xuất giày, dép tăng 9,7%.
Một số ngành có chỉ số tồn kho so với cùng kỳ giảm như: sản xuất săm lốp cao su giảm 31,8%; sản xuất máy móc và thiết bị văn phòng giảm 68,7%; sản xuất thiết bị truyền thông giảm 98,1%; may trang phục giảm 14,2%; sản xuất sản phẩm điện tử dân dụng giảm 96,9%. 
* Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp ước tại thời điểm 31/01/2019 tăng 1,7% so với tháng trước và tăng 12,5% so với cùng kỳ, trong đó lao động khu vực doanh nghiệp nhà nước giảm 4,6%; lao động doanh nghiệp ngoài nhà nước tăng 3,8%; lao động doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 19%. 
Chia theo ngành cấp I: ngành khai khoáng tăng 9,4%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 13,1%; ngành sản xuất và phân phối điện giảm 2,4%; ngành cung cấp nước, quản lý, xử lý rác thải, nước thải tăng 0,1%. 
Một số ngành có chỉ số sử dụng lao động giảm như: sản xuất chế biến thực phẩm giảm 19,9%; sản xuất xe có động cơ giảm 1%; sản xuất đồ uống giảm 7,1%.
* Một số sản phẩm công nghiệp ước tháng 01 năm 2019 so cùng kỳ: quần áo các loại đạt 9,1 triệu cái, giảm 8,1%; phân khoáng hoặc phân hóa học đạt 22 nghìn tấn, tăng 33,6%; màn hình khác đạt 910 nghìn cái, tăng 48,7%; máy giặt loại khác đạt 129,5 nghìn cái, tăng 32,7%; lốp hơi mới bằng cao su đạt 253,3 nghìn cái, tăng 8,6%; gang thỏi, thép, thanh que sắt các loại đạt 117,1 nghìn tấn, giảm 1%; xi măng Portland đen đạt 303,7 nghìn tấn, giảm 0,1%; điện sản xuất đạt 560 triệu Kwh, giảm 11,2%.
2. Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản
2.1. Nông nghiệp

* Trồng trọt
Sản xuất vụ Đông 2018-2019 
Tính đến ngày 15 tháng 01 năm 2019, tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ Đông toàn thành phố ước đạt 7.449,2 ha, bằng 97,03%, giảm 228,2 ha so với vụ Đông năm trước. Diện tích gieo trồng giảm do thiếu lực lượng lao động, chi phí sản xuất cao, giá bán và thị trường đầu ra cho sản phẩm không ổn định, dẫn đến hiệu quả kinh tế mang lại từ sản xuất nông nghiệp thấp không khuyến khích được người nông dân sản xuất... 
Trong tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ Đông, diện tích cây ngô ước đạt 305,2 ha, bằng 88,52%, giảm 39,6 ha so với vụ Đông năm trước, cây khoai lang ước đạt 388,7 ha, bằng 91,93%, giảm 34,1 ha so với vụ Đông năm trước (diện tích gieo trồng cây ngô, khoai lang giảm mạnh do hiệu quả kinh tế cây trồng không cao, sản phẩm chủ yếu là cung cấp cho chăn nuôi và tự sản tự tiêu). Nhóm cây rau các loại là nhóm cây trồng chủ lực cho sản xuất vụ Đông với các loại cây ưa lạnh, nhưng do điều kiện thời tiết vụ Đông năm nay giai đoạn đầu vụ thời tiết ấm nên ảnh hưởng đến tiến độ gieo trồng nhóm cây ưa lạnh; diện tích gieo trồng rau các loại vụ Đông 2018 ước đạt 6.020,6 ha, bằng 97,21%, giảm 172,6 ha so với vụ Đông năm trước, trong đó: bắp cải đạt 316,2 ha, giảm 52,3 ha; khoai tây đạt 547,5 ha, giảm 18,4 ha... Một số cây vụ Đông có sức tiêu thụ tốt trên thị trường, giá thành sản phẩm đầu ra tương đối cao và ổn định tiếp tục được duy trì và mở rộng sản xuất: diện tích ớt đạt 456,9 ha, bằng 108,92%; dưa các loại đạt 366,6 ha, bằng 106,6%; hoa các loại đạt 136,6 ha, bằng 103,8%; súp lơ đạt 165,6 ha, bằng 101,7%.
Sản xuất vụ Xuân 2019
Tình hình thời tiết đầu vụ Xuân ổn định, không có đợt rét đậm, rét hại đã tạo điều kiện tốt cho công tác chuẩn bị mặt bằng và chủ động gieo mạ. Tính đến trung tuần tháng 01/2019, diện tích cày lật đất đạt 24.390 ha, bằng 78,4% so với vụ Xuân năm trước, diện tích mạ đã gieo ước đạt 659,2 ha (mạ xuân sớm đạt 152,4 ha, mạ xuân muộn đạt 506,8 ha). Diện tích mạ đã gieo sinh trưởng và phát triển tốt, tuy nhiên tại một số vùng trên địa bàn thành phố diện tích mạ không được che phủ nilon đã có dấu hiệu chậm phát triển, vàng lá.
Tình hình sinh vật gây hại: trên mạ có xuất hiện ổ trứng, sâu đục thân 2 chấm trưởng thành, bệnh đạo ôn lá, chuột gây hại rải rác; trên cây vụ Đông có xuất hiện một số bệnh như sương mai, héo xanh, thán thư,... cùng với sâu gây hại như bọ nhảy, sâu xanh, sâu tơ, bọ trĩ, gây hại trên cây họ cà, bầu bí và một số diện tích ngô, rau, khoai tây, cây cà chua, bí…các loại.
* Chăn nuôi
Ước tính tháng 01/2019, số lượng đầu con gia súc, gia cầm toàn thành hiện có như sau: đàn trâu đạt 5.200 con, bằng 97,6% so với cùng kỳ năm trước, đàn bò đạt 12.682 con, bằng 96,57% so với cùng kỳ năm trước; đàn lợn đạt 422,1 nghìn con, bằng 95,38% so với cùng kỳ năm trước. Tổng đàn gia cầm vẫn giữ được mức tăng trưởng ổn định, đàn gia cầm đạt 7.873,2 nghìn con, bằng 103,4%, trong đó đàn gà đạt 6.290,3 nghìn con, bằng 104,92% so với cùng kỳ năm trước. 
Giá con giống, thức ăn chăn nuôi tháng 01/2019 giữ ở mức ổn định, giá con giống lợn giảm so với tháng trước; giá sản phẩm chăn nuôi đầu ra hiện nay: giá thịt lợn hơi vẫn duy trì ổn định, giá thịt gà hơi công nghiệp trang trại tăng nhẹ.
Tình hình dịch bệnh: công tác phòng chống dịch bệnh, tổ chức tiêm phòng các loại vacxin, công tác kiểm soát vận chuyển, giết mổ động vật nhằm đảm bảo an toàn vệ sinh thú y và vệ sinh an toàn thực phẩm tiếp tục được các cấp, ngành tích cực tuyên truyền và triển khai đồng bộ ở các địa phương; trong tháng không phát sinh dịch bệnh trên đàn vật nuôi.
2.2. Lâm nghiệp
Ước tháng 01/2019, sản lượng gỗ khai thác đạt 195 m3, bằng 97,5% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng củi 5.000 ste, bằng 96,2% so với cùng kỳ năm trước, sản lượng gỗ và củi chủ yếu được khai thác và thu nhặt từ cây lâm nghiệp trồng phân tán nên không tập trung và phân bổ không đồng đều giữa các tháng trong năm. 
Hiện nay, các địa phương tích cực khảo sát địa điểm trồng và kiểm tra cây giống lâm nghiệp, cây bóng mát, cây ăn quả đảm bảo đủ chất lượng phục vụ tết trồng cây năm 2019. Trong tháng không xảy ra vụ cháy và chặt phá rừng trái phép nào xảy ra.
2.3. Thủy sản
Sản lượng nuôi trồng và khai thác thủy sản tháng 01/2019 ước đạt 12.888,1 tấn, tăng 257,9 tấn (+2,04%) so với cùng kỳ năm trước. 
* Nuôi trồng
Diện tích nuôi trồng thủy sản tháng 01/2019 ước đạt 8.272,5 ha, bằng 101,32% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: cá các loại đạt 4.910,8 ha, bằng 102,64%; tôm các loại đạt 2.128,8 ha, bằng 99,83%; thủy sản khác đạt 1.232,9 ha, bằng 98,82%.
Sản lượng nuôi trồng thủy sản thu hoạch tháng 01/2019 ước đạt 5.898 tấn, bằng 101,83% so cùng kỳ năm trước, chia ra: cá các loại đạt 3.864,7 tấn, bằng 101,5%; tôm các loại đạt 491 tấn, bằng 92,83%, thủy sản khác đạt  1.542,3 tấn, bằng 105,97%.
Do ảnh hưởng của không khí lạnh gây rét đậm, rét hại kèm theo mưa đã ảnh hưởng đến sự phát triển của đàn thủy sản nuôi thương phẩm; công tác thu hoạch gặp nhiều khó khăn. Các cơ sở nuôi trồng thủy sản đã chủ động áp dụng các biện pháp phòng tránh rét, tích cực chăm sóc đàn thủy sản thương phẩm để thu hoạch sản phẩm dịp Tết Nguyên đán.
Các đầm nuôi thủy sản nước lợ quảng canh cải tiến tích cực thu hoạch tôm sú, cua biển… để phục vụ nhu cầu của thị trường. Các trại sản xuất giống thủy sản nước ngọt tập trung lưu giữ, chăm sóc đàn cá bố mẹ qua đông, chuẩn bị cho vụ sản xuất 2019; các cơ sở có đầu tư hệ thống nâng nhiệt chủ động nhập tôm, cua bố mẹ về ương dưỡng. Sản xuất con giống tháng 01/2019 ước đạt 95,8 triệu con, bằng 102,47% so cùng kỳ năm trước.
* Khai thác thủy sản
Sản lượng khai thác thủy sản tháng 01/2019 ước đạt 6.990,1 tấn, bằng 102,22% so cùng kỳ năm trước, chia ra: cá các loại đạt 3.853,9 tấn, bằng 104,32%; tôm các loại đạt 650 tấn, bằng 97,50%; thủy sản khác đạt 2.486,2 tấn bằng 100,35%. Khai thác biển ước đạt 6.626,9 tấn, chiếm tỷ trọng 94,8% trong tổng sản lượng khai thác, bằng 102,02% so cùng kỳ năm trước. Nhóm tàu khai thác đạt hiệu quả chủ yếu là các tàu làm nghề lưới kéo, lồng bẫy hoạt động tại vùng bờ và vùng lộng, sản lượng khai thác của các tàu tuy không cao nhưng sản phẩm bán được giá, tiêu thụ thuận lợi do nhu cầu tiêu thụ sản phẩm thủy sản của thị trường tăng cao.
Vụ cá Bắc đang chịu ảnh hưởng trực tiếp của gió mùa Đông Bắc, do ảnh hưởng của không khí lạnh tăng cường ở Bắc Bộ trong tháng 01/2019 thường có mưa, vịnh Bắc Bộ nhiệt độ nước biển giảm, kéo dài làm ảnh hưởng tới sản xuất khai thác của ngư dân nhất là khối tàu khai thác vùng khơi, trong tháng phải nghỉ đi biển nhiều ngày. Thị trường tiêu thụ hải sản vẫn đảm bảo, giá mặt hàng hải sản tương đối cao; giá nhiên liệu cho hoạt động khai thác giữ ở mức tương đối ổn định.
3. Đầu tư 
Dự tính vốn đầu tư thực hiện tháng 01/2019 là 520,6 tỷ đồng, tăng 9,85% so cùng kỳ. Chia ra:
- Vốn ngân sách nhà nước cấp thành phố ước đạt 459,5 tỷ đồng, tăng so với cùng kỳ 7,94%;
- Vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước đạt 46 tỷ đồng, tăng so với cùng kỳ 34,39%;
- Vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 15,1 tỷ đồng, tăng so với cùng kỳ 7,78%;
Ước tháng 01/2019 vốn đầu tư thực hiện đạt 520,6 tỷ đồng, tăng 9,85% so với tháng 01/2018 chủ yếu do nguồn vốn cân đối ngân sách thành phố (tăng 7,94% so với tháng 01/2018) và nguồn vốn ODA (tăng 8,57% so với tháng 01/2018). Mặc dù thành phố chưa có quyết định phân bổ nguồn vốn ngân sách năm 2019 cho các dự án nhưng đến thời điểm hiện tại các dự án trọng điểm của thành phố vẫn đang được tích cực thực hiện. Các dự án này phần lớn sử dụng nguồn cân đối ngân sách thành phố và vốn ODA thành phố vay lại của Chính phủ. Điển hình là một số dự án như: Dự án đầu tư xây dựng Hạ tầng kỹ thuật khu đô thị mới Bắc sông Cấm với hợp phần cầu Hoàng Văn Thụ nối quận Hồng Bàng với huyện Thủy Nguyên; dự án đầu tư chỉnh trang lại sông Tam Bạc; dự án đầu tư xây dựng trục đường Hồ Sen - Cầu Rào 2; dự án nút giao phía Nam cầu Bính…và những dự án chỉnh trang đô thị khác. Những dự án này đều là những dự án trọng điểm với tổng vốn đầu tư hàng nghìn tỷ đồng góp phần làm thay đổi diện mạo của thành phố cảng từng ngày. Trong thời gian gần đây, Hải Phòng đặc biệt thu hút được sự đầu tư của các tập đoàn lớn trong và ngoài nước, thành phố đã chuẩn bị sẵn tâm thế, tập trung nguồn lực, cân đối thu chi ngân sách, sẵn sàng bước vào giai đoạn phát triển mới tương xứng với vị thế, tiềm năng và sự tin tưởng của các đơn vị đầu tư tại Hải Phòng.
Tình hình thực hiện một số dự án lớn đến thời điểm hiện nay trên địa bàn: 
- Dự án cầu Hoàng Văn Thụ đến thời điểm hiện tại đang thi công lắp thang máy cầu; hệ thống chiếu sáng đang được thực hiện 85% giá trị hợp đồng, vòm thép giữa sông đã được hợp long vào ngày 19/8/2018, hiện tại thực hiện hơn 90% khối lượng công việc. Do vướng mắc trong vấn đề giải phóng mặt bằng, dự kiến quý II/2019 mới xong hợp phần cầu. Đối với các gói thầu xây lắp công trình hạ tầng kỹ thuật khu đô thị Bắc sông Cấm, các nhà thầu đã tích cực huy động nhân lực, máy móc, thiết bị thi công cả ba ca đảm bảo tiến độ, dự kiến quý I/2019 sẽ hoàn thành. 
- Dự án đầu tư chỉnh trang lại sông Tam Bạc (đoạn từ cầu Lạc Long đến công viên Tam Bạc) với tổng mức đầu tư 1.454 tỷ đồng sau gần 7 tháng thi công đang được đẩy nhanh tiến độ thực hiện. Trong tháng 01/2019 có một số khó khăn khách quan về thời tiết đã ảnh hưởng phần nào đến tiến độ của dự án. Đến thời điểm hiện tại dự án đã xong hạng mục nạo vét lòng sông Tam Bạc, xong phần kè hai bờ sông và đang tiến hành trải thảm mặt đường hai tuyến phố.
- Dự án đầu tư xây dựng trục đường Hồ Sen - Cầu Rào 2, đoạn từ nút giao Nguyễn Văn Linh đến ngã 3 đường chợ Con đang tiến hành xây dựng tại khu vực nút giao. Đến thời điểm hiện tại ước thực hiện đạt 75,5% khối lượng công việc. Dự kiến đầu tháng 02/2019 sẽ hoàn thành xong phần cầu và thông xe cầu vượt, tháng 5/2019 sẽ xong phần nút giao khác.
- Dự án xây dựng nút giao thông Nam cầu Bính gồm nhiều hạng mục đầu tư như các đường trong nút giao với bề rộng nền 40-50 mét, các cầu nối, hầm chui, hệ thống thoát nước, cây xanh… với tổng mức đầu tư gần 1.500 tỷ đồng từ ngân sách thành phố. Đến thời điểm 09/01/2019 đã thực hiện được khoảng 14% khối lượng công việc. Đây là công trình đảm nhận chức năng quan trọng về giao thông đối nội và đối ngoại, giúp giảm ùn tắc giao thông và tai nạn giao thông, được đánh giá là nút giao ngã 6 ở cửa ngõ vào trung tâm thành phố.
* Tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngoài
Tính đến 15/01/2019 Hải Phòng có 627 dự án còn hiệu lực:
Tổng vốn đầu tư      :   16.968,0 triệu USD
Vốn điều lệ              :     5.852,3 triệu USD
Vốn Việt Nam góp  :        251,6 triệu USD
Nước ngoài góp       :     5.600,7 triệu USD
Tính đến 31/12/2018, toàn thành phố có 115 dự án cấp mới với tổng vốn đầu tư 741,89 triệu USD và 50 dự án điều chỉnh tăng vốn với số vốn tăng là 1.878,56 triệu USD. 
Trong 15 ngày đầu năm 2019, có 5 dự án được cấp mới với tổng vốn đầu tư là 5,15 triệu USD. Điều chỉnh tăng vốn có 01 dự án với số vốn đầu tư điều chỉnh tăng 3,55 triệu USD, không có dự án bị thu hồi hay chấm dứt hoạt động.
Ước thực hiện vốn đầu tư đạt 40,9%.
4. Tổng mức lưu chuyển hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
Tháng 01 năm 2019 là tháng giáp Tết Nguyên đán, các hoạt động mua bán hàng hoá diễn ra sôi nổi, nhộn nhịp; các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố chủ động dự trữ nguồn hàng phục vụ người dân; các cấp, các ngành tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát sản xuất, lưu thông hàng hóa, đảm bảo hàng hóa có chất lượng cao, giá tốt đến tay người tiêu dùng.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 01 năm 2019 ước đạt 10.612,53 tỷ đồng, tăng 0,76% so với tháng trước và tăng 14,38% so với cùng kỳ năm trước. 
* Chia theo khu vực kinh tế 
- Khu vực kinh tế nhà nước ước đạt 326,27 tỷ đồng, tăng 1,20% so với tháng trước, tăng 15,39% so với cùng kỳ năm trước; 
- Khu vực kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 9.830,67 tỷ đồng, tăng 0,72% so với tháng trước và tăng 14,67% so với cùng kỳ năm trước; 
- Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 455,59 tỷ đồng, tăng 1,26% so với tháng trước, tăng 7,67% so với cùng kỳ năm trước; 
* Chia theo ngành hoạt động
- Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 01 năm 2019 ước đạt 8.380,54 tỷ đồng, tăng 4,73% so với tháng trước, tăng 14,48% so với cùng kỳ năm trước; 
  Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 01 năm 2019 ước tính tăng so với tháng trước ở hầu hết các ngành hàng do nhu cầu mua sắm của người dân dịp giáp Tết tăng cao, cụ thể: lương thực, thực phẩm tăng 4,97%; hàng may mặc tăng 3,34%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 4,80%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 1,94%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 4,40%...
Những mặt hàng thiết yếu cho đời sống hàng ngày như lương thực, thực phẩm và hàng may mặc có doanh thu tương đối ổn định và tăng đều qua các tháng, đặc biệt là ngành hàng may mặc có doanh thu tăng cao do nhu cầu mua sắm quần áo mới cho dịp Tết. Nhu cầu xây dựng, sửa chữa nhà cửa và mua sắm các sản phẩm thiết yếu của mùa đông gia tăng nên doanh thu của các nhóm ngành hàng vật liệu xây dựng, đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình như chăn, ga, gối đệm, dược phẩm, dụng cụ y tế…đều tăng mạnh. 
Trong đó một số nhóm ngành hàng có mức tăng trưởng cao như: lương thực, thực phẩm tăng 15,80%; hàng may mặc tăng 17,61%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 14,61%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 15,47%; phương tiện đi lại tăng 14,77%; xăng dầu tăng 13,66%; nhiên liệu khác tăng 13,90%...
- Doanh thu dịch vụ lưu trú tháng 01 năm 2019 ước đạt 113 tỷ đồng, giảm 5,45% so với tháng trước và tăng 10,75% so với cùng kỳ năm trước. 
- Doanh thu dịch vụ ăn uống tháng 01 năm 2019 ước đạt 1.224 tỷ đồng, giảm 22,35% so với tháng trước và tăng 14,08% so với cùng kỳ năm trước. 
- Doanh thu du lịch lữ hành tháng 01 năm 2019 ước đạt 14,4 tỷ đồng, giảm 1,25% so với tháng trước, tăng 0,05% so với cùng kỳ năm trước.
Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và lữ hành giảm so với tháng trước do người dân tập trung giải quyết các công việc còn lại trong năm nên nhu cầu du lịch và ăn uống giảm. 
- Doanh thu dịch vụ khác tháng 01 năm 2019 ước đạt 880,96 tỷ đồng, tăng 7,35% so với tháng trước, tăng 14,56% so với cùng kỳ năm trước. 
Trong tháng 01/2019 một số nhóm ngành dịch vụ có doanh thu giảm hơn các tháng trước như: dịch vụ kinh doanh bất động sản giảm 27,85%; dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ giảm 17,25%; dịch vụ giáo dục và đào tạo giảm 17,73%. Tuy nhiên, một số nhóm ngành vẫn đạt doanh thu cao do nhu cầu về làm đẹp, sửa chữa đồ dùng cá nhân và gia đình càng những ngày gần Tết càng tăng mạnh như: nhóm dịch vụ sửa chữa máy vi tính, đồ dùng cá nhân và gia đình tăng 1,22%; nhóm dịch vụ khác tăng 1,57%...
5. Hoạt động lưu trú và lữ hành    
Tổng lượt khách tháng 01/2019 do các cơ sở lưu trú và lữ hành thành phố phục vụ ước đạt 524,67 ngàn lượt, giảm 6,5% so với tháng trước và tăng 6,55% so với cùng tháng năm 2018; trong đó khách quốc tế đạt 70 ngàn lượt, giảm 4,6% so với tháng trước và tăng 10,07% so với cùng tháng năm trước.
Đối với hoạt động lữ hành, lượt khách lữ hành tháng 01 năm 2019 đạt 7,8 ngàn lượt, giảm 12,04% so với tháng trước.
6. Vận tải hàng hóa và hành khách
6.1. Vận tải hàng hoá

Khối lượng hàng hoá vận chuyển tháng 01 năm 2019 ước đạt 16,3 triệu tấn, giảm 0,03% so với tháng trước và tăng 14,36% so với cùng tháng năm trước. 
Khối lượng hàng hóa luân chuyển tháng 01 năm 2019 ước đạt 8.061,3 triệu tấn.km, giảm 0,73% so với tháng trước và tăng 3,4% so với cùng tháng năm trước.
Khối lượng hàng hóa vận chuyển và luân chuyển tháng 01/2019 giảm so với tháng trước do khối vận tải hàng hóa đường biển giảm, trong đó công ty cổ phần Vận tải biển Việt Nam và công ty cổ phần Vận tải biển Vinaship ước tính lượng hàng vận chuyển giảm do nhận được ít đơn hàng hơn tháng trước. Trong khi đó, khối vận tải hàng hóa đường bộ tăng so với tháng trước do việc gấp rút hoàn thành các công trình xây dựng và chuẩn bị hàng hóa cho dịp Tết Nguyên đán nên lượng hàng chu chuyển tăng lên.
6.2. Vận tải hành khách    
Khối lượng hành khách vận chuyển tháng 01 năm 2019 ước đạt 5,6 triệu lượt, tăng 1,08% so với tháng trước, tăng 15,95% so với cùng tháng năm trước. 
Khối lượng hành khách luân chuyển tháng 01 năm 2019 đạt 227,9 triệu Hk.km, tăng 1,67% so với tháng trước và tăng 19,2% so với cùng tháng năm trước. 
Khối lượng hành khách vận chuyển và luân chuyển tháng 01/2019 tăng so với tháng trước do có dịp nghỉ Tết dương lịch kéo dài 04 ngày vào đầu tháng và dịp nghỉ Tết Nguyên đán vào cuối tháng nên nhu cầu đi lại bằng xe taxi, ô tô khách tăng cao,... tuy nhiên lượt khách khối đường biển và đường thủy nội địa giảm do thời tiết lạnh nên nhu cầu đi lại giảm.
6.3. Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải
Dịch vụ kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải phát triển ổn định, cụ thể doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng 01 năm 2019 ước đạt 2.442,4 tỷ đồng, tăng 0,41% so với tháng trước và tăng 13,7% so với cùng tháng năm trước.
6.4. Sân bay Cát Bi
Tháng 01 năm 2019 tổng doanh thu của Sân bay Cát Bi ước đạt 23,20 tỷ đồng, tăng 4,75% so với tháng 12 năm 2018 và tăng 33,85% so với cùng tháng năm trước. 
Số lần máy bay hạ, cất cánh tháng 01 năm 2019 ước đạt 1.350 chuyến, tăng 4,17% so với tháng 12 năm 2018, tăng 17,39% so với cùng tháng năm trước. Trong đó chuyến bay ngoài nước tháng 01/2019 ước đạt 110 chuyến, với ước tính khoảng 12 ngàn lượt hành khách thông qua. 
Tổng số hành khách tháng 01 năm 2019 ước đạt 220 ngàn lượt người, tăng 8,69% so với tháng 12 năm 2018, tăng 15,79% so với cùng tháng năm trước. 
Tổng số hàng hóa tháng 01 năm 2019 ước đạt 1.950 tấn, tăng 12,78% so với tháng 12 năm 2018, tăng 50,58% so với cùng tháng năm trước. Hàng hóa thông qua ước tính tháng 01/2019 tăng khối lượng lớn, phục vụ nhu cầu hàng hóa dịp Tết Nguyên đán. Hàng hóa đến và đi hiện nay đa dạng nhiều chủng loại như hải sản, hàng thực phẩm, bánh kẹo, quần áo và hàng tiêu dùng khác.
7. Hàng hoá thông qua cảng
Sản lượng hàng hóa thông qua cảng tháng 01 năm 2019 ước đạt 8.675,73 nghìn TTQ, giảm 19,6% so với tháng trước và giảm 3,8% so với cùng kỳ năm trước. 
Sản lượng hàng hóa thông qua cảng tháng 01 năm nay giảm do Tết Nguyên đán năm 2019 nằm trong tuần đầu của tháng 02, hàng hóa thông qua cảng tập trung nhiều ở tháng 12 năm trước để chuẩn bị cho nhu cầu mua sắm Tết của người dân, cụ thể: 
- Khối cảng thuộc kinh tế Nhà nước ước đạt 3.381,72 nghìn TTQ, tăng 1,22% so với tháng trước, tăng 4,3% so với cùng tháng năm trước, trong đó: 
+ Cảng thuộc khối doanh nghiệp nhà nước Trung ương ước đạt 3.376 nghìn TTQ, tăng 1,22% so với tháng trước, tăng 4,44% so với cùng tháng năm trước.
+ Cảng thuộc khối doanh nghiệp Nhà nước địa phương ước đạt 5,72 nghìn TTQ, bằng tháng trước và giảm 42,84% so với cùng tháng năm trước. 
- Các cảng thuộc khu vực kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 5.294,01 nghìn TTQ, giảm 28,93% so với tháng trước, giảm 8,35% so với cùng kỳ năm 2018.
 * Doanh thu cảng biển tháng 01 năm 2019 của khối cảng trên địa bàn thành phố ước đạt 450,6 tỷ đồng, giảm 9,7% so với tháng trước, tăng 12,16% so với cùng kỳ.
8. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) 
Tháng 01/2019 là tháng giáp Tết Nguyên đán Kỷ Hợi, nhu cầu tiêu dùng hàng hóa tăng cao. Để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng, chính quyền và các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố đã triển khai nhiều giải pháp dự trữ nguồn hàng nên lượng hàng hóa phục vụ dịp Tết khá dồi dào, phong phú về chủng loại và mẫu mã. 
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) thành phố Hải Phòng tháng 01 năm 2019 tăng 0,33% so với tháng trước, tăng 2,65% so với cùng kỳ năm trước.
Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 8 nhóm chỉ số giá tháng 01/2019 tăng so với tháng trước với mức tăng như sau: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,98%; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 1,48%; nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,79%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,34%; nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,02%; nhóm giáo dục tăng 0,01%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,74%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,74%. Có 03 nhóm có chỉ số giá giảm là nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,02%; nhóm giao thông giảm 2,48%; nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,01%.
Nguyên nhân chính tác động làm tăng CPI tháng 01/2019 là do chỉ số giá lương thực tăng 1,75% làm CPI chung tăng 0,06%; chỉ số giá thực phẩm tăng 1,30% làm CPI chung tăng 0,29%, trong đó: chỉ số giá thịt gia súc tăng 1,81% làm cho CPI chung tăng 0,10%, chỉ số giá thủy sản tươi sống tăng 1,12% làm CPI chung tăng 0,05%; chỉ số giá rau tươi, khô và chế biến tăng 2,36% làm CPI chung tăng 0,05%;...
Bên cạnh những yếu tố tác động làm tăng giá, vẫn có các yếu tố tác động kìm hãm CPI chung như: cân đối cung, cầu hàng hóa, dịch vụ tiếp tục được giữ vững; giá nhiều hàng hóa, nguyên, nhiên vật liệu thiết yếu trên thị trường thế giới và trong nước cơ bản ổn định; chỉ số giá điện sinh hoạt giảm 1,30% làm CPI chung giảm 0,03%; chỉ số giá xăng dầu giảm 6,89% làm CPI chung giảm 0,22%...
Chỉ số giá nhóm lương thực trong tháng 01/2019 tăng 1,75% so với tháng trước do nhu cầu chế biến phục vụ Tết Nguyên đán tăng, một số mặt hàng tăng giá như: gạo tẻ ngon, gạo nếp… tăng giá khá cao. Chỉ số giá thực phẩm tăng 1,30% so với tháng trước, trong đó có giá thịt lợn tăng mạnh; giá rau tươi, khô và chế biến tăng 2,36% so với tháng trước do thời tiết rét đậm kéo dài nên rau phát triển chậm ảnh hưởng trực tiếp tới sản lượng nguồn cung rau xanh; giá các mặt hàng quả tươi và chế biến tăng 1,86% so với tháng trước do nhu cầu tiêu dùng tăng cao nên hầu hết các tiểu thương đều đồng loạt nâng giá, đặc biệt có giá chuối tiêu tăng cao do nhu cầu tiêu dùng vào dịp Tết tăng cao. 
Chỉ số nhóm giao thông giảm 2,48% so với tháng trước do giá xăng dầu được điều chỉnh giảm mạnh trong tháng này, cụ thể ngày 01/01/2019, giá xăng dầu được điều chỉnh giảm như sau: giá xăng RON95-IV giảm 540 đồng/lít, xăng E5-RON 92 giảm 510 đồng/lít; dầu diesel 0,05S-II giảm 1.100 đồng/lít
* Chỉ số giá vàng 99,99% và Đô la Mỹ: 
- Chỉ số giá vàng tháng 01/2019 tăng 2,82% so với tháng trước, tăng 0,47% so với cùng tháng năm 2018. Giá vàng bình quân tháng 01/2019 dao động ở mức 3,649 triệu đồng/chỉ, tăng 100.000 đồng/chỉ so với tháng trước đó.    
- Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 01/2019 giảm 0,45% so với tháng trước, tăng 2,22% so với cùng tháng năm 2017. Tỷ giá USD/VND bình quân tháng 01/2019 dao động ở mức 23.251 đồng/USD, giảm 104 đồng/USD.
9. Hoạt động tài chính, ngân hàng 
9.1. Tài chính 

Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn thành phố tháng 01 năm 2019 ước đạt 6.425,1 tỷ đồng, tăng 5,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: thu nội địa ước đạt 2.003,5 tỷ đồng, tăng 7,7% so với cùng kỳ năm trước; thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 4.300 tỷ đồng, tăng 31% so với cùng kỳ năm trước.
Trong thu nội địa, thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước đạt 239,7 tỷ đồng, bằng 97,3% so cùng kỳ; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 308,5 tỷ đồng, tăng 7,7% so với cùng kỳ; thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đạt 488,4 tỷ đồng, bằng 97,8% so cùng kỳ; thuế thu nhập cá nhân đạt 302,3 tỷ đồng, tăng 79,6% so cùng kỳ. 
Tổng chi ngân sách địa phương tháng 01 năm 2019 ước đạt 1.066,7 tỷ đồng, tăng 31,9% so với cùng kỳ, trong đó: chi thường xuyên đạt 1.056,1 tỷ đồng, tăng 33,9% so cùng kỳ, trong chi thường xuyên chi cho hoạt động kinh tế đạt 188 tỷ đồng; chi giáo dục, đào tạo và dạy nghề đạt 301,9 tỷ đồng...
9.2. Ngân hàng 
* Công tác huy động vốn:
Tổng nguồn vốn huy động trên địa bàn ước thực hiện đến hết tháng 01 năm 2019 đạt 184.768 tỷ đồng, tăng 11,5% so với cùng kỳ năm trước.
Theo loại tiền: Huy động bằng VND ước đạt 174.370 tỷ đồng, tăng 12,72% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 94,37%; ngoại tệ ước đạt 10.398 tỷ đồng, bằng 94,34% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 5,63%. 
Theo hình thức huy động: Huy động tiền gửi tiết kiệm ước đạt 129.224 tỷ đồng, tăng 12,46% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 69,94%; tiền gửi thanh toán ước đạt 51.848 tỷ đồng, tăng 12,42% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 28,06%; phát hành giấy tờ có giá ước đạt 3.696 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 2%.
* Công tác tín dụng:
Tổng dư nợ cho vay các thành phần kinh tế ước thực hiện đến hết tháng 01 năm 2019 đạt 113.104 tỷ đồng, tăng 12,53% so với cùng kỳ năm trước. 
Cơ cấu dư nợ theo loại tiền: Cho vay bằng VND đạt 106.580 tỷ đồng, tăng 15,53% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 94,23%. Cho vay ngoại tệ (quy đổi VND) ước đạt 6.524 tỷ đồng, bằng 79,04% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 5,77%.
Cơ cấu dư nợ phân theo thời hạn vay: Cho vay ngắn hạn ước đạt 50.247 tỷ đồng, tăng 11,21% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 44,43%; cho vay trung, dài hạn ước đạt 62.857 tỷ đồng, tăng 13,62% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 55,57%.
10. Xuất nhập khẩu hàng hóa
10.1. Xuất khẩu hàng hoá

Kim ngạch xuất khẩu tháng 01 năm 2019 ước đạt 741,7 triệu USD, giảm 5,18% so với tháng trước; trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 183,1 triệu USD, giảm 5,2%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 558,6 triệu USD, giảm 5,17%. 
So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 01 năm 2019 tăng 25,24%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 18,98%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 27,43%.
Một số mặt hàng xuất khẩu trong 01 tháng năm 2019 có kim ngạch xuất khẩu so với cùng kỳ năm trước: sản phẩm Plastic đạt 44 triệu USD, tăng 22,33%; hàng dệt may đạt 28,6 triệu USD, giảm 2,74%; giày dép đạt 132,8 triệu USD, tăng 15,34%; hàng điện tử đạt 80,2 triệu USD, tăng 2,8 lần; dây điện và cáp điện đạt 58,6 triệu USD, tăng 21,76%; hàng thủ công mỹ nghệ đạt 17,5 triệu USD tăng 29,89%.
10.2. Nhập khẩu hàng hóa    
Kim ngạch nhập khẩu tháng 01 năm 2019 ước đạt 707,2 triệu USD, giảm 3,49% so với tháng trước; trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 190,2 triệu USD, giảm 3,09%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 517 triệu USD, giảm 3,64%. 
So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng 01 năm 2019 tăng 18,13%; trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 14,75%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 19,42%.
Một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu trong 01 tháng năm 2019 so với cùng kỳ: hóa chất đạt 9,1 triệu USD, tăng 32,26%; phụ liệu hàng may mặc đạt 15,7 triệu USD, giảm 0,13%; phụ liệu giày dép đạt 88,1 triệu USD, tăng 18,21%; ô tô đạt 1,2 triệu USD, tăng 21,62%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 99 triệu USD, tăng 15,51%, hàng hóa khác đạt 457,2 triệu USD, tăng 19,52%.
II. VĂN HÓA - XÃ HỘI
1. Giải quyết việc làm, an sinh xã hội

* Công tác lao động, việc làm
Tháng 01 năm 2019 sàn giao dịch việc làm thành phố tổ chức 03 phiên giao dịch việc làm, với 95 lượt doanh nghiệp tham gia, nhu cầu tuyển dụng là 6.317 lượt lao động; cung lao động tại sàn đạt 7.324 lượt người, gấp gần 1,16 lần nhu cầu tuyển dụng; đăng kí bảo hiểm thất nghiệp là 730 người (tăng 8% so với cùng kỳ); giải quyết bảo hiểm thất nghiệp 875 người; hướng dẫn, tiếp nhận thỏa ước lao động tập thể cho 10 doanh nghiệp. 
Đến thời điểm báo cáo trên địa bàn thành phố không xảy ra đình công; xảy ra 02 vụ tai nạn làm 02 người chết, hiện đang trong quá trình điều tra, chưa kết luận là tai nạn lao động.
* Công tác người có công
Trong tháng 01/2019, giải quyết chế độ chính sách đối với 345 trường hợp; xác nhận miễn giảm tiền sử dụng đất cho 10 trường hợp; quyết định trợ cấp 1 lần đối với thân nhân người có công với cách mạng chết trước ngày 01/01/1995 cho 01 người; cấp lại giấy chứng nhận đối với người có công với cách mạng cho 17 trường hợp; đề nghị cấp lại Bằng Tổ quốc ghi công đối với 125 trường hợp.
Thực hiện thăm, tặng quà cho người có công nhân dịp Tết Nguyên đán Kỷ Hợi 2019. Theo đó, tặng quà của Chủ tịch nước đối với 47.492 người có công, với tổng kinh phí 9,702 tỷ đồng (bằng 99,47% so với Tết 2018), tặng quà các đối tượng chính sách theo Quyết định số 3534/QĐ-UBND cho 47.698 người, với tổng kinh phí 167,064 tỷ đồng.
* Công tác giảm nghèo - bảo trợ xã hội
Tháng 01/2019, tiếp nhận 08 đối tượng vào các Trung tâm bảo trợ xã hội, tập trung được 99 lượt người lang thang. Tính đến ngày 18/01/2019, tổng số các đối tượng tại các cơ sở bảo trợ xã hội là 725 người bằng 106% so với năm 2018. Chuẩn bị chúc thọ, mừng thọ người cao tuổi cho 2.177 người với kinh phí là 2.235 triệu đồng, bằng 105,4% so với năm 2018. Thành phố quyết định tặng quà Tết Nguyên đán 2019 cho 8.223 hộ nghèo, 14.902 hộ cận nghèo, 17 hộ nghèo tiêu biểu với tổng kinh phí 20,17 tỷ đồng, bằng 96,9% so với năm 2018 (do số hộ nghèo và hộ cận nghèo năm 2018 giảm so với năm 2017).
Uỷ ban nhân dân thành phố phê duyệt kết quả điều tra, rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2018 (theo chuẩn nghèo quốc gia): tỷ lệ hộ nghèo là 1,41%, tương ứng với 8.223 hộ; tỷ lệ hộ cận nghèo là 2,56%, tương ứng với 14.902 hộ.
* Công tác phòng, chống tệ nạn xã hội
Trong tháng 01/2019 tổ chức quản lý, cai nghiện ma túy tập trung tại Cơ sở cai nghiện ma túy cho 1.543 lượt người; cai nghiện tại gia đình và cộng đồng cho 03 người; kết hợp cùng Công an xét nghiệm ma tuý với 46 đối tượng bị bắt giữ, kiểm tra 33 buổi tại 131 cơ sở kinh doanh nhà nghỉ, khách sạn, quán karaoke...
2. Giáo dục - Đào tạo
Các trường học hoàn thành kế hoạch học kỳ I, triển khai thực hiện nhiệm vụ học kỳ II năm học 2018 - 2019. Sở Giáo dục và Đào tạo tổ chức hội nghị sơ kết học kỳ I, triển khai nhiệm vụ học kỳ II tới các ngành học, bậc học. Tổ chức thành công kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia năm 2019 đảm bảo an toàn, nghiêm túc, đúng quy chế.
3. Y tế và An toàn vệ sinh thực phẩm 
* Công tác y tế dự phòng
Ngành Y tế tập trung nâng cao chất lượng khám sàng lọc, xử trí phản ứng sau tiêm phòng vắc xin ComBE Five đảm bảo an toàn trong tiêm chủng. Các đơn vị y tế trên địa bàn thành phố chủ động, tăng cường công tác phòng chống dịch bệnh mùa đông xuân, đặc biệt trong dịp Tết và các lễ hội Xuân 2019. Trung tâm Y tế dự phòng đã thực hiện giám sát 54 lượt tại các bệnh viện tuyến thành phố.
Diễn biến một số bệnh truyền nhiễm trong tháng 12/2018 so với tháng 11/2018: 14 ca sốt xuất huyết (giảm 26 ca); 169 ca tay chân miệng (giảm 60 ca); 47 ca thủy đậu (tăng 25 ca); 16 ca quai bị (giảm 09 ca); 179 ca tiêu chảy (tăng 15 ca); 267 ca cúm (giảm 212 ca); 16 ca sởi (tăng 03 ca).
* Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm
Trong tháng 01/2019 đã tiến hành kiểm tra về chất lượng an toàn thực phẩm với 28 cơ sở, trong đó có 11 cơ sở sản xuất và 17 cơ sở kinh doanh. Kết quả kiểm tra có 05 cơ sở không đạt yêu cầu, chiếm tỷ lệ 17,9%, trong đó 01 cơ sở có vi phạm đã bị xử lý với mức phạt tiền 20 triệu đồng và buộc phải tái chế sản phẩm. Về cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện an toàn thực phẩm, có 20 cơ sở đạt đủ điều kiện an toàn, 03 cơ sở cam kết đảm bảo an toàn thực phẩm.
Công tác phòng, chống HIV/AIDS: Trong tháng 12/2018 phát hiện 15 người nhiễm HIV, số bệnh nhân chuyển AIDS 10 người, số bệnh nhân tử vong 06 người. Tính đến ngày 31/12/2018, lũy tích người nhiễm HIV là 12.311 người, số người chuyển sang AIDS 6.289 người, số người chết do AIDS là 4.549 người, số người nhiễm HIV hiện còn sống là 7.762 người.
4. Văn hóa - Thể thao
* Công tác văn hóa
Các hoạt động kỷ niệm các ngày lễ lớn trong tháng 01 năm 2019, các chương trình văn hoá nghệ thuật đón Tết Dương lịch, Tết Nguyên đán Kỷ Hợi 2019, kỷ niệm 89 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, đêm giao thừa đón xuân Kỷ Hợi được tích cực đôn đốc, chỉ đạo, lên phương án xây dựng chương trình nhằm tạo không khí vui tươi, hứng khởi phục vụ đông đảo người dân thành phố. Công tác quản lý và tổ chức lễ hội được đặc biệt chú trọng và lên phương án chi tiết đảm bảo an ninh trật tự tại các điểm di tích trước trong và sau Tết Nguyên đán Kỷ Hợi.
* Công tác thể thao
Triển khai tổ chức các hoạt động Thể dục thể thao quần chúng phục vụ Tết Nguyên đán Kỷ Hợi 2019 và các trò chơi dân gian tại khu vực trung tâm thành phố, các quận, huyện để người dân tham gia tạo không khí vui vẻ đón Tết và nâng cao sức khoẻ. Đề xuất Uỷ ban nhân dân thành phố cho phép tổ chức giải chạy bộ "Hải Phòng Sundown Marathon 2019".
5. Tình hình trật tự an toàn giao thông, công tác phòng chống cháy, nổ
Từ ngày 16/12/2018 đến ngày 15/01/2019 toàn thành phố xảy ra 06 vụ tai nạn giao thông đường bộ làm chết 05 người và bị thương 03 người. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông không đổi, số người chết giảm 02 người và số người bị thương tăng 03 người. Không có trường hợp tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng xảy ra, nguyên nhân chủ yếu do sự bất cẩn khi tham gia giao thông của người dân.
Cùng khoảng thời gian từ ngày 16/12/2018 đến ngày 15/01/2019 trên địa bàn thành phố xảy ra 11 vụ cháy, trong đó có 07 vụ cháy nhà dân cùng 01 vụ tại doanh nghiệp, làm 01 người bị thương. Giá trị thiệt hại về tài sản bước đầu xác định là 2 triệu đồng, có 08 vụ cháy đang trong quá trình xác minh thiệt hại. So với cùng kỳ năm trước, số vụ cháy tăng 03 vụ, số người bị thương tăng 01 người./.

Tác giả bài viết: Cục Thống kê Hải Phòng

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 5 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019

Hỏi đáp Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây