Tuyên truyền năm 2020

Tổng quan tình hình kinh tế thế giới quý II và 6 tháng năm 2020

Thứ tư - 24/06/2020 14:41
Đại dịch COVID-19 bùng phát và lan rộng khắp toàn cầu đã khiến bức tranh kinh tế thế giới năm 2020 bị bao phủ bởi nhiều gam màu tối. Theo các tổ chức quốc tế và định chế tài chính, tăng trưởng kinh tế toàn cầu sẽ rơi vào suy thoái trong năm 2020.

Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) dự báo tăng trưởng toàn cầu giảm 3% trong năm 2020, xấu hơn nhiều so với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008-2009. Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đưa ra hai kịch bản, theo đó trong kịch bản xấu nếu dịch COVID-19 bùng phát lần 2, GDP toàn cầu giảm 7,6% trong năm 2020. Với kịch bản có thể tránh được COVID-19 bùng phát lần 2, GDP thế giới sẽ tăng trưởng -6,0% trong năm 2020. Liên hợp quốc (UN) cho rằng GDP toàn cầu sẽ giảm 4,9% trong năm 2020. Ngân hàng Thế giới (WB) nhận định tăng trưởng toàn cầu năm 2020 giảm 5,2%, suy thoái lớn nhất trong gần 80 năm qua. Trung Quốc, quốc gia được coi là công xưởng của thế giới, gần rơi vào suy thoái với tăng trưởng đạt 1%, mức thấp nhất trong hơn bốn thập kỷ qua. Năm 2020, dự báo tăng trưởng của Hoa Kỳ giảm 6,1%, khu vực đồng Euro giảm 9,1%, Nhật Bản giảm 6,1%, Ma-lai-xi-a giảm 3,1%, Thái Lan giảm 5,0%, Phi-li-pin giảm 1,9%. Biến động tiêu cực trên thị trường thương mại và tài chính, tăng trưởng tại nhiều nền kinh tế phát triển và mới nổi giảm mạnh với không ít rủi ro đặt ra nhiều thách thức cho các chính phủ trên toàn cầu.

I. XU HƯỚNG KINH TẾ VĨ MÔ TOÀN CẦU

1. Kinh tế toàn cầu rơi vào suy thoái

Ngân hàng Thế giới (WB)1 nhận định với tốc độ lây lan nhanh chóng, đại dịch COVID-19 đã gây ra một cú sốc kinh tế toàn cầu lớn chưa từng thấy, dẫn đến suy thoái kinh tế ở nhiều quốc gia. Theo kịch bản dự báo cơ sở, mặc dù nhiều quốc gia đã tung ra các gói hỗ trợ chính sách chưa từng có, tăng trưởng toàn cầu năm 2020 giảm 5,2%, suy thoái lớn nhất trong gần 80 năm qua.

Nhìn chung, đại dịch khiến phần lớn các quốc gia rơi vào suy thoái trong năm 2020, khi GDP quân đầu người tại các quốc gia tăng trưởng âm kể từ năm 1870. Các nền kinh tế phát triển được dự đoán sẽ tăng trưởng -7% trong năm 2020 do tăng cường áp dụng các biện pháp giãn cách xã hội, thắt chặt các điều kiện tài chính và nhu cầu ngoài nước giảm mạnh. Với giả định dịch bệnh vẫn trong tầm kiểm soát và hoạt động kinh tế sẽ hồi phục vào cuối năm nay, tăng trưởng của Trung Quốc năm 2020 chỉ đạt 1%, mức thấp nhất trong hơn bốn thập kỷ qua.

Tác động lan tỏa từ tăng trưởng yếu kém của các nền kinh tế lớn, cùng với gián đoạn các hoạt động kinh tế do bùng phát COVID-19, WB dự báo tăng trưởng của các nền kinh tế đang phát triển và mới nổi đạt mức -2,5% trong năm 2020. Số liệu này kém xa mức tăng trưởng thấp nhất 0,9% trong 1982, kể từ khi Ngân hàng Thế giới ghi nhận dữ liệu kinh tế tổng hợp từ năm 1960. Các nguyên nhân dẫn tới suy giảm tăng trưởng của các nền kinh tế đang phát triển và mới nổi gồm: dịch COVID-19 bùng phát trong khi năng lực chăm sóc y tế có hạn; hội nhập sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu; phụ thuộc lớn vào nguồn tài chính từ nước ngoài, thương mại quốc tế, xuất khẩu hàng hóa và du lịch. Dự kiến gần 90% các quốc gia đang phát triển và mới nổi có tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người giảm mạnh, khiến hàng triệu người có thể rơi vào nghèo đói.

Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF)2 dự báo tăng trưởng toàn cầu đạt mức -3% trong năm 2020, kết quả xấu hơn nhiều so với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008-2009. Số liệu trên cho thấy sự điều chỉnh giảm hơn 6 điểm phần trăm so với dự báo của tổ chức này trong cả 2 báo cáo tháng 10 năm 2019 và tháng 01 năm 2020.

IMF dự báo tăng trưởng của nhóm nền kinh tế phát triển là -6,1% do bùng phát dịch COVID-19 và áp dụng các biện pháp kiểm soát lây nhiễm trong cộng đồng. Theo đó, hầu hết các nền kinh tế phát triển dự báo tăng trưởng âm trong năm 2020 như Hoa Kỳ (-5,9%), Nhật Bản (-5,2%), Vương quốc Anh (-6,5%), Đức (-7,0%), Pháp (-7,2%), Ý (-9,1%) và Tây Ban Nha (-8,0%).

Khủng hoảng y tế, cú sốc sụt giảm nhu cầu ngoài nước, thắt chặt tài chính toàn cầu và giá hàng hóa giảm đã tác động nghiêm trọng tới tăng trưởng của các nền kinh tế đang phát triển và mới nổi, đặc biệt là các nước xuất khẩu hàng hóa. IMF dự báo tăng trưởng của các quốc gia này sẽ chỉ đạt -1% trong năm 2020, giảm 5,4 điểm phần trăm so với dự báo trong tháng 1 năm 2020.

Tuy nhiên, theo IMF, các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển tại châu Á là khu vực duy nhất có tốc độ tăng trưởng dương trong năm 2020 (1,0%), mặc dù thấp hơn 5 điểm phần trăm so với mức trung bình của thập kỷ trước. Tại Trung Quốc, các chỉ số sản xuất công nghiệp, doanh số bán lẻ và đầu tư tài sản cố định cho thấy suy giảm kinh tế trong quý I năm 2020, chỉ đạt -8% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, với hỗ trợ tài chính khá lớn từ chính phủ và phục hồi mạnh mẽ vào cuối năm, nền kinh tế Trung Quốc được dự báo vẫn sẽ tăng trưởng ở mức 1,2% trong năm 2020.

Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD)3 cho biết nền kinh tế toàn cầu hiện đang trải qua thời kỳ suy thoái tồi tệ nhất kể từ cuộc Đại suy thoái vào những năm 1930, với GDP giảm hơn 20% ở nhiều quốc gia trong thời gian ngừng hoạt động và thất nghiệp gia tăng. Với việc nới lỏng tình trạng khẩn cấp và giảm dần các biện pháp hạn chế đi lại đã giúp khởi động lại các hoạt động kinh tế tại nhiều quốc gia. Tuy nhiên, sự phục hồi này vẫn không chắc chắn khi vẫn còn nguy cơ tiềm ẩn sự bùng phát COVID-19 trở lại nếu không có các biện pháp ngăn chặn lây nhiễm và truy vết có hiệu quả. Trong bối cảnh đó, OECD đưa ra 2 kịch bản tăng trưởng với xác suất xảy ra tương đương nhau. Trong kịch bản COVID-19 bùng phát lần 2, GDP toàn cầu được dự đoán chỉ đạt -7,6% trong năm 2020 và tăng lên mức 2,8% trong năm 2021. Với kịch bản có thể tránh được COVID-19 bùng phát lần 2, GDP thế giới sẽ tăng trưởng -6,0% trong năm 2020 trước khi tăng lên mức 5,2% trong năm 2021.

Liên hợp quốc (UN)4 cho rằng đại dịch COVID-19 đã gần như làm tê liệt phần lớn nền kinh tế toàn cầu, hạn chế các hoạt động kinh tế, gia tăng bất ổn và gây ra một cuộc suy thoái chưa từng thấy kể từ Đại suy thoái. Trong kịch bản cơ sở, GDP toàn cầu được dự báo sẽ giảm 3,2% trong năm 2020, và dự kiến sẽ phục hồi dần đến mức 4,2% trong năm 2021. Tuy nhiên, rõ ràng kịch bản này không thể xảy ra do giả định rằng các biện pháp phong tỏa sẽ làm chậm đáng kể sự lây lan của bệnh trước khi kết thúc trong quý II. Trong kịch bản xấu hơn, UN cho rằng các nền kinh tế lớn sẽ phải đối mặt với làn sóng đại dịch thứ hai vào cuối năm nay, dẫn đến gia hạn phong tỏa và thực thi các hạn chế đối với hoạt động kinh tế cho đến đầu năm 2021. Theo đó, GDP toàn cầu sẽ giảm 4,9% vào năm 2020 và tăng trưởng khiêm tốn 0,5% vào năm 2021.

Biểu 1. Dự báo tăng trưởng toàn cầu của các tổ chức quốc tế

                                                                                                                                                                      Đơn vị tính: %

STT

Tổ chức

2019

2020

2021

1

Ngân hàng Thế giới

2,4

-5,2

4,2

2

Quỹ Tiền tệ Quốc tế

2,9

-3,0

5,8

3

Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế5

2,7

(-6,0; -7,6)

(5,2; 2,8)

4

Liên hợp quốc

2,6

-4,9

4,2

Nguồn: WB, IMF, OECD, UN

2. Tổng quan biến động thị trường thế giới

Thương mại toàn cầu tiếp tục giảm

Theo Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)6, khối lượng thương mại hàng hóa thế giới giảm mạnh trong nửa đầu năm 2020 khi đại dịch COVID-19 làm gián đoạn hoạt động kinh tế toàn cầu. Chỉ số thương mại chỉ đạt 87,6, thấp hơn nhiều so với giá trị cơ bản là 100, cho thấy thương mại thế giới suy giảm mạnh trong quý II. Đây là giá trị thấp nhất kể từ tổ chức này đưa ra chỉ số thương mại vào tháng 7 năm 2016. Tất cả các chỉ số thành phần đều nằm dưới xu hướng: Chỉ số sản phẩm ô tô chỉ đạt 79,7 do sản xuất và bán ô tô tại các nền kinh tế lớn giảm mạnh. Chỉ số đơn hàng xuất khẩu (83,3) giảm mạnh cho thấy thương mại sẽ tiếp tục yếu trong ngắn hạn. Sụt giảm trong các chỉ số vận chuyển công-te-nơ (88,5) và vận tải hàng không (88,0) phản ánh nhu cầu hàng hóa yếu cũng như nguồn cung hạn chế. Các chỉ số về linh kiện điện tử (94,0) và nguyên liệu nông nghiệp (95,7) có dấu hiệu ổn định, nhưng vẫn nằm dưới xu hướng.

Bên cạnh đó, tăng trưởng thương mại dịch vụ thế giới quý I năm 2020 tiếp tục giảm khi chỉ số thương mại dịch vụ chỉ đạt 96,8. Chỉ số này chưa nắm bắt được đầy đủ tác động kinh tế của dịch COVID-19 và có khả năng sẽ giảm hơn nữa trong những tháng tới.

Theo UN và WB, các số liệu cập nhật cho thấy thương mại toàn cầu năm 2020 giảm nhiều hơn so với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009, một phần do COVID-19 gây ra gián đoạn trong du lịch quốc tế và chuỗi giá trị toàn cầu. Chính sách phong tỏa đã hạn chế đáng kể sản lượng sản xuất tại các trung tâm thương mại lớn của thế giới, bao gồm cả ở Trung Quốc, Đức và Hoa Kỳ (chiếm khoảng 34% xuất khẩu toàn cầu). Sự gián đoạn này đã làm suy yếu nhu cầu đối với các đầu vào trung gian, kim loại cơ bản và khoáng sản, dẫn đến sụt giảm mạnh về giá.

Các biện pháp phong tỏa, đóng cửa biên giới và nhu cầu yếu đã làm cho số lượng hành khách di chuyển bằng đường hàng không suy giảm nghiêm trọng, đồng thời dịch vụ du lịch trên toàn thế giới sụp đổ. Ngành du lịch, tạo ra khoảng 330 triệu việc làm trên toàn thế giới, là ngành kinh tế bị ảnh hưởng nặng nề nhất. Lượng khách du lịch quốc tế dự kiến sẽ giảm từ 20% đến 30% trong năm 2020. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ, chiếm 80% của ngành du lịch toàn cầu, sẽ phải đối mặt với nguy cơ khủng hoảng. Tuy nhiên, nhiều khả năng ngành du lịch sẽ phục hồi mạnh mẽ trở lại khi thế giới đạt được đột phá trong nghiên cứu vắc-xin và điều trị COVID-19.

 Giá cả và lạm phát

Theo WB, giá hầu hết các hàng hóa giảm trong nửa đầu năm do nhu cầu toàn cầu giảm mạnh. Giá dầu thô Brent đã giảm gần 70% từ cuối tháng 1 đến giữa tháng 4, trước khi có dấu hiệu tăng trong những tuần gần đây. Mức giảm giá dầu kể từ tháng 1 năm 2020 lớn hơn rất nhiều so với suy giảm do cuộc tấn công khủng bố ngày 11 tháng 9 năm 2001 hoặc do các cuộc suy thoái toàn cầu trước đó. Các biện pháp kiểm soát để làm chậm sự lây lan của COVID-19 đã dẫn đến sụt giảm mạnh về đi lại và vận chuyển, chiếm 2/3 lượng tiêu thụ dầu. Nhu cầu dầu dự kiến sẽ giảm 8,6% trong năm 2020, sự sụt giảm chưa từng có, vượt qua mức giảm kỷ lục trước đó là 4% vào năm 1980.

Sản xuất dầu toàn cầu cũng bắt đầu giảm, mặc dù với tốc độ chậm hơn nhu cầu. Trong tháng 4, OPEC và các đối tác đã đồng ý cắt giảm sản lượng mới, bắt đầu với mức giảm 9,7 triệu thùng/ngày trong tháng 5 và 6, và tiếp tục giảm dần sau đó. Sản xuất ở các nước không thuộc OPEC + cũng bắt đầu giảm. Cơ quan Thông tin Năng lượng Hoa Kỳ dự kiến sản lượng dầu của Hoa Kỳ sẽ giảm xuống còn 11 triệu thùng/ngày trong quý IV năm 2020. Nhìn chung, giá dầu dự kiến sẽ đạt trung bình 32 USD/thùng trong năm 2020 và tăng lên 38 USD/thùng trong năm 2021.

Nhu cầu về kim loại cũng giảm. Giá  kim loại được dự đoán sẽ giảm 16% trong năm 2020 trước khi tăng nhẹ vào năm 2021. Dự báo này được đưa ra dựa trên sự phục hồi nhu cầu ở Trung Quốc, chiếm khoảng 50% lượng tiêu thụ kim loại cơ bản của toàn thế giới.

Giá nông sản giảm trong đầu năm 2020 và dự kiến sẽ tiếp tục giảm nhẹ trong cả năm 2020 vì các mặt hàng nông nghiệp ít nhạy cảm với hoạt động kinh tế hơn so với hàng hóa công nghiệp. Mặc dù sản xuất và dự trữ đối với hầu hết các loại thực phẩm chủ yếu vẫn ở mức tương đối cao, đã có những lo ngại ngày càng tăng về an ninh lương thực. Các mặt hàng thực phẩm cũng chịu những áp lực nhất định do gián đoạn chuỗi cung ứng và hạn chế di chuyển. Hơn nữa, trong các nền kinh tế đang phát triển và mới nổi, tổn thất thu nhập từ gián đoạn hoạt động kinh tế có thể làm tăng tình trạng mất an ninh lương thực do tỷ lệ nghèo vẫn ở mức cao.

Theo WB và OECD, lạm phát trên thế giới tiếp tục ở mức thấp. Lạm phát tại hầu hết các nền kinh tế phát triển luôn ở dưới mức mục tiêu kể từ đầu năm 2020. Nhu cầu yếu và giá dầu giảm đã làm gia tăng sức ép giảm phát, dẫn đến kỳ vọng lạm phát giảm. Tại các quốc gia đang phát triển và mới nổi, giá dầu thấp cùng với nhu cầu ngoài nước yếu đã làm giảm mức lạm phát và giúp các ngân hàng trung ương tập trung vào hỗ trợ tăng cường các hoạt động kinh tế.

Thị trường tài chính

Thị trường tài chính toàn cầu hướng tới vùng an toàn khi hậu quả kinh tế của các biện pháp ngăn chặn COVID-19 trở nên rõ ràng. Định giá cổ phiếu toàn cầu đã giảm mạnh chưa từng thấy vào đầu năm 2020, biến động thị trường tăng cao nhất kể từ năm 2008. Các quốc gia đang phát triển và mới nổi chứng kiến dòng vốn chảy ra kỷ lục, có sự khác biệt lớn giữa lãi suất trái phiếu chính phủ, đặc biệt đối với các quốc gia có nợ chính phủ cao.

Để kiềm chế căng thẳng tài chính, các ngân hàng trung ương đã bơm thanh khoản vào thị trường tài chính thông qua kết hợp cung cấp tín dụng trực tiếp cho các công ty đầu tư lớn, mở rộng phạm vi tài sản mà họ chấp nhận làm tài sản thế chấp và mua tài sản quy mô lớn bao gồm cả nợ công. Để giảm bớt nhu cầu tăng mạnh đối với đồng đô la Mỹ cho mục đích phòng ngừa rủi ro tiền tệ, Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ đã thực hiện các thỏa thuận hoán đổi thanh khoản bằng đô la Mỹ đối với một nhóm các quốc gia, gồm Brazil, Mê-xi-cô và Hàn Quốc. Những biện pháp này phần nào đã ngăn chặn thành công một cuộc khủng hoảng thanh khoản nghiêm trọng xuất hiện vào đầu năm. Dòng vốn từ các quốc gia đang phát triển và mới nổi đã được ổn định, trong khi định giá thị trường cổ phiếu đã bớt lỗ so với đầu năm.

Tuy nhiên, điều kiện tài chính vẫn còn mong manh. Các hoạt động kinh tế bị gián đoạn đã làm ngắt quãng dòng tiền mặt và hoạt động vay nợ trên toàn thế giới. Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào nhiều quốc gia dự kiến sẽ giảm đáng kể. Kiều hối là nguồn thu ngoại hối lớn nhất cho các quốc gia đang phát triển và mới nổi trong năm 2019 được dự báo sẽ giảm mạnh vì hạn chế đi lại và thất nghiệp trong ngành dịch vụ.

Tỷ giá hối đoái và tỷ lệ lãi suất

Theo UN, thị trường tài chính ở các nước phát triển đã trải qua biến động cực đoan, vì bất ổn vẫn tồn tại và những nỗ lực ban đầu để ngăn chặn đại dịch không như kỳ vọng của thị trường. Các ngân hàng trung ương ở các nước phát triển đã cắt giảm lãi suất và mua tài sản để bơm thanh khoản, duy trì dòng tín dụng và ổn định giá cổ phiếu và trái phiếu. Lo ngại rủi ro gia tăng, các nhà đầu tư tăng cường rút vốn khỏi các nền kinh tế đang phát triển, dẫn đến giảm giá tiền tệ và thắt chặt điều kiện tín dụng.

Chính phủ các nước đang phát triển đang vẫn phải tiếp tục dành một phần thu nhập để thanh toán lãi suất. Ở nhiều quốc gia châu Phi, gánh nặng lãi suất đang tăng cao sau đợt xóa nợ quy mô lớn vào đầu những năm 2000.

Theo IMF, diễn biến tiền tệ nói chung đã phản ánh những thay đổi trong tâm lý rủi ro. Tiền tệ của các quốc gia xuất khẩu hàng hóa đã giảm mạnh kể từ đầu năm đến nay, tiền tệ của một số nền kinh tế phát triển tăng giá trong tháng 4 năm 2020: đồng đô la Mỹ tăng 8,5%, đồng Yên tăng khoảng 5% và đồng Euro tăng khoảng 3%.

Rủi ro và các yếu tố phi kinh tế khác

Nền kinh tế toàn cầu đang trải qua một trong những cuộc suy thoái kỷ lục với cú sốc chưa từng có, dẫn đến sự không chắc chắn trong dự báo của các tổ chức quốc tế. Rủi ro sụt giá có thể làm sâu sắc thêm suy thoái hoặc trì hoãn sự phục hồi. Trong ngắn hạn, kinh tế sẽ giảm sâu hơn nếu đại dịch kéo dài đòi hỏi phải mở rộng các biện pháp kiểm soát. Hỗ trợ chính sách có thể không làm giảm bớt khó khăn kinh tế với các hộ gia đình và doanh nghiệp. Gián đoạn kinh tế kéo dài có thể làm trầm trọng thêm căng thẳng tài chính, điều này có thể dẫn đến khủng hoảng tài chính trên diện rộng. Giá hàng hóa thấp hơn kỳ vọng có thể dẫn đến khủng hoảng tài chính tại các quốc gia sản xuất hàng hóa.

II. TĂNG TRƯỞNG CỦA MỘT SỐ NỀN KINH TẾ

1. Hoa Kỳ

 Bùng phát dịch COVID-19 trong nước và các biện pháp phòng chống đại dịch quy mô lớn đã làm gián đoạn hoạt động kinh tế. Chỉ số kinh tế ngắn hạn cho thấy sự suy giảm chưa từng thấy đặc biệt là các ngành dịch vụ và du lịch. So với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009, tỷ lệ thất nghiệp theo tuần tăng nhanh hơn nhiều, trong khi sản xuất công nghiệp và bán lẻ giảm mạnh hơn. Giá dầu giảm đã làm giảm đầu tư vào dầu đá phiến, lĩnh vực sử dụng nhiều đòn bẩy tài chính. Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ đã cắt giảm lãi suất xuống gần bằng không, và công bố các biện pháp ổn định hệ thống tài chính như mua không giới hạn nợ chính phủ Hoa Kỳ và các khoản vay có thế chấp, mua trái phiếu doanh nghiệp quy mô lớn và chứng khoán do các tiểu bang phát hành. Chính phủ Hoa Kỳ cũng đã cung cấp gói hỗ trợ tài chính khoảng 3 nghìn tỷ USD, bao gồm hơn 1 nghìn tỷ USD cho các công ty và cho chính quyền tiểu bang và địa phương.

Theo WB, GDP của Hoa Kỳ dự kiến giảm 6,1% trong năm 2020, điều chỉnh giảm 7,9 điểm phần trăm so với dự báo trước đây, phản ánh hậu quả nghiêm trọng của đại dịch trong nửa đầu năm và sự phục hồi dần trong nửa cuối năm. Dự báo kinh tế Hoa Kỳ sẽ tăng 4% vào năm 2021 nhờ tác dụng của các chính sách hỗ trợ quy mô lớn và niềm tin của người tiêu dùng và nhà đầu tư được phục hồi.

Ngoài ra, một số tổ chức như IMF, OECD và UN cũng dự báo tăng trưởng kinh tế của Hoa Kỳ theo biểu sau:

Biểu 2. Dự báo tăng trưởng của Hoa Kỳ

                                                                                                                                                                       Đơn vị tính: %

STT

Tổ chức

2019

2020

2021

1

Ngân hàng Thế giới

2,3

-6,1

4,0

2

Quỹ Tiền tệ Quốc tế

2,3

-5,9

4,7

3

Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế7

2,3

(-8,5; -7,3)

(1,9; 4,1)

4

Liên hợp quốc

2,3

-4,8

3,9

5

Ngân hàng Phát triển châu Á

2,3

-5,3

3,8

Nguồn: WB, IMF, OECD, UN và ADB

2. Khu vực đồng Euro

Dịch COVID-19 bùng phát và lan rộng khắp khu vực đồng Euro đã khiến chính phủ các nước thuộc khu vực đồng Euro áp dụng các biện pháp giảm thiểu lây nhiễm khác nhau như phong tỏa toàn quốc, đóng cửa trường học và hạn chế xuất nhập cảnh. Những biện pháp này đã gây nên gián đoạn đáng kể hoạt động kinh tế trong khu vực. Khác với với Hoa Kỳ, thất nghiệp trong khu vực đồng Euro tương đối thấp, do áp dụng rộng rãi chính sách làm việc ngắn hạn.

Ngân hàng Trung ương châu Âu đã cung cấp các khoản vay lãi suất thấp cho các ngân hàng, thúc đẩy mua tài sản và dỡ bỏ các hạn chế phân phối đối với chương trình mua trái phiếu. Chính phủ các quốc gia thành viên đã triển khai các gói hỗ trợ tài chính quan trọng. Ví dụ, Đức đã cung cấp gói kích thích trị giá 4,5% GDP, gấp đôi mức hỗ trợ trong cuộc khủng hoảng tài chính 2008-2009, ngoài ra Đức còn cung cấp 20% GDP để bảo lãnh cho vay đối với khu vực doanh nghiệp. Mặc dù bị hạn chế bởi mức nợ cao, Ý đã công bố gói kích thích tài khóa vượt trên 4% GDP. Các quốc gia thành viên lớn cũng đang thúc đẩy một kế hoạch phục hồi lớn cho Liên minh châu Âu, bao gồm các khoản tài trợ cho các nền kinh tế chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của cuộc khủng hoảng.

Theo WB, tăng trưởng khu vực đồng Euro dự kiến là -9,1% trong năm 2020, giảm 10,1 điểm phần trăm so với dự báo trước đây do các quốc gia thành viên lớn đều trải qua suy thoái trước khi phục hồi dần vào cuối năm. Tăng trưởng được dự báo sẽ đạt mức 4,5% trong năm 2021, phản ánh tác động của COVID-19 sẽ dần lắng xuống cũng như ảnh hưởng tích cực từ các chính sách tài khóa và tiền tệ hỗ trợ tăng trưởng trong khu vực. Bảng dưới đây thể hiện dự báo tăng trưởng của khu vực đồng Euro của một số tổ chức quốc tế.

Biểu 3. Dự báo tăng trưởng của Khu vực đồng Euro

                                                                                                                                                                       Đơn vị tính: %

STT

Tổ chức

2019

2020

2021

1

Ngân hàng Thế giới

1,2

-9,1

4,5

2

Quỹ Tiền tệ Quốc tế

1,2

-7,5

4,7

3

Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế8

1,3

(-11,5; -9,1)

(3,5; 6,5)

4

Liên hợp quốc

1,5

-5,8

2,9

5

Ngân hàng Phát triển châu Á

1,2

-7,0

5,5

Nguồn: WB, IMF, OECD, UN và ADB

3. Nhật Bản

Tại Nhật Bản, các biện pháp phòng ngừa đã làm chậm sự lây lan của dịch COVID-19 nhưng cũng gây suy giảm hoạt động kinh tế, gia tăng thêm bất lợi đối với thương mại và tài chính. Việc hoãn Thế vận hội mùa hè Tokyo 2020 càng gia tăng tác động bất lợi đối với phát triển kinh tế. Để hỗ trợ tăng trưởng, Ngân hàng Nhật Bản đã tăng cường mua chứng khoán và trái phiếu doanh nghiệp, mở rộng quy mô của bảng cân đối kế toán lên hơn 10% GDP kể từ tháng 1 năm 2020. Chính phủ cũng đã công bố các gói hỗ trợ tài chính có giá trị tích lũy khoảng 40% GDP bổ sung cho hoạt động tái cấp vốn từ tháng 12 năm 2019.

Theo WB, tăng trưởng của Nhật Bản là -6,1% trong 2020, giảm 6,8 điểm phần trăm so với dự báo trước đây do kết quả yếu hơn kỳ vọng và tác động nghiêm trọng của COVID-19 với nền kinh tế. Tăng trưởng dự kiến sẽ phục hồi ở mức 2,5% trong 2021 nhờ tác động của các gói hỗ trợ tài chính và tiền tệ. Dưới đây là dự báo của các tổ chức quốc tế về tăng trưởng của Nhật Bản.

Biểu 4. Dự báo tăng trưởng của Nhật Bản

                                                                                                                                                                        Đơn vị tính: %

STT

Tổ chức

2019

2020

2021

1

Ngân hàng Thế giới

0,7

-6,1

2,5

2

Quỹ Tiền tệ Quốc tế

0,7

-5,2

3,0

3

Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế9

0,7

(-7,3; -6,0)

(-0,5; 2,1)

4

Liên hợp quốc

0,7

-4,2

3,2

5

Ngân hàng Phát triển châu Á

0,7

-5,0

2,0

Nguồn: WB, IMF, OECD, UN và ADB

4. Trung Quốc

GDP Trung Quốc giảm mạnh trong quý I khi tiêu dùng tư nhân và các dịch vụ phi tài chính bị ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch và các biện pháp hạn chế lây lan COVID-19. Xuất khẩu giảm mạnh hơn nhập khẩu dẫn đến việc đóng cửa tạm thời các nhà máy. Hoạt động kinh tế đã dần bình thường trong quý II sau khi nới lỏng phong tỏa. Tuy nhiên, các công ty tiếp tục phải đối mặt với tình trạng thiếu kinh phí và nhu cầu ngoài nước yếu. Chính quyền đã thực hiện các chính sách tiền tệ và tài khóa để bù đắp tác động tiêu cực của COVID-19, gồm: bơm thanh khoản, giảm thuế, chi tiêu y tế khẩn cấp và phúc lợi trị giá khoảng 2,8% GDP và phát hành trái phiếu chính phủ đặc biệt cấp trung ương và địa phương tương đương khoảng 2,6% GDP.  

Do gián đoạn kinh tế dưới tác động của đại dịch, tăng trưởng của Trung Quốc được dự báo giảm mạnh, từ 6,1% năm 2019 xuống còn 1% vào năm 2020, tốc độ tăng trưởng thấp nhất trong hơn bốn thập kỷ qua. GDP dự kiến sẽ tăng lên 6,9% trong năm 2021, phản ánh nhu cầu toàn cầu phục hồi. Dự báo của WB và các tổ chức khác về tăng trưởng của Trung Quốc theo biểu dưới đây.

Biểu 5. Dự báo tăng trưởng của Trung Quốc

                                                                                                                                                                       Đơn vị tính: %

STT

Tổ chức

2019

2020

2021

1

Ngân hàng Thế giới

6,1

1,0

6,9

2

Quỹ Tiền tệ Quốc tế

6,1

1,2

9,2

3

Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế10

6,1

(-3,7; -2,6)

(4,5; 6,8)

4

Liên hợp quốc

6,1

1,7

7,6

5

Ngân hàng Phát triển Châu Á

6,1

1,8

7,4

Nguồn: WB, IMF, OECD, UN và ADB

5. Đông Nam Á

Theo Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB)11, cuộc chiến toàn cầu chống COVID-19 khiến Đông Nam Á trải qua sự suy giảm lớn về tiêu dùng, đầu tư và thương mại. Tăng trưởng của các nền kinh tế trong khu vực đều giảm do tác động của những biện pháp hạn chế bùng phát dịch của các chính phủ. Các nền kinh tế có độ mở lớn như Ma-lai-xi-a, Xin-ga-po, Thái Lan và Việt Nam đều bị ảnh hưởng bởi suy giảm thương mại và nhu cầu toàn cầu. Ngoài ra, lượng du khách đến các quốc gia trong khu vực giảm mạnh trước các yêu cầu nghiêm ngặt về hạn chế đi lại và kiểm dịch, đã bóp nghẹt các ngành dịch vụ hàng không, khách sạn và bán lẻ. Đến nay, hầu hết các quốc gia trong khu vực đã bắt đầu nới lỏng các hạn chế, nhưng niềm tin của người tiêu dùng yếu có thể cản trở kinh tế phục hồi. Hơn nữa, nhu cầu bên ngoài vẫn sẽ yếu trong suốt những tháng còn lại của năm 2020 do suy thoái kinh tế toàn cầu.

Dưới đây là dự báo tăng trưởng của một số quốc gia Đông Nam Á của Ngân hàng Phát triển châu Á và Ngân hàng Thế giới.

Biểu 6. Tăng trưởng GDP của một số quốc gia Đông Nam Á

                                                                                                                                                                     Đơn vị tính: %

STT

Quốc gia

2019

2020

2021

ADB

WB

ADB

WB

ADB

WB

1

Bru-nây

3,9

 

1,4

 

3,0

 

2

Cam-pu-chia

7,1

7,1

-5,5

-1,0

5,9

6,0

3

In-đô-nê-xi-a

5,0

5,0

-1,0

0,0

5,3

4,8

4

Lào

5,0

4,7

-0,5

1,0

4,5

4,6

5

Ma-lai-xi-a

4,3

4,3

-0,4

-3,1

6,5

6,9

6

Mi-an-na

6,8

6,3

1,8

1,5

6,0

6,0

7

Phi-li-pin

6,0

6,0

-3,8

-1,9

6,5

6,2

8

Thái Lan

2,4

2,4

-6,5

-5,0

3,5

4,1

9

Xin-ga-po

0,7

 

-6,0

 

3,2

 

Nguồn: ADB và WB

6. Việt Nam

Dự báo của Ngân hàng Thế giới

Trong bản tin cập nhật tình hình kinh tế vĩ mô Việt Nam tháng 6 năm 2020, WB đã đưa ra những nhận định tích cực và lạc quan về tình hình kinh tế vĩ mô của Việt Nam nhưng cũng lưu ý đến khả năng tác động đến lạm phát do nới lỏng tiền tệ và bội chi tăng cao do thu từ thuế chưa hoàn thành chỉ tiêu.

WB ghi nhận kinh tế Việt Nam bắt đầu khởi sắc trở lại sau khi dỡ bỏ các biện pháp giãn cách toàn xã hội. Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 5 bật tăng 11% so với tháng 4, nhưng vẫn thấp hơn khoảng 3% so với cùng kỳ năm trước.

Mặc dù kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam tăng khoảng 5% trong tháng 5 so với tháng 4, nhưng vẫn thấp hơn 5,5% với cùng kỳ năm trước, do sức cầu bên ngoài yếu đi và có thể do một số gián đoạn trong các chuỗi cung ứng toàn cầu.

Doanh số bán lẻ cũng phục hồi mạnh vào tháng 5. Vận tải hành khách và hàng hóa lần lượt tăng 116% và 32% trong tháng 5 so với tháng 4, nhờ các biện pháp hạn chế đi lại trong nước được từng bước nới lỏng từ ngày 23/4.

Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tiếp tục đổ vào Việt Nam trong tháng 5 nhưng với tốc độ chậm hơn so với báo cáo tháng 4. Trong năm tháng đầu năm 2020, tổng giá trị FDI cam kết đạt 13,9 tỷ USD, vẫn ở mức cao nhưng thấp hơn 17% so với cùng kỳ năm trước.

Dù vậy, theo WB nền kinh tế vẫn chưa hồi phục hoàn toàn, các hoạt động kinh tế vẫn ở mức thấp hơn nhiều so với thời kỳ trước COVID- 19. Trong đó, khu vực doanh nghiệp nước ngoài bắt đầu bị ảnh hưởng do sức cầu trên toàn cầu yếu đi.

Trong khi đó, Chính phủ tiếp tục sử dụng các chính sách tài khóa và tiền tệ để bù đắp cho tác động tài chính của khủng hoảng vi-rút SARS CoV-2, dẫn đến tín dụng ngân hàng trong nước tăng trưởng cao và thu ngân sách sụt giảm nghiêm trọng.

Quỹ Tiền tệ Quốc tế

Theo IMF12, tăng trưởng của Việt Nam trong năm 2020 chỉ có thể đạt mức 2,7% do ảnh hưởng của dịch COVID-19 nhưng sẽ tăng lên 7% năm 2021. Các biện pháp nghiêm ngặt của Chính phủ để ngăn chặn vi-rút, cộng với suy thoái kinh tế toàn cầu và nhu cầu nội địa yếu khiến tăng trưởng kinh tế trong năm 2020 chậm hơn so với trung bình 7% trong năm 2018 và 2019. Một số ngành bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi COVID-19, đặc biệt là ngành du lịch, vận tải và lưu trú. Tuy nhiên, IMF cho rằng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam sẽ khởi sắc lên 7% trong năm 2021 nhờ chính sách nới lỏng tài chính và tiền tệ, kinh tế vĩ mô tương đối mạnh của Việt Nam, cũng như sự phục hồi dần nhu cầu ngoài nước.

Ngân hàng Phát triển châu Á

Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong quý I năm 2020 chỉ đạt 3,8% so với cùng kỳ năm trước nhưng tăng trở lại trong tháng 5 sau khi dỡ bỏ giãn cách xã hội giữa tháng 4 năm 2020. Khu vực nông nghiệp tăng trưởng chậm do nhu cầu nước ngoài đối với hàng hóa nông nghiệp xuất khẩu thấp cũng như tác động của hạn hán kéo dài. Tăng trưởng dịch vụ đã giảm một nửa từ mức 6,5% trong quý I năm 2019 xuống còn 3,2% so với cùng kỳ năm 2020. Du lịch nội địa tăng trưởng mạnh trong tháng 5 không đủ để bù đắp cho sự sụt giảm 98% khách du lịch quốc tế so với cùng kỳ tháng 5 năm 2019. Thặng dư thương mại từ tháng 1 đến tháng 5 giảm đáng kể do nhu cầu giảm tại các thị trường xuất khẩu chính. Tăng trưởng trong lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ được dự báo sẽ tiếp tục giảm trong năm 2020 do nhu cầu bên ngoài giảm mạnh. Mặc dù tiêu dùng trong nước đã tăng trở lại trong tháng 5 nhưng vẫn yếu vì thu nhập của công ty và cá nhân đã giảm. Suy giảm kinh tế toàn cầu được xem là rào cản chính cho tăng trưởng của Việt Nam. Do đó, ADB dự báo tăng trưởng năm 2020 của Việt nam chỉ đạt 4,1% và sẽ tăng lên 6,8% trong năm 2021.

Biểu 7. Dự báo của các tổ chức quốc tế về tăng trưởng của Việt Nam

                                                                                                                                                                      Đơn vị tính: %

STT

Tổ chức

2019

2020

2021

1

Ngân hàng Thế giới

7,0

2,8

6,8

2

Quỹ Tiền tệ Quốc tế

7,0

2,7

7,0

3

Ngân hàng Phát triển châu Á

7,0

4,1

6,8

Nguồn: WB, IMF và ADB

Biểu 8. So sánh dự báo tăng trưởng GDP quý II năm 2020 

với cùng kỳ năm trước của một số quốc gia

                                                                                                                                                                     Đơn vị tính: %

STT

Quốc gia

QII/2019

Dự báo QII/2020

So sánh Dự báo QII/2020 với QII/2019

1

Ca-na-đa

2,0

-4,0

-6,0

2

Hoa Kỳ

2,3

-16,5

-18,8

3

VQ Anh

1,3

-23,0

-24,3

4

Đức

0,3

-11,4

-11,7

5

Pháp

1,8

-16,8

-18,6

6

I-ta-li-a

0,4

-18,0

-18,4

7

Tây Ban Nha

2,0

-17,0

-19,0

8

Trung Quốc

6,2

-4,0

-10,2

9

Ấn Độ

5,2

1,0

-4,2

10

Nhật Bản

0,9

-6,0

-6,9

11

Hàn Quốc

2,1

-1,7

-3,8

12

Ô-xtrây-li-a

1,6

-7,5

-9,1

13

In-đô-nê-xi-a

5,1

-4,8

-9,9

14

Thái Lan

2,4

-2,8

-5,2

15

Ma-lai-xi-a

4,8

-9,7

-14,5

16

Xin-ga-po

0,2

-6,9

-7,1

17

Bru-nây

6,6

2,5

-4,1

18

Phi-li-pin

5,5

0,7

-4,8

Nguồn số liệu: Trading economics, cập nhật ngày 22/6/2020

 

 

1 Báo cáo Triển vọng Kinh tế toàn cầu, tháng 6/2020

 

2 Báo cáo Viễn cảnh kinh tế toàn cầu, tháng 4/2020

 

3 Báo cáo sơ bộ Triển vọng kinh tế OECD, tháng 6 năm 2020

 

4 Báo cáo Tình hình và triển vọng kinh tế thế giới giữa năm 2020

 

5 Số liệu năm 2020 và 2021 dựa trên hai kịch bản

 

6 Thước đo thương mại dịch vụ WTO ngày 11/3/2020 và Thước đo thương mại hàng hóa WTO ngày 20/5/2020

 

7 Số liệu năm 2020 và 2021 dựa trên hai kịch bản

 

8 Số liệu năm 2020 và 2021 dựa trên hai kịch bản

 

9

 

10 Số liệu năm 2020 và 2021 dựa trên hai kịch bản

 

11 Báo cáo bổ sung Triển vọng phát triển châu Á, tháng 6/2020

 

12 https://www.reuters.com/article/us-vietnam-economy-growth/vietnams-growth-to-slow-to-2-7-this-year-but-rise-to-7-in-2021-imf-idUSKBN22N0D2

Tác giả bài viết: Vụ Thống kê Nước ngoài và Hợp tác quốc tế - TCTK

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 5 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây