Tình hình kinh tế - xã hội thành phố Hải Phòng tháng 1 năm 2018

Thứ hai - 29/01/2018 03:13
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) TP Hải Phòng tháng 01/2018 tăng 1,56% so với tháng trước, tăng 4,56% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chính tác động làm tăng CPI tháng 01/2018 là do nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng cao.
BÁO CÁO
TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI THÁNG 01 NĂM 2018
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ
1.    Sản xuất công nghiệp

Chỉ số phát triển sản xuất (PTSX) công nghiệp trên địa bàn thành phố tháng 01 năm 2018 giảm 8,84% so với tháng 12 năm 2017 và tăng 31,33% so với cùng kỳ năm 2017, trong đó: ngành khai khoáng tăng 35,86%; ngành chế biến, chế tạo tăng 34,77%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 10,73%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 3,4%.
Trong 46 nhóm ngành kinh tế cấp 4 có 34 ngành có chỉ số sản xuất tăng so với cùng kỳ, trong đó: ngành may trang phục có mức tăng cao nhất, đạt 132,67%; tiếp theo ngành sản xuất thuốc lá tăng 95,03%, sản xuất gỗ dán tăng 89,03%, sản xuất bia 82,27%, sản xuất thiết bị truyền thông tăng 52,24%...
Có 12 ngành có chỉ số sản xuất giảm, trong đó: ngành thoát nước, xử lý nước thải giảm 53,51%; ngành in ấn giảm 46,76%; ngành sản xuất thuốc, dược liệu giảm 32,36%; ngành sản xuất thức ăn gia súc giảm 21,19%; ngành sản xuất mô tơ, máy phát điện giảm 20,25%...
Chỉ số PTSX công nghiệp tháng 01/2018 tăng cao so với tháng cùng kỳ năm trước do tháng 01/2017 trùng kỳ nghỉ tết Nguyên đán nên số ngày làm việc ít hơn, bên cạnh đó một số dự án lớn tháng 01/2018 tăng công suất đóng góp vào tốc độ tăng trưởng công nghiệp toàn thành phố:
- Tháng 01/2018 ngành may mặc vẫn tiếp tục dẫn đầu nhóm ngành có tốc độ tăng cao, chủ yếu tăng trưởng sản xuất của công ty TNHH may Regina Miracle khi nhà máy A đã đi vào sản xuất ổn định, nhà máy B đang tăng công suất. Để đáp ứng nhu cầu lao động cho sản xuất công ty đã tuyển tới 20.000 lao động và trở thành doanh nghiệp có số lao động lớn nhất trên địa bàn thành phố. Dự kiến tháng 01 sản xuất đạt hơn 6,7 triệu sản phẩm cao nhất từ trước đến nay, doanh thu đạt 650 tỷ đổng chiếm hơn 60% doanh thu toàn ngành may.
- Hai dự án lớn của tập đoàn LG đã đóng góp đáng kể vào tốc độ tăng của sản xuất công nghiệp, đưa Hải Phòng trở thành trung tâm sản xuất điện tử lớn của cả nước. Dự án LG Display sau hơn 4 tháng đi vào hoạt động, sản xuất của dự án đã ổn định và đang tăng dần sản lượng. Dự án LG Electronics tháng 12/2017 sản xuất giảm, công ty chỉ sản xuất 20 ngày do thời điểm này ở nước ngoài đang là kỳ nghỉ lễ kéo dài, các đối tác giảm nhập hàng. Dự kiến tháng 01/2018 sản xuất tăng trở lại ở các dòng sản phẩm điện thoại, màn hình IVI, máy giặt, máy hút bụi, riêng sản phẩm ti vi theo đúng kế hoạch đã ngừng sản xuất từ tháng 01/2018.
- Công ty CP Nhiệt điện Hải Phòng sau nhiều tháng sản xuất giảm, từ tháng 12/2017 sản lượng điện sản xuất đã tăng trở lại, 4 tổ máy được phát liên tục, dự kiến sang tháng 01/2018 điện phát ra đạt 580 triệu Kwh.
- Một số công ty sản xuất các sản phẩm phục vụ Tết đều đẩy mạnh sản xuất như: công ty Thuốc lá Hải Phòng dự kiến tháng 01/2018 tăng gần gấp đôi so với cùng kỳ; sản lượng bia lon và bia đóng chai của công ty CP bia Hà Nội - Hải Phòng, công ty CP bia Habeco Hải Phòng đều tăng cao so cùng kỳ; công ty CP nước mắm Cát Hải mở chương trình chiết khấu, khuyến khích các đại lý nhập hàng, đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm nước mắm truyền thống của thành phố.
Tuy nhiên, bên cạnh việc tăng cao so cùng kỳ năm 2017, chỉ số PTSX công nghiệp tháng 01/2018 giảm 8,84% so với tháng 12/2017 do trong 46 ngành công nghiệp cấp 4 có 34 ngành có chỉ số PTSX tháng 01/2018 giảm so với tháng 12/2017, trong đó một số doanh nghiệp chiếm tỷ trọng lớn giảm:
- Ngành sản xuất xi măng tháng 01/2018 giảm 13,8% so với tháng 12/2017, trong đó: công ty Chinfon tháng 01/2018 ngừng đại tu 01 dây chuyền 10 ngày, sản xuất giảm 9% so tháng 12/2017; công ty Xi măng Vicem Hải Phòng ngừng sản xuất để sửa chữa, sản lượng tháng 01/2018 dự kiến chỉ đạt 120 nghìn tấn, giảm 35% so với tháng 12/2017.
- Công ty CP Dap-Vinachem sản xuất phân bón tháng 1 dự kiến dừng sản xuất 5 ngày để sửa chữa, sản lượng sản xuất dự kiến chỉ đạt 22 nghìn tấn, giảm so tháng 12 gần 4 nghìn tấn, tương đương giảm 5,8%.
- Ngành đóng tàu dự kiến tháng 01/2018 sản lượng giảm 14,95% so tháng 12/2017 cụ thể: công ty CP đóng tàu Hồng Hà giảm 20,5%; đóng tàu Bạch Đằng giảm 48%, đóng tàu Phà Rừng giảm 25%, đóng tàu Bến Kiền giảm 18%.
- Các công ty thép Việt Úc, SSE đều ước sản xuất tháng 01/2018 giảm khoảng 10% so tháng trước.
- Công ty TNHH LG Electronics ngừng sản xuất tivi từ tháng 01/2018, làm ngành sản xuất sản phẩm điện tử tháng 01/2018 dự kiến giảm 19,1% so tháng 12/2017; công ty Fuji Xerox do tập trung chuẩn bị sản xuất dòng sản phẩm mới là máy in màu nên sản lượng tháng 01/2018 giảm 13,5 nghìn sản phẩm, tương đương giảm 33% so tháng 12/2017...
* Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 12/2017 giảm 0,9% so với tháng trước và tăng 12,3% so với cùng kỳ năm trước, cộng dồn 12 tháng năm 2017 chỉ số tiêu thụ tăng 26,1% so cùng kỳ trong đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao so cùng kỳ: sản xuất đồ điện dân dụng tăng 93,4%; sản xuất máy móc và thiết bị văn phòng tăng 54,1%; sản xuất trang phục tăng 172,3%; sản xuất săm, lốp cao su tăng 78,3%; sản xuất bê tông tăng 32,6%...
Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng một con số: sản xuất thiết bị truyền thông tăng 9,7%; sản xuất phụ tùng và bộ phận phụ trợ cho xe có động cơ và động cơ xe tăng 8%; sản xuất sản phẩm từ plastic tăng 8,1%; sản xuất giày dép tăng 1,8%...
Một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm so cùng kỳ: sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm và thủy sản giảm 29,1%; sản xuất xi măng giảm 8,44%; sản xuất bia và mạch nha ủ men bia giảm 14,9%...
* Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 31/12/2017 giảm 2,9% so với tháng trước và tăng 28,5% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao so cùng kỳ: sản xuất bi, bánh răng, hộp số tăng 117,2%; sản xuất xi măng tăng 77,9%; sản xuất trang phục tăng 76,1%; sản xuất thiết bị truyền thông tăng 387%, sản xuất máy móc và thiết bị văn phòng tăng 57,9%...
Một số ngành có chỉ số tồn kho so cùng kỳ giảm như: sản xuất các sản phẩm từ plastic giảm 30%; sản xuất đồ điện dân dụng giảm 41,3%; sản xuất bê tông và các sản phẩm từ xi măng giảm 18,4%; sản xuất sắt, thép giảm 14,6%; sản xuất giày dép giảm 5%...
* Một số sản phẩm công nghiệp ước tháng 01 năm 2018 so cùng kỳ: quần áo các loại ước đạt 11,4 triệu cái tăng 1,5 lần; phân khoáng hoặc phân hóa học 22,6 nghìn tấn tăng 18%; màn hình khác 600 nghìn cái tăng 37%; máy giặt 108 nghìn cái tăng 12%; lốp hơi mới bằng cao su 238 nghìn cái tăng 43%; gang, thỏi, thép, thanh que sắt 109 nghìn tấn tăng 16%; xi măng Portland đen 403 nghìn tấn tăng 23%; điện sản xuất 580 triệu Kwh tăng 12%...
2. Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản
2.1. Nông nghiệp

* Trồng trọt
- Sản xuất vụ Đông 2017-2018:
Diện tích gieo trồng cây vụ Đông đến nay đã trồng 7.677 ha chỉ bằng 76,8% kế hoạch và bằng 98,82% so thực hiện năm trước. Thời gian qua, điều kiện thời tiết thuận lợi cho cây vụ đông sinh trưởng và phát triển tốt, đặc biệt là nhóm cây ưa lạnh: khoai tây, cải bắp, súp lơ... Diện tích cây vụ Đông đã cho thu hoạch 6.450 ha bằng 84,0% diện tích gieo trồng và bằng 83,02% so với thực hiện năm trước, trong đó: cây ngô 300 ha bằng 65,36%; khoai lang 350 ha bằng 81,02%; rau các loại 5.324 ha bằng 85,71%; cây gia vị Ớt cay 360 ha, bằng 97,04% so với năm trước. Một số cây vụ Đông trồng sớm đã được thu hoạch như cải bắp, súp lơ, bí xanh, ớt, cà chua, ngô, dưa các loại.., năng suất ổn định, giá bán cao hơn năm trước khoảng 10 - 20%.
- Sản xuất lúa vụ Xuân 2018:
Đến nay, diện tích cày lật đất 34.300 ha, bằng 98,2% diện tích kế hoạch và bằng 98,14% so với thực hiện năm trước. Diện tích mạ đã gieo 455,8 ha, trong đó mạ Xuân sớm đã gieo 262,8 ha (bằng 7,5% diện tích gieo cấy, giảm 2,1% so với cùng kỳ 2017), gồm các giống Xi23, XT28, nếp...; mạ Xuân muộn gieo sớm 193 ha, gồm các giống: TBR 225, P6, Kim Cương 111, Thái Xuyên 111... Từ cuối tháng 12/2017 đến nay, do ảnh hưởng của các đợt không khí lạnh tăng cường, nhiệt độ nhiều ngày dưới 150C, trên một số diện tích mạ mới gieo – 1,5 lá không được che phủ nilon cây mạ sinh trưởng kém, có hiện tượng táp, trắng lá, chết chòm.
Tình hình sâu bệnh: Thời gian qua, thời tiết nhiều ngày có mưa phùn, độ ẩm không khí cao, bệnh sương mai và giả sương mai đã xuất hiện và gây hại trên cây họ cà, bầu bí và một số diện tích rau, khoai tây, cây cà chua, cây dưa chuột, bí các loại…
* Chăn nuôi
Tháng 01/2018 đàn trâu ước thực hiện là 5.341 con, bằng 94,23% so cùng kỳ năm trước; đàn bò ước thực hiện 13.317 con, bằng 101,10%; đàn lợn ước thực hiện 452.180 con, bằng 93,0% so cùng kỳ năm trước; tổng đàn gia cầm 7.853,12 ngàn con, bằng 102,62% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: đàn gà 6.221,12 nghìn con bằng 102,22% so với cùng kỳ năm trước. Sản phẩm chăn nuôi bán ra tăng so với tháng trước và tăng so cùng kỳ tháng 01/2017.
Tình hình chăn nuôi tháng 01/2018 ổn định, không khí lạnh ở phía Bắc tiếp tục tăng cường, khả năng sẽ có nhiều đợt rét đậm rét hại kéo dài gây khó khăn cho đàn vật nuôi phát triển. Với công tác thú y được đảm bảo, không có dịch bệnh xảy ra trên đàn gia súc, gia cầm. Những tháng cuối năm giá thực phẩm có tăng nhưng không ổn định.
2.2. Lâm nghiệp
Tổng số gỗ khai thác tháng 01/2018 ước thực hiện 200 m3, bằng 100% so cùng kỳ năm trước, khai thác từ rừng trồng là chủ yếu. Khối lượng củi khai thác tháng 01/2018 ước đạt 5.300 ste, bằng 100% so cùng kỳ năm trước; trong tháng 01/2018 không có vụ cháy rừng nào xảy ra và cũng không có vụ chặt phá rừng nào.
2.3. Thủy sản
* Nuôi trồng thủy sản
Từ đầu tháng, không khí lạnh gây rét đậm đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự tăng trưởng của các đối tượng nuôi thương phẩm và phát triển tuyến sinh dục của đàn cá bố mẹ đang trong giai đoạn chuẩn bị đưa vào sản xuất giống. Nhiệt độ thấp cũng khiến công tác thu hoạch tôm cá nuôi gặp nhiều khó khăn.
Diện tích nuôi trồng thủy sản 9.277,5 ha bằng 112,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: diện tích nuôi tôm sú 1.892,8 ha, bằng 91,04%, tôm thẻ chân trắng 223,5 ha, bằng 125,7% so với cùng kỳ năm trước.
Sản lượng nuôi trồng thủy sản thu hoạch tháng 01/2018 ước 5.470,3 tấn, bằng 103,02% so cùng kỳ năm trước. Trong đó: sản lượng tôm sú ước 37,6 tấn, bằng 99,79%, tôm thẻ chân trắng 315,1 tấn, bằng 107,4% so với cùng kỳ năm trước.
* Khai thác thủy sản
Sản lượng khai thác tháng 01/2018 ước 5.932,6 tấn bằng 106,38% so cùng kỳ năm trước. Trong đó khai thác biển ước 5.583,4 tấn, bằng 106,8%, trong đó: cá 2.984,3 tấn; tôm các loại 514,8 tấn và thủy sản khác 2.084,3 tấn, các loại sản lượng khai thác biển đều tăng cao hơn so với cùng kỳ năm trước. Nhóm tàu khai thác đạt hiệu quả chủ yếu là các tàu làm nghề lưới kéo, lồng bẫy hoạt động tại vùng bờ và vùng lộng, sản lượng khai thác của các tàu tuy không cao nhưng sản phẩm bán được giá, tiêu thụ thuận lợi do nhu cầu tiêu thụ sản phẩm thủy sản trên thị trường tăng cao.
3. Đầu tư
Dự tính vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách do địa phương quản lý tháng 01/2018 là 466,8 tỷ đồng, tăng 77,01% so cùng kỳ. Chia ra:
- Vốn ngân sách nhà nước cấp thành phố ước 419,5 tỷ đồng, tăng so với cùng kỳ 90,04%;
- Vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước 34 tỷ đồng, tăng so với cùng kỳ 8,36%;
- Vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước 13,3 tỷ đồng, tăng so với cùng kỳ 14,85%;
Vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước tháng 01/2018 tăng cao chủ yếu do vốn ngân sách nhà nước cấp thành phố tăng cao (+90,04%), trong đó dự án đầu tư xây dựng Hạ tầng kỹ thuật khu đô thị mới Bắc sông Cấm tháng 01/2018 ước thực hiện 300 tỷ đồng. Đầu năm 2018, đầu tư thực hiện trên địa bàn thành phố tập trung vào các dự án chuyển tiếp và một số dự án mới như: Dự án xây dựng cầu Nguyễn Trãi; Dự án xây dựng Nhà tang lễ thành phố; Dự án đầu tư xây dựng Nhà tưởng niệm đồng chí Nguyễn Đức Cảnh; Dự án đầu tư xây dựng trục đường Hồ Sen - Cầu Rào 2, đoạn từ nút giao Nguyễn Văn Linh đến ngã 3 chợ Con.
Dự án cầu Hàn, cầu Đăng là hai dự án xây dựng hai cây cầu bê tông cốt thép thay thế cầu phao nối liền huyện Tiên Lãng với huyện Vĩnh Bảo, là mạch nối giao thông xuyên suốt với đường 351, 352, 354, 402, QL 37, QL10. Dự án này được khởi công vào 01/5/2017 với tổng đầu tư hơn 380 tỷ đồng. Hai dự án này đã được hoàn thành và đưa vào sử dụng từ ngày 01/01/2018.
* Tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngoài
Tính đến 15/01/2017 Hải Phòng có 524 dự án còn hiệu lực:
    Tổng vốn đầu tư   :   14.514,178 triệu USD
Vốn điều lệ            :    4.557,96       “
     - Việt Nam góp      :      212,188        “
- Nước ngoài góp   :   4.345,78       “
* Tính đến 31/12/2017, toàn thành phố có 60 dự án cấp mới với tổng vốn đầu tư 258,06 triệu USD, Hàn Quốc dẫn đầu với số dự án đăng ký mới là 19 dự án, số vốn đầu tư đăng ký mới là 70,12 triệu USD, chiếm 27,18%; tiếp theo là dòng vốn đến từ các nhà đầu tư Nhật Bản là 09 dự án với tổng vốn là 62,55 triệu USD, chiếm 24,24%; đứng thứ 3 là Hồng Kông 09 dự án, vốn đầu tư là 34,84, chiếm 13,5%. Có 39 dự án điều chỉnh tăng vốn với số vốn tăng là 662,95 triệu USD.
* 15 ngày đầu năm 2018, có 02 dự án được cấp mới với tổng vốn đầu tư là 350 nghìn USD.
* Năm 2017 có 03 dự án điều chỉnh giảm vốn, 21 dự án thu hồi/chấm dứt hoạt động.
* Ước thực hiện vốn đầu tư: 41,6%.
4.    Tổng mức lưu chuyển hàng hóa và doanh thu dịch vụ
Tháng 01 năm 2018 là tháng giáp tết Nguyên đán, các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố chủ động khai thác nguồn hàng, đẩy mạnh thu mua, tạm trữ hàng hóa đáp ứng nhu cầu của thị trường chuẩn bị cho Tết; các cấp, các ngành tăng cường kiểm tra, kiểm soát thị trường, chống đầu cơ, đồng thời thực hiện các chính sách bình ổn giá thị trường.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 01 năm 2018 ước đạt 9.549,6 tỷ đồng, tăng 5% so với tháng trước và tăng 14,42% so với cùng kỳ năm trước.
* Chia theo khu vực kinh tế
- Khu vực kinh tế nhà nước đạt 311,7 tỷ đồng, tăng 6,65% so với tháng trước, tăng 16,68% so với cùng kỳ năm trước;
- Khu vực kinh tế ngoài nhà nước đạt 8.715,4 tỷ đồng, tăng gần 4,72% so với tháng trước và tăng 14,58% so với cùng kỳ năm trước;
- Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 522,5 tỷ đồng, tăng 8,91% so với tháng trước, tăng 10,58% so với cùng kỳ năm trước;
* Chia theo ngành hoạt động
- Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 01 năm 2018 đạt 7.360,4 tỷ đồng, tăng 5,78% so với tháng trước, tăng 13,62% so với cùng kỳ năm trước;
Ước tính doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 01 năm 2018 so với tháng trước tăng ở hầu hết các ngành hàng, cụ thể: lương thực, thực phẩm tăng 6,54%; hàng may mặc tăng 5,79%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 5,54%; xăng dầu tăng 6,19% (do từ 04/01/2018 giá xăng A95 tăng 810 đồng/lít, dầu diesel tăng 360 đồng/lít); nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) tăng 2,46%... Các mặt hàng thiết yếu như lương thực, thực phẩm và hàng may mặc đều ước tính doanh thu tăng cao trong dịp cuối năm.
So với cùng kỳ năm 2017, doanh thu bán lẻ hàng hoá tháng 01 tăng 13,62%. Cả 12 nhóm hàng đều ước tính doanh thu tăng cao, cụ thể: lương thực, thực phẩm tăng 15,87%; hàng may mặc tăng 16,03%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 12,56%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 15,90%; phương tiện đi lại (trừ ô tô, kể cả phụ tùng) tăng 11,96%; xăng dầu tăng 19,73%; nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) tăng 8,48%;…
- Doanh thu dịch vụ lưu trú tháng 01 năm 2018 ước đạt 85 tỷ đồng, giảm 2,14% so với tháng trước và tăng 11,48% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu lưu trú giảm so với tháng trước do hết mùa du lịch, lượng khách nội địa giảm mạnh ở khu vực Đồ Sơn và Cát Bà.
- Doanh thu dịch vụ ăn uống tháng 01 năm 2018 ước đạt 1.004,5 tỷ đồng, tăng 0,15% so với tháng trước và tăng 18,89% so với cùng kỳ năm trước.
- Doanh thu du lịch lữ hành tháng 01 năm 2018 ước đạt 22,8 tỷ đồng, giảm 12,89% so với tháng trước, tăng 20,56% so với cùng kỳ năm trước.
- Doanh thu dịch vụ khác tháng 01 năm 2018 ước đạt 1.076,82 tỷ đồng, tăng 5,52% so với tháng trước, tăng 16,10% so với cùng kỳ năm trước. Tháng đầu năm 2018 doanh thu hầu hết các ngành dịch vụ đều tăng, cụ thể: dịch vụ sửa chữa máy tính, đồ dùng cá nhân và gia đình tăng 2,63% so với tháng trước, tăng 38,51% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu về hoạt động y tế và trợ giúp xã hội tăng 1,02% so với tháng trước, tăng 13,58% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ khác tăng 1,04% so với tháng trước, tăng 4,74% so với cùng kỳ năm trước.
5.    Hoạt động lưu trú và lữ hành
Tổng lượt khách tháng 01/2018 do các cơ sở lưu trú và lữ hành thành phố phục vụ ước đạt 533,38 ngàn lượt, giảm 2,85% so với tháng trước và tăng 12,56% so với cùng tháng năm 2017; trong đó khách quốc tế đạt 61 ngàn lượt, giảm 9,27% so với tháng trước và tăng 6,55% so với cùng tháng năm trước.
Đối với hoạt động lữ hành, lượt khách lữ hành tháng 01/2018 ước đạt 13,4 ngàn lượt giảm 4,55% so với tháng trước, tăng 15,57% so với cùng kỳ năm trước.
Số lượt khách phục vụ của các công ty du lịch lữ hành tháng 01/2018 giảm so với tháng trước; tuy nhiên số lượt khách phục vụ vẫn tăng 15,57% so với cùng kỳ năm trước.
6.    Vận tải hàng hóa và hành khách
6.1. Vận tải hàng hoá

Khối lượng hàng hoá vận chuyển tháng 01 năm 2018 ước đạt 14,6 triệu tấn, tăng 0,2% so với tháng trước và tăng 15,56% so với cùng tháng năm trước.
Khối lượng hàng hóa luân chuyển tháng 01 năm 2018 ước đạt 8.422,5 triệu tấn.km, tăng 0,11% so với tháng trước và tăng 15,66% so với cùng tháng năm trước.
6.2. Vận tải hành khách
Khối lượng hành khách vận chuyển tháng 01 năm 2018 ước đạt 5,0 triệu lượt, tăng 0,51% so với tháng trước, tăng 17,53% so với cùng tháng năm trước.
Khối lượng hành khách luân chuyển tháng 01 năm 2018 ước đạt 197 triệu Hk.km, tăng 0,31% so với tháng trước và tăng 17,16% so với cùng tháng năm trước.
Khối lượng hành khách vận chuyển và luân chuyển tháng 01/2018 tăng so với tháng trước, nguyên nhân do tháng này vào dịp cận Tết Nguyên Đán nhu cầu khách đi lại... bằng xe ô tô khách, taxi tăng cao.
6.3. Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải
Dịch vụ kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải phát triển ổn định, cụ thể doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng 01 năm 2018 ước đạt 2.297,8 tỷ đồng, tăng 2,53% so với tháng trước và tăng 12,7% so với cùng tháng năm trước.
6.4. Ga Hải Phòng
Tổng doanh thu tháng 01 năm 2018 Ga Hải Phòng ước đạt 13,9 tỷ đồng, tăng 15,49% so với tháng 12 năm 2017, tăng 5,26% so với cùng tháng năm trước.
Tổng số hành khách vận chuyển tháng 01 năm 2018 ước đạt 55 ngàn lượt người, tăng 17,05% so với tháng trước, tăng 0,83% so với cùng tháng năm trước.
Tổng số hàng hóa vận chuyển tháng 01 năm 2018 ước đạt 115 ngàn tấn, tăng 11,32% so với tháng 12 năm 2017, tăng 22,19% so với cùng tháng năm trước.
6.5. Sân bay Cát Bi
Tháng 01 năm 2018 tổng doanh thu của Sân bay Cát Bi ước đạt 17,6 tỷ đồng, tăng 5,26% so với tháng 12 năm 2017; tăng 17,95% so với cùng tháng năm trước.
Số lần máy bay hạ, cất cánh tháng 01 năm 2018 ước đạt 1.160 chuyến, tăng 5,07% so với tháng 12 năm 2017, giảm 16,18% so với cùng tháng năm trước. Trong đó chuyến bay ngoài nước tháng 12 ước đạt 97 chuyến, với ước tính khoảng 12 ngàn lượt hành khách thông qua.
Tổng số hành khách tháng 01 năm 2018 ước đạt 185 ngàn lượt người, tăng 7,98% so với tháng 12 năm 2017, tăng 4,31% so với cùng tháng năm trước.
Tổng số hàng hóa tháng 01 năm 2018 ước đạt 1.360 tấn, tăng 5,43% so với tháng 12 năm 2017, tăng 64,25% so với cùng tháng năm trước. Ước tính tháng này, hàng hóa thông qua tăng khối lượng lớn, phục vụ nhu cầu hàng hóa dịp Tết Nguyên Đán. Hàng hóa đến chủ yếu là hàng hải sản từ Nha Trang, Phú Quốc, trái cây từ TP.Hồ Chí Minh, hàng hóa đi bao gồm nhiều loại như cau, vải, quần áo…
7.    Hàng hoá thông qua cảng
Sản lượng hàng hóa thông qua cảng tháng 01 năm 2018 ước đạt 8,956 triệu TTQ, tăng 0,79% so với tháng trước và tăng 17,94% so với cùng kỳ năm trước, cụ thể:
- Khối cảng thuộc kinh tế Nhà nước ước đạt 3,287 triệu TTQ, giảm 1,08% so với tháng trước và giảm 4,46% so với cùng kỳ năm trước, trong đó:
+ Cảng thuộc khối doanh nghiệp nhà nước Trung ương ước đạt 3,277 triệu TTQ, giảm 1,13% so với tháng trước và giảm 3,55% so với cùng kỳ năm trước.
+ Cảng thuộc khối doanh nghiệp Nhà nước địa phương ước đạt 10 ngàn TTQ, tăng 17,59% so với tháng trước và giảm 76.66% so với cùng kỳ năm trước.
- Các cảng thuộc khu vực kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 5,669 triệu TTQ, tăng 1,92% so với tháng trước và tăng 36,50% so với cùng kỳ năm trước.
* Doanh thu cảng biển tháng 01 năm 2018 của khối cảng trên địa bàn thành phố ước đạt 393,5 tỷ đồng, tăng 8,42% so với cùng kỳ năm trước.
8. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) thành phố Hải Phòng tháng 01 năm 2018 tăng 1,56% so với tháng trước, tăng 4,56% so với cùng kỳ năm trước.
Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 9 nhóm chỉ số giá tăng với mức tăng như sau: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,76%; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,43%; nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,35%; nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,26%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,04%; nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 7%; nhóm giao thông tăng 0,99%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,21%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,94%. Nhóm Bưu chính viễn thông giảm 0,99% và nhóm giáo dục có chỉ số giá ổn định so với cùng kỳ.
Nguyên nhân chính tác động làm tăng CPI tháng 01/2018 là do nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng cao, cụ thể tăng 7% so với tháng trước đã đóng góp tăng 0,57% vào CPI chung. Việc áp dụng khung giá mới đối với dịch vụ khám, chữa bệnh không thuộc phạm vi thanh toán của Quỹ Bảo hiểm y tế tại các cơ sở khám, chữa bệnh công lập trên địa bàn thành phố kể từ ngày 01/01/2018 theo Nghị quyết số 32/2017/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân thành phố Hải Phòng đã làm chỉ số nhóm dịch vụ y tế tăng 10,18%, trong đó: dịch vụ khám chữa bệnh ngoại trú tăng 5,34%; khám chữa bệnh nội trú tăng 15,02%.
Bên cạnh đó, một số nguyên nhân khác làm CPI tháng 01/2018 tăng như:
- Chỉ số giá thực phẩm tăng 2,21% so với tháng trước làm CPI chung tăng 0,55%, trong đó: chỉ số giá thịt gia súc tăng 3,38% làm cho CPI chung tăng 0,21%; chỉ số giá thủy sản tươi sống tăng 3,07% làm CPI chung tăng 0,15%; chỉ số giá rau tươi, khô và chế biến tăng 1,54% làm CPI chung tăng 0,04%;
Chỉ số giá nhóm lương thực trong tháng 01/2018 tăng 0,48% so với tháng trước, giá gạo tăng do sản lượng thóc thu hoạch từ vụ mùa năm trước giảm, giá miến tăng do chuẩn bị vào dịp Tết.
Giá các mặt hàng quả tươi tăng mạnh vào cuối tháng, do nhu cầu tiêu dùng tăng cao nên hầu hết các tiểu thương đều đồng loạt nâng giá. Tính chung cả tháng, các mặt hàng quả tươi tăng 5,00% so với tháng trước.   
Giá nhóm mặt hàng công nghệ phẩm tăng theo nhu cầu Tết như bánh kẹo tăng 1,16%; chè, cà phê tăng 0,06%; giá đường tăng 0,93%.
- Chỉ số nhóm hàng may mặc, mũ nón, giày dép trong tháng tăng 1,35% so với tháng trước, chủ yếu tăng ở giá nhóm hàng quần áo mùa đông. Nhu cầu may mặc dịp cuối năm cũng tăng cao nên giá vải các loại cũng tăng theo với mức tăng cụ thể là 3,07%.
- Chỉ số nhóm nhà ở, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,26%, trong đó: Chỉ số vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,55%, chủ yếu do nhu cầu xây dựng, sửa chữa nhà ở dịp cuối năm tăng cao nên giá vật liệu xây dựng tăng; chỉ số giá gas và chất đốt khác tăng 0,22%; trong đó giá gas giữ nguyên; chỉ số giá dầu hỏa tăng 4,48% do được điều chỉnh tăng hai lần trong tháng: lần thứ nhất vào ngày 04/01/2018 (tăng 500 đồng/lít), lần thứ hai vào ngày 19/01/2018 (tăng 450 đồng/tháng).
- Chỉ số nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình trong tháng tăng nhẹ 0,04%, chủ yếu do giá các sản phẩm hàng dệt trong nhà tăng do nhu cầu sử dụng dịp cuối năm tăng.
- Chỉ số nhóm giao thông tăng 0,99% nguyên nhân do giá nhiên liệu tăng so với tháng trước. Trong tháng 01/2018, giá xăng Ron 95 được điều chỉnh tăng 810 đồng/lít vào ngày 04/01/2018 và tiếp tục tăng 290 đồng/lít vào ngày 19/01/2018. Từ ngày 1/1/2018, xăng sinh học E5 sẽ được bán thay thế toàn bộ xăng Ron 92, giá xăng này cũng được điều chỉnh tăng 360 đồng/lít vào ngày 04/01/2018 và tiếp tục tăng 430 đồng/lít vào ngày 19/01/2018. Tính chung trong tháng 01/2018, giá nhóm nhiên liệu được điều chỉnh tăng 2,61%.
- Chỉ số giá nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,21%, nguyên nhân do giá cây cảnh, vật cảnh tăng 3,99% do chuẩn bị cho dịp Tết nguyên đán.
- Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác trong tháng tăng 0,94%, tác động bởi chỉ số giá của đồ dùng cá nhân tăng 0,51% do giá của đồ trang sức tăng 4,63% và chỉ số giá các dịch vụ phục vụ cá nhân như cắt tóc, gội đầu tăng 4,88%.
Bên cạnh các nhóm hàng tăng giá so với tháng trước, chỉ số giá nhóm bưu chính viễn thông trong tháng 01/2018 giảm 0,99% do giá điện thoại di động giảm, các cửa hàng có nhiều chương trình giảm giá, khuyến mãi dịp cuối năm để đẩy mạnh doanh số bán hàng.
* Chỉ số giá vàng 99,99% và Đô la Mỹ:
- Chỉ số giá vàng tháng 01/2018 tăng 1,82% so với tháng trước, tăng 6,63% so với cùng tháng năm 2017. Giá vàng bình quân tháng 01/2018 dao động ở mức 3,632 triệu đồng/chỉ, tăng 65.000 đồng/chỉ so với tháng trước đó.    - Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 01/2018 thay đổi không đáng kể so với tháng trước, cụ thể là giảm 0,02% so với tháng trước, tăng 0,24% so với cùng tháng năm 2017. Tỷ giá USD/VND bình quân tháng 01/2018 dao động ở mức 22.745 đồng/USD, giảm 5 đồng/USD.
9. Bưu chính viễn thông
* Bưu chính, viễn thông Hải Phòng
Tổng doanh thu bưu chính, viễn thông Hải Phòng tháng 01 năm 2018 ước đạt 120 tỷ đồng, tăng 5,74% so với tháng 12 năm 2017 và tăng 12,34% so với cùng tháng năm 2017.
Số thuê bao điện thoại phát triển mới tháng 01 năm 2018 ước đạt 860 thuê bao, tăng 6,3% so với tháng trước, giảm 19,25% so với cùng tháng năm 2017.
Số thuê bao Internet phát triển mới tháng 01 năm 2018 ước đạt 5.850 thuê bao, tăng 5,41% so với tháng trước, giảm 2,86% so với cùng tháng năm 2017.
* Chi nhánh Trung tâm viễn thông quân đội Viettel
Tổng doanh thu của Chi nhánh viễn thông quân đội Viettel tháng 01 năm 2018 ước đạt 110,5 tỷ đồng, tăng 0,45% so với tháng trước, tăng 5,24% so với cùng tháng năm trước.
Số máy thuê bao điện thoại phát triển mới ước đạt 7.017 thuê bao, tăng 0,75% so với tháng trước, tăng 16,56% so với cùng tháng năm 2017.
Số thuê bao Intenet phát triển mới tháng 01/2018 ước đạt 2.310 thuê bao, tăng 5,0% so với tháng 12 năm 2017, tăng 71,11% so với cùng tháng năm trước.
10. Hoạt động tài chính, ngân hàng
10.1. Tài chính

Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn tháng 1 năm 2018 ước đạt 5.217 tỷ đồng, bằng 91,7% so cùng kỳ, đạt 7,3% dự toán HĐND, trong đó: thu nội địa 1.800 tỷ đồng, giảm 5,5% so cùng kỳ, đạt 7,3% dự toán HĐND; thuế Hải Quan 3.200 tỷ đồng, bằng 86,4% so cùng kỳ.
Trong thu nội địa, thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước Trung ương 109 tỷ đồng, đạt 4,4% dự toán Hội đồng nhân dân (HĐND), thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước địa phương 76 tỷ đồng, đạt 6,1% dự toán HĐND; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 252 tỷ đồng, đạt 6,3% dự toán HĐND, thu từ khu vực cá thể nhỏ và ngoài quốc doanh 477 tỷ đồng, đạt 10,9% dự toán HĐND; thu tiền sử dụng đất ước đạt 150 tỷ đồng, đạt 4,2%;...
Tổng chi ngân sách ước tính 761 tỷ đồng, bằng 53,3% so cùng kỳ, bằng 3,2% dự toán HĐND, trong đó: chi thường xuyên ước đạt 695 tỷ đồng, bằng 90,1% so cùng kỳ, bằng 7,6% dự toán HĐND.
10.2. Ngân hàng
Tháng 01/2018, ước thực hiện tổng thu là 51.436 tỷ đồng bằng 121,98% so với cùng kỳ năm 2017; tổng chi tiền mặt là 56.832 tỷ đồng, bằng 114,20% so với cùng kỳ năm 2017.
* Công tác huy động vốn:
Tổng nguồn vốn huy động trên địa bàn ước thực hiện đến 31/01/2018 đạt 165.709 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm 2017 tăng 18,24%.
Theo loại tiền: huy động bằng VND đạt 154.687 tỷ đồng, tỷ trọng chiếm 93,3%; ngoại tệ đạt 11.022 tỷ đồng, tỷ trọng chiếm 6,7%. Tỷ lê tăng trưởng huy động VND – ngoại tệ so với cùng kỳ năm 2017 lần lượt là 19,37% - 4,3%.
Theo hình thức huy động: Huy động tiền gửi tiết kiệm đạt 114.903 tỷ đồng, tăng 16,59% so với cùng kỳ năm 2017, chiếm tỷ trọng 69,3%; tiền gửi thanh toán đạt 46.120 tỷ đồng, tăng 16,75% so với cùng kỳ năm 2017, chiếm tỷ trọng 27,8%; phát hành giấy tờ có giá là 4.686 tỷ đồng.
* Công tác tín dụng:
Tổng dư nợ cho vay các thành phần kinh tế ước thực hiện đến 31/01/2018 đạt 100.507 tỷ đồng, tăng 17,86% so với cùng kỳ năm trước.
Cơ cấu dư nợ theo loại tiền: cho vay bằng VND đạt 92.253 tỷ đồng, tăng 19,71% so với cùng kỳ năm 2017, chiếm tỷ trọng 91,79%. Cho vay ngoại tệ (quy VND) ước đạt 8.254 tỷ đồng, tăng 0,46% so với cùng kỳ năm 2017, chiếm tỷ trọng 8,21%.
Cơ cấu dư nợ phân theo thời hạn vay: Cho vay ngắn hạn đạt 45.184 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 44,96%; cho vay trung, dài hạn đạt 55.323 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 55,04%. Cho vay ngắn hạn - trung, dài hạn có mức tăng lần lượt là 26,49% - 11,63% so với cùng kỳ năm 2017.
11. Xuất nhập khẩu hàng hóa
11.1. Xuất khẩu hàng hoá

Kim ngạch xuất khẩu tháng 01 năm 2018 ước đạt 570,2 triệu USD, tăng 0,92% so với tháng trước, trong đó: khu vực kinh tế trong nước ước đạt 154,7 triệu USD, tăng 0,57%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 415,5 triệu USD, tăng 1,05%.
So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 01 năm 2018 tăng 23,51%, trong đó: khu vực kinh tế trong nước tăng 17,61%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 25,86%.
Một số mặt hàng xuất khẩu trong tháng 01/2018 có kim ngạch ước tăng cao so với cùng kỳ năm trước: sản phẩm Plastic 36,2 triệu USD, tăng 25,76%; hàng dệt may 28,7 triệu USD, tăng 19,22%; giày dép 112,1 triệu USD, tăng 18,36%; hàng điện tử 26,4 triệu USD, tăng 30,81%; dây điện và cáp điện 45 triệu USD, tăng 21,65%; hàng thủ công mỹ nghệ 13,7 triệu USD tăng 27,69%.
11.2. Nhập khẩu hàng hóa
Kim ngạch nhập khẩu tháng 01 năm 2018 ước đạt 575,5 triệu USD, tăng 1,18% so với tháng trước; trong đó: khu vực kinh tế trong nước ước đạt 165 triệu USD, tăng 1,02%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 410,5 triệu USD, tăng 1,25%.
So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng 01 năm 2018 tăng 24,58%, trong đó: khu vực kinh tế trong nước tăng 17,63%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 27,62%.
Một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu trong 01 tháng năm 2018 ước tăng cao hơn so với cùng kỳ: hóa chất 6,4 triệu USD, tăng 27,96%; phụ liệu hàng may mặc 15 triệu USD, tăng 19,27%; phụ liệu giày dép 73,9 triệu USD, tăng 19,03%; ô tô 1 triệu USD, tăng 27,75%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng 85,2 triệu USD, tăng 21,34%, hàng hóa khác 365,5 triệu USD, tăng 26,96%.
II. VĂN HÓA - XÃ HỘI
1. Lao động - thương binh, xã hội

* Công tác lao động, việc làm
Trong tháng 01/2018 có 03 phiên giao dịch việc làm được tổ chức với 95 lượt doanh nghiệp tham gia cùng nhu cầu tuyển dụng là 6.317 lượt lao động; cung lao động tại Sàn đạt 7.324 lượt người, gấp gần 1,16 lần nhu cầu tuyển dụng; đăng kí bảo hiểm thất nghiệp là 730 người (tăng 8% so với cùng tháng năm 2017). Đã giải quyết bảo hiểm thất nghiệp 875 người (tăng 24.6% so với cùng tháng năm 2017), với kinh phí hơn 10 tỷ đồng (tăng 30% so với cùng tháng năm 2017). Qua giải quyết chế độ thất nghiệp đã tư vấn, giới thiệu việc làm cho 730 lao động (tăng 8% so với cùng tháng năm 2017). Uớc cấp mới 70 giấy phép lao động, cấp lại 80 giấy phép lao động cho người lao động làm việc tại thành phố (giảm 10% so với năm 2017).
Tháng 01 năm 2018, trên địa bàn toàn thành phố không xảy ra đình công. Xảy ra 02 vụ tai nạn lao động làm chết 02 người.
* Công tác Người có công
Trong tháng 01/2018, giải quyết chế độ chính sách đối với 223 trường hợp, trong đó: chế độ mai táng phí đối với 138 người; trợ cấp hàng tháng 7 người; chế độ thờ cúng liệt sĩ 60; xác nhận miễn giảm tiền sử dụng đất theo Quyết định 118/QĐ-TTg 09 trường hợp; cấp mới sổ theo dõi cấp phương tiện trợ giúp và dụng cụ chỉnh hình đối với người có công với cách mạng 05 người; quyết định về việc thực hiện chế độ ưu đãi trong giáo dục và đào tạo đối với người có công và con đẻ của họ 03 người; Quyết định trợ cấp 1 lần đối với người hoạt động kháng chiến được tặng thưởng Huân huy chương kháng chiến 01 người.
Công nhận, đề nghị công nhận 20 người có công; xây dựng, triển khai thực hiện Kế hoạch thăm, tặng quà cho người có công nhân dịp Tết Nguyên đán Mậu Tuất 2018.
* Giảm nghèo - Bảo trợ xã hội
Tháng 01/2018, tiếp nhận 03 đối tượng vào các Trung tâm bảo trợ xã hội, tập trung được 99 lượt người lang thang; tính đến ngày 16/01/2018, số lượng các đối tượng tại các cơ sở bảo trợ xã hội tổng số là 684 người bằng 99,56% so với năm 2017 (687 người); triển khai kế hoạch thăm tặng quà Tết Mậu Tuất 2018 cho người nghèo, đối tượng bảo trợ xã hội nuôi dưỡng tập trung và tặng quà chúc thọ Người cao tuổi năm 2018.
* Phòng, chống tệ nạn xã hội
Tháng 01/2018 tổ chức quản lý, cai nghiện ma túy tập trung tại cơ sở cai nghiện ma túy cho 1.405 lượt người bằng 110,36% so với cùng kỳ năm trước. Cai nghiện tại gia đình và cộng đồng cho 17 người bằng 28,333% so với cùng kỳ năm trước. Điều trị Methadone toàn thành phố cho 3.909 người; trong đó ngành Lao động - Thương binh và Xã hội đang quản lý 04 cơ sở điều trị cho 943 người, bằng 99,68% so với cùng kỳ năm trước. Thực hiện xét nghiệm tìm chất ma túy 09 đợt cho 61 đối tượng bị bắt giữ, kiểm tra 29 buổi tại 135 nhà nghỉ, khách sạn, quán Karaoke...
2. Công tác Giáo dục, đào tạo
Các trường học hoàn thành kế hoạch học kỳ I, triển khai thực hiện nhiệm vụ học kỳ II năm học 2017 - 2018. Sở Giáo dục và Đào tạo tổ chức hội nghị sơ kết học kỳ I, triển khai nhiệm vụ học kỳ II tới các ngành học, bậc học.
Tổ chức triển khai kỳ khảo sát chất lượng học sinh lớp 9 đối với bài tổ hợp môn. Xây dựng ngân hàng câu hỏi thi chọn học sinh giỏi lớp 9. Tổ chức kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia năm 2017. Thi giải Toán bằng tiếng Anh cấp thành phố (dành cho học sinh cấp THCS, THPT).
Tổ chức thi giáo viên dạy giỏi cấp thành phố môn Âm nhạc, Mĩ thuật, Thể dục. Tiếp tục triển khai Hội thi “Cô giáo tài năng, duyên dáng” các cụm và khu vực.
3. Công tác y tế và An toàn vệ sinh thực phẩm
* Công tác y tế dự phòng
Nhằm chuẩn bị công tác đón xuân Mậu Tuất 2018, ngành Y tế tiến hành tăng cường giám sát, phòng chống dịch bệnh, đặc biệt các dịch bệnh thường xuất hiện trước trong và sau tết Nguyên đán Mậu Tuất 2018 và mùa đông xuân như cúm A, các bệnh lây qua đường hô hấp, tiêu hóa…Trong tháng không xuất hiện các dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, số trường hợp mắc sốt xuất huyết là 22, tay chân miệng là 177. Các trường hợp mắc bệnh được phát hiện và điều trị kịp thời tại các tuyến, không để xảy ra tử vong.
* Công tác y tế khám chữa bệnh
Sở Y tế chỉ đạo các đơn vị tăng cường quản lý chất lượng khám, chữa bệnh; nâng cao hiệu quả chẩn đoán, điều trị, phẫu thuật; giám sát tai biến chuyên môn, thực hiện nghiêm túc các quy chế chuyên môn, hồ sơ bệnh án; thường xuyên cập nhật và nâng cao kiến thức vê hồi sức cấp cứu. Yêu cầu các đơn vị khám chữa bệnh thực hiện tốt công tác khám chữa bệnh, cấp cứu người bệnh trong dịp Tết Nguyên đán Mậu Tuất 2018.
* Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm
Thành lập 03 đoàn kiểm tra liên ngành nhân dịp Tết Nguyên đán Mậu Tuất. Các đoàn sẽ kiểm tra đột xuất các cơ sở sản xuất kinh doanh, chế biến thực phẩm như bánh kẹo, mứt, rượu bia, hải sản, gia súc… về thực hiện các quy định của pháp luật về an toàn thực phẩm. Tiếp tục triển khai Đề án đảm bảo an toàn thức ăn đường phố.
4. Tình hình trật tự an toàn giao thông, công tác phòng chống cháy, nổ
Từ ngày 16/12/2017 đến ngày 15/01/2018 trên địa bàn thành phố đã xảy ra 06 vụ tai nạn giao thông đường bộ, bằng cùng kỳ năm trước, không có vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng xảy ra. Các vụ tai nạn giao thông làm 07 người chết, giảm 01 người (tỷ lệ giảm 12,5%), không có người bị thương.
Xảy ra 08 vụ cháy, các vụ cháy không gây thiệt hại về người, thiệt về tài sản ước tính là 355 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước, số vụ cháy và số người chết không tăng không giảm, số người bị thương giảm 01 người (giảm 100%), giá trị thiệt hại giảm 1.214 triệu đồng (giảm 77,4%).
5. Công tác Văn hóa - Thể thao
* Công tác văn hóa
Tháng 01/2018 đã tổ chức tốt các hoạt động kỷ niệm các ngày lễ lớn, các hoạt động đón Tết Dương lịch, Tết Nguyên Đán Mậu Tuất 2018 và kỷ niệm 88 năm ngày Thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, đặc biệt các chương trình biểu diễn nghệ thuật phục vụ Lễ kỷ niệm 88 năm ngày Thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam; đêm Giao thừa - Đón Xuân Mậu Tuất 2018; các chương trình mừng xuân tại Nhà Kèn, sân trước Nhà triển lãm và Đình Hàng Kênh. Chuẩn bị đón tết Nguyên đán Mậu Tuất chú trọng công tác quản lý và tổ chức lễ hội; công tác thanh tra, kiểm tra, công tác phòng chống cháy nổ và đảm bảo an ninh trật tự tại các điểm di tích, các dịch vụ văn hoá, thể thao.
* Công tác thể thao
Chuẩn bị triển khai tổ chức các hoạt động thể dục thể thao quần chúng, trò chơi dân gian tại khu vực trung tâm thành phố, các quận, huyện phục vụ nhân dân đón Tết Nguyên Đán Mậu Tuất 2018 và kỷ niệm 88 năm ngày Thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
Tiếp tục triển khai tổ chức các giải thể thao thi đấu chào mừng Đại hội Thể thao thành phố Hải Phòng lần thứ VIII năm 2018. Ký kết chương trình phối hợp giữa Sở Văn hóa và Thể thao - Hội người Cao tuổi thành phố về tổ chức các hoạt động Văn hóa, thể thao cho Người Cao tuổi thành phố Hải Phòng giai đoạn 2018-2023./.


 Báo cáo số liệu tình hình kinh tế - xã hội tháng 1 năm 2018 thành phố Hải Phòng - Xem và tải về
 

Tác giả bài viết: Cục Thống kê Hải Phòng

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Xếp hạng: 0 - 0 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây